BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
THỰC TRẠNG BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
(Khảo sát báo điện tử baocantho.com.vn, baoangiang.com.vn,
baovinhlong.com.vn, baodongthap.com.vn từ năm 2003 đến 2010)
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số
: 60.32.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
Cần Thơ - 2015
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là do tôi viết. Những
dữ liệu sử dụng trong luận văn có cơ sở và trung thực. Nội
dung trong luận văn chưa được công bố trong bất cứ công
trình nào khác.
Tác giả luận văn
4
tôn chỉ, mục đích phù hợp trang báo in, đồng thời, quảng bá thương hiệu, mở
rộng vùng “phủ sóng” cho mình.
Tuy nhiên, một thực tế đặt ra hiện nay là, bên cạnh một số ít các trang
báo mạng phát triển mạnh thì phần đa các trang báo mạng địa phương của các
cơ quan báo đảng đang chậm phát triển.
Các trang BMĐT thuộc các tỉnh khu vực ĐBSCL phát triển không
đồng đều, chưa kể một số cơ quan vẫn chưa thành lập được trang mạng điện
tử cho báo mình. Mặc dù vậy, cho đến thời điểm này vẫn chưa có công trình
khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về các trang BMĐT địa
phương nói chung và BMĐT ĐBSCL nói riêng.
Mặt khác, báo Kiên Giang là một trong một số trang báo còn lại của
khu vực ĐBSCL chưa thành lập được trang báo điện tử cho riêng mình, mặc
dù, Kiên Giang là nơi có nhiều danh thắng, khu di tích, lịch sử cần được
quảng bá.
Với những thực trạng và nhu cầu cấp thiết trên, tác giả chọn “Thực
trạng BMĐT ĐBSCL” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
Hy vọng, các khảo sát và phân tích thực tiễn từ luận văn được ứng dụng một
cách hiệu quả vào các hoạt động thực tiễn ở các trang BMĐT địa phương, đặc
biệt là ở các tỉnh ĐBSCL.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước khi BMĐT Việt Nam ra đời, trên thế giới đã có nhiều công trình
lớn nghiên cứu về nó. Trong đó, nổi lên một số công trình nghiên cứu lớn,
tiếp cận báo mạng với các góc độ khác nhau như:
- Developing Online Content: The Principles of Writing and Editing
for the Wed của Irene Hammerich, Claire Harrison
Do những hạn chế nhất định về ngoại ngữ nên rất ít người nghiên cứu
cùng tác giả Nguyễn Thị Thoa; “Đặc điểm công chúng của độc giả báo
Internet Việt Nam” của tác giả Hà Thu Hương, đề tài “Thực trạng và triển
vọng kinh doanh báo chí ở Việt Nam” của Nguyễn Thu Hương, hay đề tài “
Thực trạng và giải pháp xử lý thông tin trong tòa soạn BMĐT Việt Nam hiện
6
nay” của tác giả Trần Hồng Vân, “Hoạt động tương tác trên BMĐT” (Trần
Quang Huy), “Phát thanh trên báo Internet” (Nguyễn Sơn Minh)…
Do vậy, theo góc độ giới hạn khảo sát của mình, cho đến nay, tác giả
vẫn chưa tìm thấy công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống
về thực trạng hoạt động của BMĐT địa phương nói chung và BMĐT ĐBSCL
nói riêng.
Từ những lý do trên, tác giả cho rằng đề tài “BMĐT ĐBSCL” là đề tài
chưa bị trùng lặp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Nghiên cứu thực trạng BMĐT ở ĐBSCL nhằm đề ra những giải pháp
về tổ chức, mở rộng mạng lưới BMĐT và nâng cao chất lượng các sản phẩm,
hiệu quả các trang BMĐT khu vực này
Nhiệm vụ:
-Tìm hiểu những vấn đề lý luận về BMĐT, những văn bản luật và dưới
luật, các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước có liên quan
đến loại hình báo chí này
- Cập nhật những thông tin, qui định, cơ chế, chính sách có liên quan
đến hoạt động Báo mạng ở các tỉnh ĐBSCL
-Khảo sát thực trạng hoạt động của BMĐT ĐBSCL
-Phỏng vấn sâu những người trực tiếp quản lý, những người tham gia
làm nên các sản phẩm báo mạng của các tỉnh ĐBSCL
với các vùng, luận văn có thể rút ra những đặc điểm riêng của BMĐT ĐBSCL.
- Về thực tiễn: Luận văn có tính ứng dụng nâng cao chất lượng các sản
phẩm báo mạng cho BMĐT ĐBSCL và thúc đẩy việc mở rộng các trang
BMĐT ĐBSCL.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung chính luận văn gồm 3 chương, 13 tiết.
