B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
-------------------
THIU HUY THUT
BồI DƯỡNG Kỹ NĂNG DạY HọC CHO GIảNG VIÊN
CáC CƠ Sở ĐàO TạO, BồI DƯỡNG CáN Bộ, CÔNG CHứC
THEO TIếP CậN DạY HọC VI MÔ
CHUYấN NGNH: L LUN V LCH S GIO DC
M S: 62.14.01.02
TểM TT LUN N TIN S KHOA HC GIO DC
H NI - 2016
LUẬN ÁN ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI:
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Phó Đức Hòa
2. PGS.TS. Ngô Quang Sơn
Phản biện 1: PGS.TS Đặng Quốc Bảo
Học viện Quản lí giáo dục
Phản biện 2: PGS.TS Ngô Thành Can
Học viện Hành chính Quốc gia
Phản biện 3: PGS.TS Từ Đức Văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, ổn định quốc phòng an ninh và duy trì sự phát triển
của xã hội. Vì vậy, năng lực, trình độ và KNDH của giảng viên là một trong những yếu
tố vô cùng quan trọng quyết định đến chất lượng, hiệu quả công tác ĐTBD cán bộ,
công chức, viên chức. Vì vậy vấn đề bồi dưỡng KNDH cho giảng viên cần phải được
triển khai thường xuyên, lâu dài và có hiệu quả.
1.2. Một thực tế hiện nay là giảng viên các cơ sở ĐTBD cán bộ, công chức phần
nào bị hạn chế về phương pháp sư phạm và cũng ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả của
các tiết học này. Mặt khác, việc bồi dưỡng KNDH cho giảng viên ở đó vẫn còn chưa
được quan tâm một cách đúng mức. Cách đánh giá, dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm
cũng như khâu tổ chức vẫn chưa thay đổi có tính đột phá đem lại hiệu quả trong quá
trình bồi dưỡng KNDH cho giảng viên. Bên cạnh đó các điều kiện về trang thiết bị, cơ
sở vật chất còn hạn chế cũng đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng bồi dưỡng
KNDH cho giảng viên các cơ sở ĐTBD.
1.3. Dạy học vi mô với tư cách là một hình thức dạy học mới với rất nhiều ưu thế
trong việc bồi dưỡng KNDH cho giảng viên đã được một số nước phát triển áp dụng,
triển khai và bước đầu đã đem lại hiệu quả thiết thực. Với các bước triển khai theo một
trình tự logic, chặt chẽ dạy học vi mô đem đem lại hiệu quả cho việc bồi dưỡng KNDH
cho giảng viên thông qua các phương tiện, thiết bị truyền thông hiện đại như projector,
camera, đầu video, ti vi,... làm cho quá trình bồi dưỡng KNDH cho giảng viên thêm
phong phú và hiệu quả.
Chính vì thế đề tài: “Bồi dưỡng KNDH cho giảng viên các cơ sở ĐTBD cán bộ,
công chức theo tiếp cận dạy học vi mô” góp phần giải quyết những tồn tại trong giáo
dục, đào tạo nói chung và trong việc bồi dưỡng KNDH cho giảng viên các cơ sở ĐTBD
cán bộ, công chức nói riêng.
2. Mục đích nghiên cứu
đề xuất và thực nghiệm quy trình bồi
dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
theo tiếp cận dạy học vi mô nhằm bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng dạy học cho giảng viên
các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức góp phần nâng cao chất lượng đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước
học viên của Trường ĐTBD cán bộ, công chức Bộ Nội vụ, Trường chính trị Nguyễn
Văn Linh (Hưng Yên); Trường cán bộ quản lý khoa học và công nghệ (Bộ Khoa học và
công nghệ).
7. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu
Luận án được nghiên cứu theo quan điểm hệ thống cấu trúc và quan điểm thực tiễn
của quá trình nghiên cứu luận án. Tiếp cận quy trình dạy học vi mô trong bồi dưỡng
KNDH cho giảng viên không dừng lại ở lý luận hay trong điều kiện thực nghiệm mà
phải có tính khả thi trong thực tiễn ĐTBD.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Các phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
8. Những luận điểm bảo vệ
(1) Do đối tượng đào tạo, bồi dưỡng của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng hết sức đa
dạng và mang tính đặc thù, bởi vậy kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chỉ có
hiệu quả khi giảng viên ở các cơ sở này có được những kỹ năng dạy học nói chung và
kỹ năng dạy học phù hợp. (2) Bồi dưỡng KNDH cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức nói chung thường diễn ra theo nhiều cách tiếp cận nhưng bồi
dưỡng KNDH cho giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBCC muốn có hiệu quả
phải được thực hiện theo tiếp cận dạy học vi mô. (3) Bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho
giảng viên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thực hiện theo tiếp cận dạy
3
học vi mô với quy trình dạy học vi mô phù hợp với đối tượng và xác lập được các điều
kiện cũng như biện pháp thực hiện quy trình.
9. Đóng góp của luận án
(1) Về lý luận: Luận án đã hệ thống hoá, làm rõ, bổ sung và phát triển lý luận của
KNDH, của dạy học vi mô và đặc biệt lý luận về bồi dưỡng KNDH cho giảng viên các
trước đây một trong những phương pháp truyền thống để bồi
dưỡng KNDH cho người giáo viên, giảng viên nói chung là cho họ dự một số giờ giảng
của những giáo viên giỏi, thông qua đó người giáo viên có được KNDH cần thiết. Như
vậy có thể nói rằng phương pháp đào tạo này không đem lại hiệu quả bồi dưỡng
KNDH. Năm 1996 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mang mã số 94 – 37 – 46: “Định
4
hướng đổi mới phương pháp đào tạo giáo viên, do Nguyễn Hữu Dũng là chủ nhiệm đã
đề cập đến vấn đề về hệ thống kỹ năng cần có của người giáo viên, đổi mới quy trình
đào tạo giáo viên nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Năm 2004, luận án tiến
KNDH
hóa các KNDH, đặc biệt là các kỹ năng mới, đồng thời đưa ra và hoàn thiện hệ thống các
biện pháp rèn luyện KNDH theo yêu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở
các trường sư phạm.
Nhìn chung những công trình nghiên cứu nói trên đã chỉ ra được một một số vấn
đề tương đối cơ bản về KNDH và bồi dưỡng KNDH cho sinh viên ngành sư phạm, giáo
viên nói chung và giảng viên nói riêng. Việc bồi dưỡng KNDH cho giảng viên các cơ
sở ĐTBD CBCC là một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay và cần phải được tổ
chức theo một quy trình chặt chẽ và hiệu quả. Những vấn đề nghiên cứu của các tác giả
trên đây tạo nền tảng, tiền đề cho nghiên cứu sau này của chúng tôi.
1.1.2. Những nghiên cứu về bồi dưỡng KNDH cho GV theo tiếp cận dạy học vi mô
Năm 1960 tại trường đại học Stanford: Dwight Allen, Ryan, cùng Acheson,
Bush, Clark, Coooper, Fortune và các đồng nghiệp của ông ở đó đ
KNDH
Hai nhà khoa học Allen và Ryan đã đặt giả thuyết cho rằng tiếp cận tổng quát (một tiết
học, một lớp học, một đối tượng phức tạp,...) có thể thay thế bằng nhiều tiết giảng ngắn
(5 - 10 phút) cho một nhóm đối tượng (6 - 12 học viên) sẽ kích thích năng khiếu mà
ở một góc độ nhỏ, hẹp. Còn vấn đề mang tính lý luận và có tầm vĩ mô thì chưa được
nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và có tính khoa học cao. Qua tổng quan các đề tài, các
công trình nghiên cứu có liên quan trước đây, chúng tôi thấy rằng hầu hết các tác giả đều
đã đặt vấn đề và chú trọng đến việc bồi dưỡng KNDH cho giảng viên. Song các nghiên
cứu trước đây cũng cho thấy trong việc bồi dưỡng các KNDH còn có nhiều vấn đề cụ thể
chưa được giải quyết. Tuy vậy, nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã cung
cấp nhiều kinh nghiệm quí báu về bồi dưỡng KNDH. Những kết quả nghiên cứu này
được coi là cơ sở khoa học cho việc thực hiện đề tài của luận án.
Vận dụng dạy học vi mô vào quá trình bồi dưỡng KNDH cho giảng viên là một
giải pháp hoàn toàn mới ở Việt Nam nói chung cũng như đối với các cơ sở ĐTBD cán
bộ, công chức nói riêng. Dạy học vi mô nếu được nghiên cứu và triển khai một cách
rộng rãi sẽ đem lại hiệu quả cao trong bồi dưỡng KNDH cho giảng viên các cơ sở
ĐTBD, giúp họ có đầy đủ năng lực cần thiết để dạy học có hiệu quả. Sử dụng quy trình
dạy học vi mô để bồi dưỡng KNDH cho giảng viên là một vấn đề cần phải được nghiên
cứu và làm sáng tỏ để bồi dưỡng KNDH cho giảng viên các cơ sở ĐTBD góp phần
nâng cao KNDH cho giảng viên và nâng cao chất lượng ĐTBD đội ngũ cán bộ, công
chức đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Kỹ năng và KNDH
1.2.1.1. Kỹ năng
Trong Lý luận dạy học, kỹ năng thường được quan niệm là khả năng của con
người thực hiện có hiệu quả hành động tương ứng với các mục đích và điều kiện trong
đó hành động xảy ra. Kỹ năng bao giờ cũng có tính khái quát và được sử dụng trong
những tình huống khác nhau. Theo đó, kỹ năng có thể được hiểu như sau: Kỹ năng là
hành động của con người thực hiện một cách có hiệu quả một công việc nào đó để đạt
được mục đích đã xác định bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức hành động
phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và phương tiện nhất định.
Như vậy, chúng tôi tiếp cận kỹ năng nghiêng về năng lực của con người để thực
hiện các công việc có kết quả trong đó bao hàm cả quan niệm kỹ năng là kỹ thuật hành
động. Muốn có kỹ năng, trước hết phải có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết về nội
(1) Quá trình dạy học được chia nhỏ thành những đơn vị dạy học (các bài học
ngắn) và tổ chức trong các nhóm học tập mà người dạy có thể quan sát được; đo, đếm
được thông qua việc ghi hình; (2) Người dạy được thực hiện lại bài học sạu khi đánh
giá, rút kinh nghiệm lần thực hiện đầu; (3) Dạy học vi mô cho phép tổ chức hoạt động
rèn luyện, bồi dưỡng làm cho giảng viên chủ động rèn luyện, bồi dưỡng và điều chỉnh
các KNDH. Đồng thời giảng viên có thể tự điều chỉnh lại cả về mục tiêu giảng dạy và
lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp; (4) Thiết bị dạy học giúp giảng viên thực sự
tự đánh giá kết quả và quá trình giảng dạy một cách khách quan nhất, sự phối hợp giữa
cá thể và nhóm thông qua các phương tiện.
1.2.3.4. Quy trình dạy học vi mô
a) Khái niệm về quy trình
Theo Từ điển Hán-Việt: quy (“trù tính”) + trình (“đường đi, cách thức”). => Quy
trình: Chương trình đã được quy định. Theo cách tiếp cận khác: Quy = Quy định; Trình
= Trình tự. Vậy có thể hiểu: Quy trình là một loạt những quy định, hướng dẫn khá chi
tiết giúp chúng ta thực hiện một việc gì đó theo một trình tự thống nhất.
b) Mô tả quy trình dạy học vi mô tổng thể
Tiết học cơ sở.
bài học
vi mô
thử
nghiệm
+
(1)
ghi hình
hồi tiếp
thông tin
phân tích
n thực tập x
sinh
x
n năng khiếu
cần đạt được
Hình 1.1. Mô tả quy trình dạy học vi mô tổng thể
(x.t: Apprentissage, Flanders, formation, pdagogie, các tài liệu dịch của dự án: kỹ
thuật dạy học vimô)
c) Quy trình dạy học vi mô
Dạy học vi mô gồm 5 bước cơ bản: giảng dạy (Teach), đánh giá (Feedback), soạn
lại giáo án (Replan), giảng dạy lại (Reteach) và đánh giá lại (Refeedback).
dạy học
vi mô
8
giảng dạy (Teach)
1
đánh giá lại
(Refeedback)
giảng dạy lại
(Reteach)
ĐTBD cán bộ, công chức, viên chức giữ vai trò bổ trợ, tăng cường kiến thức, kỹ
năng để người công chức có đủ năng lực đáp ứng hoạt động quản lý, điều hành. Đào
tạo và bồi dưỡng là hai khái niệm phản ánh cùng một mục tiêu là truyền kiến thức cho
người người học giúp học nâng cao và cập nhật thêm kiến thức mới trong việc thực thi
nhiệm vụ.
viên và sẽ trang bị cho giảng viên có được KNDH cần thiết giúp giảng viên tự tin hơn,
linh hoạt, chủ động hơn trong quá trình dạy học, giảng dạy trên lớp nhằm đưa việc
ĐTBD cán bộ, công chức ngày càng hiệu quả và nâng cao hơn về chất lượng.
1.3.2. Hệ thống KNDH cơ bản
(1.3.2.1) Kỹ năng xây dựng hệ thống ngữ liệu cho bài giảng (2) Kỹ năng lập GRAPH;
(3) Kỹ năng xây dựng hệ thống bài tập; (4) Kỹ năng phát vấn (đặt câu hỏi); (5) Kỹ
năng tổ chức hoạt động ngoại khoá; (6) Kỹ năng tổ chức tình huống vấn đề; (7) Kỹ
năng thiết kế bài học
1.3.3. Hệ thống KNDH của giảng viên
(1) Kỹ năng mở đầu bài giảng; (2) Kỹ năng định hướng của giảng viên; (3) Kỹ năng
điều khiển của giảng viên; (4) Kỹ năng quan sát của giảng viên; (5) Kỹ năng lắng nghe
9
của giảng viên; (6) Kỹ năng trình bày của giảng viên; (7) Kỹ năng đặt câu hỏi của
giảng viên; (8) Kỹ năng giao bài tập tình huống; (9) Kỹ năng xử lý tình huống giảng
dạy; (10) Kỹ năng phản hồi của giảng viên; (11) Kỹ năng sử dụng phương tiện dạy
học; (12) Kỹ năng kết thúc bài giảng.
1.3.4. Hệ thống KNDH cần bồi dưỡng cho giảng viên các cơ sở ĐTBD CBCC
Đối với các cơ sở ĐTBD thì việc bồi dưỡng kỹ năng dạy hoc tập trung bồi dưỡng
các KNDH sau: (1) Kỹ năng mở đầu bài giảng; (2) Kỹ năng điều khiển của người
giảng viên; (3) Kỹ năng thuyết trình của giảng viên; (4) Kỹ năng quan sát của giảng
viên; (5) Kỹ năng giao tiếp sư phạm; (6) Kỹ năng lựa chọn và sử dụng các phương
pháp và kỹ thuật dạy học; (7) Kỹ năng sử dụng các phương tiện dạy học; (8) Kỹ năng
đặt câu hỏi; (9) Kỹ năng lắng nghe; (10) Kỹ năng kết thúc bài giảng
10
của các trường ĐTBD là ĐTBD kiến thức, kỹ năng và phương pháp làm việc cho đội ngũ
cán bộ,công chức, viên chức nhà nước.
2.1.2. Đặc thù của loại hình trường đào tạo, bồi dưỡng
Các trường đào tạo, bồi dưỡng chỉ thực hiện hoạt động bồi dưỡng hoặc chủ yếu
thực hiện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Đối tượng đào tạo, bồi dưỡng hoặc chỉ có
người lớn hoặc chủ yếu là người lớn thuộc khu vực Nhà nước (cán bộ, công chức, viên
chức). Giảng viên đào tạo, bồi dưỡng ngoài những tiêu chuẩn được quy định như giảng
viên trong hệ thống giáo dục quốc dân thì tiêu chuẩn về năng lực thực tiễn và KNDH là
vô cùng quan trọng
2.1.3. Đội ngũ giảng viên các trường ĐTBD
2.1.3.1. Đội ngũ giảng viên và phát triển đội ngũ giảng viên
Khi nói đến đội ngũ giảng viên, ta phải hiểu và xem xét trên quan điểm toàn diện
và hệ thống. Đó không phải là một tập hợp rời rạc, mà các thành tố trong đó có mối
quan hệ lẫn nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế, quy ước nhất định nào đó. Nếu xem
xét trên phương diện nguồn nhân lực thì đội ngũ giảng viên chính là nguồn nhân lực
chất lượng cao, nguồn nhân lực đặc biệt của giáo dục đại học;
Bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giảng viên là giải pháp của những nhà quản lý
nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ
cấu, là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển toàn diện của
các trường, là một quá trình hoàn thiện hoặc thay đổi liên tục thực trạng đã và đang tồn
tại của đội ngũ nhằm giúp cho đội ngũ lớn mạnh về mọi mặt hướng tới mục tiêu có một
đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, có cơ cấu hợp lý hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ.
2.1.3.2. Bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giảng viên trường ĐTBD
Giảng viên trường ĐTBD là người giảng dạy trong các trường ĐTBD bao gồm:
Giảng viên cơ hữu của trường và giảng viên thỉnh giảng (nhà quản lý, nhà khoa học,
nhà giáo, công chức, viên chức Nhà nước, người nước ngoài có chuyên môn sâu, có
của Nhà nước (là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam), (2) Phải có kiến thức quản lý Nhà
nước và kiến thức quản lý chuyên ngành Nội vụ (3) Có phương pháp giảng dạy và kiến
thức tâm lý phù hợp với đối tượng người lớn; (4) Có kiến thức, kỹ năng chuyên môn sâu
thuộc các lĩnh vực quản lý Nhà nước của Bộ, ngành, địa phương. Đây là những căn cứ hết
sức quan trọng để xây dựng tiêu chuẩn năng lực giảng dạy của giảng viên tại các cơ sở
ĐTBD, để ĐTBD đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có bản lĩnh, có chuyên môn,
nghiệp vụ trong thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu trong gia đoạn hiện nay.
2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng
2.2.1. Mục đích nghiên cứu thực trạng
- Nhằm điều tra, phân tích làm rõ về thực trạng KNDH, bồi dưỡng KNDH và thực
trạng tiếp cận dạy học vi mô trong bồi dưỡng dưỡng KNDH cho giảng viên các cơ sở
ĐTBD cán bộ, công chức.
- Trên cơ sở đó đề xuất các bước tiến hành bồi dưỡng KNDH cho giảng viên các cơ
sở ĐTBD cán bộ, công chức theo tiếp cận dạy học vi mô.
2.2.2. Đối tượng nghiên cứu thực trạng.
Tiến hành nghiên cứu, điều tra đối với các giảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý
và học viên của các cơ sở ĐTBD cán bộ, công chức của các Bộ, ngành và các tỉnh
thành phố trên cả nước.
2.2.3. Nội dung điều tra nghiên cứu thực trạng
(1) Thực trạng KNDH của giảng viên các cơ sở ĐTBD; (2) Thực trạng bồi dưỡng
KNDH cho giảng viên các cơ sở ĐTBD; (3) Thực trạng bồi dưỡng KNDH cho giảng
viên các cơ sở ĐTBD theo tiếp cận dạy học vi mô;
2.2.4. Phương pháp nghiên cứu thực trạng
Sử dụng phiếu điều tra (các mẫu phiếu điều tra xin xem cụ thể ở phần phụ lục
1;2;3;4) và phỏng vấn trực tiếp các giảng viên tại hệ thống các cơ sở ĐTBD cán bộ,
công chức như đã nêu trong phần đối tượng nghiên cứu thực tiễn. Kết quả nghiên cứu
thực trạng sẽ là cơ sở khoa học cho việc tổ chức bồi dưỡng KNDH cho đội ngũ giảng
viên các cơ sở ĐTBD cán bộ, công chức theo tiếp cận dạy học vi mô nhằm nâng bồi
dưỡng và nâng cao KNDH cho giảng viên.
bộ, công chức hiện nay rất hạn chế (đúng, đủ: 11,55%; Đúng, chưa đủ: 53,79%; Chưa
đúng: 34,66%), việc sử dụng dạy học vi mô nhằm bồi dưỡng KNDH cho đội ngũ giảng
viên chưa được áp dụng trong đơn vị, tổ chức của họ để bồi dưỡng KNDH cho giảng
viên. Việc thông qua dạy học vi mô để bồi dưỡng KNDH cho giảng viên trong các cở sở
ĐTBD cán bộ, công chức này mới chỉ có một số rất ít các cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ,
công chức áp dụng, tuy nhiên quá trình áp dụng của họ cũng chưa được tiến hành một cách
đầy đủ, đúng quy trình. Từ kết quả điều tra, khảo sát trên dễ dàng nhận thấy rằng việc
triển khai áp dụng dạy học vi mô trong các cở sở ĐTBD cán bộ, công chức để bồi
dưỡng KNDH cho đội ngũ giảng viên, nâng cao chất lượng ĐTBD cán bộ, công chức
hiện nay là thực sự cần thiết và hoàn toàn khả thi .
Trong quá trình tổ chức khảo sát thực trạng chúng tôi đã điều tra bằng phổng vấn về
các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bồi dưỡng KNDH cho giảng viên để thấy được sự ảnh
hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan trong quá trình bồi dưỡng KNDH cho giảng
viên. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình bồi dưỡng kỹ năng dạy học theo tiếp cận
13
dạy học vi mô như: yếu tố nhà trường (chưa chú ý đúng mức tới bồi dưỡng kỹ năng dạy
học cho giảng viên; sự phân bố thời gian bồi dưỡng kỹ năng dạy học chưa hợp lý; điều
kiện cơ sở vật chất chưa đầy đủ; chưa có một quy trình hợp lý để tổ chức bồi dưỡng
KNDH; các hoạt động bồi dưỡng KNDH chưa được thường xuyên, ….
Kết luận chƣơng 2
Tại các cơ sở ĐTBD cán bộ, công chức của Việt Nam, tuy hằng năm vẫn tổ chức
tiến hành dự giờ để đánh giá KNDH của giảng viên nhưng chưa mang lại kết quả với
việc bồi dưỡng KNDH cho đội ngũ giảng viên. Từ kết quả điều tra, khảo sát trên dễ
dàng nhận thấy rằng việc triển khai tiếp cận dạy học vi mô trong các cở sở ĐTBD cán
bộ, công chức để bồi dưỡng KNDH cho đội ngũ giảng viên, nâng cao chất lượng
ĐTBD cán bộ, công chức hiện nay là thực sự cần thiết và hoàn toàn khả thi.
CHƢƠNG 3
THỰC NGHIỆM QUY TRÌNH BỒI DƢỠNG KNDH CHO GIẢNG VIÊN
14
chức cho giảng viên tiếp cận và nắm bắt cách thức thực hiện bồi dưỡng KNDH theo tiếp
cận dạy học vi mô; (c) Tổ chức cho giảng viên nắm bắt các nội dung và cách thức đánh
giá KNDH của giảng viên; (d) Xây dựng phương thức nhận xét, đánh giá trong bồi
dưỡng KNDH theo tiếp cận dạy học vi mô; (e) Tổ chức cho giảng viên tiến hành bồi
dưỡng KNDH theo tiếp cận dạy học vi mô: Bước 1: Giảng viên dạy nội dung bài học;
Bước 2. Tổ chức đánh giá nhận xét tiết dạy học mà giảng viên đã thực hiện; Bước 3.
Giảng viên soạn lại giáo án theo hướng mà các đồng nghiệp đã góp ý; Bước 4: Tiến
hành bài dạy lại; Bước 5: Tổ chức đánh giá lại.
3.2. Thực nghiệm quy trình bồi dƣỡng KNDH cho giảng viên các cơ sở ĐTBD cán
bộ công chức theo tiếp cận dạy học vi mô
3.2.1. Chuẩn bị thực nghiệm
3.2.1.1. Lựa chọn cơ sở thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành thực nghiệm tại ba cơ sở ĐTBD cán bộ, công chức là trường
ĐTBD
các cơ sở
ĐTBD
ĐTBD
.
3.2.1.2. Chọn lớp và chương trình thực nghiệm
Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi quyết định lựa chọn chương trình làm thực
nghiệm ở các nội dung như sau: (1) Thực nghiệm thăm dò: chương trình bồi dưỡng
ngạch cán sự, ngạch chuyên viên và ngạch chuyên viên chính; (2) Thực nghiệm tác
động: Chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên; (3) Thực nghiệm ứng dụng: chương
trình bồi ngạch chuyên viên và ngạch chuyên viên chính. Chúng tôi lựa chọn các
chương trình bồi dưỡng ngạch cán sự, ngạch chuyên viên và chuyên viên chính để làm
thực nghiệm xuất phát từ những lý do được nêu trong phụ lục …
3.2.1.3. Thang đánh giá kỹ năng dạy học của giảng viên trong thực nghiệm
Chúng tôi sử dụng thang đánh giá KNDH của giảng viên dựa trên các tiêu chí
đánh giá cụ thể của 10 KNDH mà chúng tôi đã xây dựng ở Chương 1. Đây là cơ sở để
Tuy nhiên, giáo viên giảng dạy lại không nhận thấy được sự xuất hiện của hệ thống các
kỹ năng mà vẫn tổ chức dạy học theo kinh nghiệm là chủ yếu.
Kết quả này giúp chúng tôi có cơ sở và thêm vững tin để tiến hành các bước thực
nghiệm tiếp theo của luận án.
3.2.3.2. Thực nghiệm tác động
Sau một thời gian tiến hành khảo sát thăm dò, dự giờ một số giờ giảng của các GV ở
các cơ sở ĐTBD, chúng tôi có cơ sở để xây dựng và tiến hành thực nghiệm tác động. Thực
nghiệm tác động được thực hiện trên một số chuyên đề của chương trình bồi dưỡng ngạch
chuyên viên tại Trường ĐTBD CBCC. Thực nghiệm tác động có lớp thực nghiệm và lớp
đối chứng. Cuối đợt thực nghiệm hai lớp sẽ khảo sát đánh giá trong cùng một điều kiện. Sự
so sánh kết quả khảo sát của hai đối tượng sẽ cho những nhận xét về tính khả thi của việc áp
dụng bồi dưỡng kỹ năng dạy học cho giảng viên theo tiếp cận dạy học vi mô.
Quá trình tiến hành TN tác động của luận án được thể hiện thông qua các bước như sau:
a) Khảo sát, kiểm tra đầu vào.
Trước khi tiến hành tác động, chúng tôi triển khai khảo sát đầu vào ở 02 tiết giảng
ở 02 lớp (TN và ĐC), 02 lớp này có số lượng học viên và chương trình bối dưỡng tương
đương nhau. Kết quả thu được sẽ được lập bảng, phân tích và so sánh.
Nhận xét hai nhóm đối tƣợng đầu vào:
Tổng hợp kết quả khảo sát đầu vào ở cả 02 tiết chúng tôi thấy rằng: Ở cả hai nhóm
TN và ĐC tỷ lệ đánh giá kết quả khảo sát các KNDH là tương đối đồng đều không có sự
khác biệt nhiều ở cả 4 loại: Giỏi, Khá, Trung bình và Yếu. Điều này thuận lợi cho chúng
tôi tiến hành thực nghiệm tác động lên đối tượng là giảng viên của lớp thực nghiệm bằng
dạy học vi mô nhằm bồi dưỡng nâng cao KNDH cho giảng viên.
b) Thiết kế giáo án
Giáo án là sự thể hiện của ý tưởng sử dụng KNDH và phương pháp giảng dạy
của người giảng viên, hơn nữa, nó lại là phải lột tả được rõ nét các KNDH của giảng
viên thể hiện trên lớp, vì thế, nó cần phải được đi sâu phân tích, lựa chọn nội dung dạy
học và quy trình tiến hành phù hợp. Việc thiết kế giáo án cũng tuân thủ nghiêm ngặt
chương trình, phù hợp với đặc thù của lớp học trong chương trình ĐTBD và phải đảm
bảo yêu cầu của tiết dạy, đạt được kết quả mong muốn.
Tiến hành dạy lại; Bước 5. Tổ chức đánh giá lại.
e) Kết quả thực nghiệm tác động
* Kết quả định lượng.
- Kết quả đánh giá với Tiết 1.
Bảng 3.9. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá tiết 1 của hai nhóm TN và ĐC
Tiết trung bình
Tiết khá
Tiết giỏi
Tổng
Số lượng
Tỷ lệ %
Số lượng
Tỷ lệ %
Số lượng
Tỷ lệ %
Số lượng
Tỷ lệ %
Thực nghiệm
0
0.00%
29
96.67%
1
3.33%
30
100.00%
0.00%
30
96.78%
1
3.22%
30
100.00%
Đối chứng
0
0.00%
30
100%
0
0.00%
30
100.00%
Nhận xét hai nhóm đối tƣợng đầu ra:
Dựa trên kết quả tổng hợp kết quả đánh giá của lớp TN và lớp ĐC, sau khi tiến
hành phân tích, bước đầu chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: (1) Sau thời gian
tiến hành TN, kết quả đánh giá giờ dạy ở lớp TN cao hơn, có những tiến bộ rõ rệt hơn
so với lớp ĐC và so với chính bản thân lớp thực nghiệm; (2) Đường tần suất của lớp
TN nằm bên phải so với lớp ĐC, chứng tỏ số lượng giờ dạy đạt điểm cao của lớp TN
nhiều hơn so với lớp ĐC; (3) Các đường tần suất hội tụ tiến của các lớp TN luôn nằm
phía trên bên phải so với lớp ĐC cũng chứng tỏ rằng, số lượng giờ dạy đạt điểm cao
của lớp TN nhiều hơn so với lớp ĐC; (4) Khẳng định việc vận dụng quy trình dạy học
vi mô trong bồi dưỡng KNDH cho giảng viên bước đầu là có khả thi và đã góp phần
nâng cao chất lượng ĐTBD.
* Kết quả định tính.
Thực nghiệm_ Tổng
Số lượng
Số lượng
Số lượng
Tỷ lệ %
Tỷ lệ %
Tỷ lệ %
Trường I
16
33.33%
17
33.33%
33
33.33%
Trường II
100.00%
51
100.00%
99
100.00%
- Kết quả đánh giá với Tiết 1 (chương trình chuyên viên)
Hình 3.11. Đường biểu diễn lũy tích điểm của lớp TN đầu vào và đầu ra
Bảng 3.18 .Bảng xếp loại tiết 1 của lớp thực nghiệm đầu vào và đầu ra
Tiết trung bình
Tiết khá
Tiết giỏi
Tổng
Nhóm thực nghiệm đầu vào
Số lượng
Tỷ lệ %
18
37.50%
27
56.25%
3
6.25%
48
cao. Như vậy điểm trung bình đạt được của nhóm thực nghiệm ở giai đoạn đầu ra cao hơn
hẳn so với điểm của nhóm ở giai đoạn đầu vào, sự thay đổi về kết quả kiểm tra của nhóm
có ý nghĩa thông kê và độ tin cậy cao.
Nhận xét nhóm đối tƣợng thực nghiệm qua kết quả đầu vào và đầu ra:
Dựa trên kết quả tổng hợp kết quả đánh giá của qua trình TN, sau khi tiến hành
phân tích, bước đầu chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: (1) Sau thời gian tiến hành
thực nghiệm, kết quả đánh giá giờ dạy (đầu ra) ở lớp TN cao hơn, có những tiến bộ rõ rệt hơn
so với đầu vào; (2) Đường tần suất của đầu ra nằm bên phải so với đầu vào, chứng tỏ số
lượng giờ dạy đạt điểm cao của đầu ra nhiều hơn so với đầu vào; (3) Các đường tần
suất hội tụ tiến của đầu ra luôn nằm phía trên bên phải so với đầu vào cũng chứng tỏ
rằng, số lượng giờ dạy đạt điểm cao của đầu ra nhiều hơn so với đầu vào.
- Kết quả đánh giá với Tiết 2 (chương trình chuyên viên chính).
Từ các số liệu tổng hợp ở bảng 3.22, chúng tôi xây dựng được các biểu đồ biểu
diễn tần suất và đường tần suất lũy tích của đầu ra và đầu vào như sau:
Hình 3.15. Đường biểu diễn lũy tích điểm của lớp TN đầu vào và đầu ra
20
đầu vào và đầu ra
Tiết trung bình
Tiết khá
Tiết giỏi
Tổng
Nhóm thực nghiệm đầu vào
Nhóm thực nghiệm đầu ra
Số lượng
Tỷ lệ %
nhiều hơn so với đầu vào.
21
- Tổng hợp kết kết quả học tập của học viên.
Hình 3.22. Tỷ lệ phần trăm đạt điểm của học viên qua bài kiểm tra lần 1 và lần 2
của 3 trường thực nghiệm
Hình 3.23. Đường biểu diễn lũy tích điểm của học viên qua bài kiểm tra lần 1 và lần 2
của 3 trường thực nghiệm
Giá trị quy mô ảnh hưởng cho biết những tác động của nghiên cứu có ảnh hưởng
đến mức độ nào.
ES ( SMD) =
X TN X DC
x100% = 0,90
S DC
- Đánh giá giá trị quy mô ảnh hưởng, ta sử dụng bảng Hopkins
Bảng 3.29. Bảng đánh giá giá trị quy mô ảnh hưởng
Giá trị mức độ ảnh hƣởng (ES)
Ảnh hƣởng
Trên 1,00
Rất lớn
0,80 đến 1,00
khả thi và đã góp phần nâng cao chất lượng dạy học các chương trình ĐTBD tại các cơ
sở ĐTBD CBCC nói riêng và quá trình giáo dục, đào tạo nói chung.
b) Kết quả phân tích định tính
Sau khi tiến hành thực nghiệm ngoài kết quả phân tích định tính như đã nêu ở trên
chúng tôi nhận thấy sự tiến bộ trong thái độ và tính tích cực, hứng thú tham gia vào các
hoạt động bồi dưỡng KNDH của các giảng viên có sự tăng lên rõ rệt. Về tính độc lập
cũng như kỹ năng làm việc nhóm của giảng viên trong các hoạt động cá nhân/hoạt động
nhóm cũng có sự biến chuyển. Bên cạnh đó khả năng quan sát và nhận xét (đánh giá tiết
dạy) khả năng sáng tạo của giảng viên của giảng viên đều tăng lên và có sự biểu hiện rõ
rệt. Đồng thời, sau khi tiến hành thực nghiệm, qua trò chuyện, các giảng viên nhóm thực
nghiệm cho biết, họ cảm thấy rất tự tin vào khả năng của bản thân mình. Khi được bồi
dưỡng KNDH theo tiếp cận dạy học vi mô, giảng viên có được sự tiến bộ đáng kể về khả
năng phân tích và tổng hợp, đặc biệt là hình thành một cách vững chắc KNDH, giúp
giảng viên cảm thấy tự tin hơn trong giảng dạy. Khi tổ chức cho hai nhóm giảng viên
trao đổi sau thực nghiệm, giảng viên nhóm đối chứng cũng rất mong muốn được tham
gia vào quá trình bồi dưỡng kỹ năng dạy học theo tiếp cận dạy học vi mô như nhóm TN.
Kết luận chƣơng 3
Trên đây là những kết quả chúng tôi thu được sau khi tiến hành thực nghiệm sư
phạm. Như vậy, việc bồi dưỡng KNDH cho giảng viên các cơ sở ĐTBD theo tiếp cận dạy
học vi mô đã thực sự đem lại hiệu quả dạy học. Thành công của đề tài trước hết được thể
hiện ở sự định lượng các con số, các bảng điểm, ở sự xếp loại và phân loại giờ giảng của
giảng viên. Đồng thời, nó còn biểu hiện ở sự thay đổi thái độ, hứng thú, khả năng làm việc
độc lập,... của giảng viên theo chiều hướng tích cực hơn. Sự thay đổi này được nhìn nhận
và tổng kết bởi chính bản thân giảng viên và kinh nghiệm của các giảng viên tham gia thực
nghiệm. Kết quả thực nghiệm cho thấy: (1) Dạy học vi mô là tối ưu nhất để bồi dưỡng
KNDH cho giảng viên. (2) Bồi dưỡng KNDH cho giảng viên theo tiếp cận dạy học vi mô
theo đúng quy trình sẽ giúp phát huy tính tích cực, chủ động, tính độc lập và sáng tạo của
giảng viên nhằm củng cố vững chắc KNDH.