8
Chương 1
BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN BÁO MẠNG
ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Khái niệm Báo mạng điện tử
Từ khi máy tính được ứng dụng vào đời sống, mọi việc của con người
diễn ra một cách tiện ích và hiệu quả hơn trước đó. Bởi vậy, trong quyển sách
“Nhà quản trị trong thời đại thông tin” (nhóm biên dịch Thanh Hoa) đã đánh
giá rất cao tầm ảnh hưởng của máy tính:
“Ngày nay tôi không thể quyết định nếu không có máy vi tính.
Công việc thường ngày của tôi đều dựa vào máy vi tính. Đối với
tôi, việc quản lý không có máy vi tính cũng giống như một bác sĩ
khám bệnh mà không có ống nghe. Những chương trình phần mềm
trọn gói đã được thảo chương sẵn và rất gần gũi với người sử dụng
đã giúp tôi truy cập thông tin rất nhanh chóng, và do đó việc ra
quyết định dễ dàng hơn. Việc phụ thuộc vào cảm giác đã giảm một
cách đáng kể” [20, tr.122].
Chính Internet đã thể hiện xuất sắc vai trò của mình thông qua những
chiếc máy tính, những thiết bị có khả năng truy cập, kết nối trực tuyến. Dựa
vào ưu thế kết nối không biên giới của Internet, các nhà truyền thông đã cho
một số điều của Luật báo chí (Quốc hội khóa X thông qua ngày 12-6-1999) đã
đưa thêm báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) vào các
loại hình báo chí (Điều 3 luật báo chí 1989). Trong điều 1, chương 1 nghị
định 51/2002/NĐ-CP về Quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí giải thích “báo điện tử là tên gọi
loại hình báo chí thực hiện trên mạng thông tin máy tính (Internet, Intranet).
Điều 12 nghị định 55/2001/NĐ-CP về quản lý, cung cấp dịch vụ Internet có
ghi: “Dịch vụ thông tin trên Internet là một loại hình dịch vụ ứng dụng
10
Internet, bao gồm dịch vụ phát hành báo chí( báo in, báo hình, báo điện tử),
phát hành xuất bản trên Internet và dịch vụ cung cấp các loại hình điện tử
khác trên Internet”. Những thuật ngữ này nhấn mạnh đến việc các trang báo
được thực hiện bởi kỹ thuật điện tử. Và nếu dừng lại ở khái niệm này thì chúng
ta không thể lột tả được lợi thế của loại hình báo chí mới theo đúng tinh thần
của chỉ thị 52/CT-TW của Ban Bí thư về phát triển và quản lý báo điện tử nước
ta hiện nay : “Báo điện tử có tác dụng và tiện ích hơn hẳn các loại hình báo chí
truyền thống, dung lượng thông tin lớn, tương tác thông tin nhanh, phát hành
không bị trở ngại về không gian, thời gian, biên giới, quốc gia…”
+ Internet Newspaper (Báo Internet): được hiểu là trang báo sử dụng
công nghệ kỹ thuật mạng Internet để truyền tải thông tin. Thuật ngữ Báo
Internet được sử dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu khoa học, hội
thảo khoa học về vai trò của công nghệ thông tin đối với loại hình báo chí
mới. Còn theo tiến sĩ Thang Đức Thắng-Tổng Biên tập VnExpress- thì: “Gọi
tên loại hình báo chí thứ tư một cách chính xác nhất là Báo chí Internet”[38].
Theo những cách hiểu trên thì thuật ngữ này cho phép nắm bắt và hiểu
rõ về bản chất, đặc trưng của loại hình báo chí có sự hình thành và phát triển
gắn liền với Internet. Tuy nhiên, trên thực tế trên thực tế một trang báo phát
đặt tên cho một ngành đào tạo mới: BMĐT. Sở dĩ Học viện Báo chí và Tuyên
truyền chọn thuật ngữ này để gọi loại hình báo chí thứ tư, bởi nhiều lý do:
-Thứ nhất, tên gọi này khẳng định: loại hình báo chí thứ tư là con
đẻ của sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, hoạt động
được nhờ các kỹ thuật số tiên tiến, các máy tính nối mạng và các
server, các phần mềm ứng dụng.
- Thứ hai, tên gọi này cho phép hiểu một cách chuẩn xác về bản
chất, đặc trưng cơ bản của loại hình báo chí thứ tư: tính đa phương
tiện; tính tương tác cao; tính tức thời, phi định kỳ; khả năng truyền
tải thông tin không hạn chế; lưu giữ thông tin dưới dạng siêu văn
12
bản; khả năng siêu liên kết-các trang báo được tổ chức thành từng
lớp, có cơ chế nở ra với số trang không hạn chế…
- Thứ ba, tên gọi này chỉ rõ: người làm báo và người đọc báo phải
có trình độ kỹ thuật nhất định, có thể giao lưu với nhau trực tiếp
bằng nhiều hình thức: Email, chat, diễn đàn, thảo luận…
-Thứ tư, tên gọi là sự kết hợp các tên gọi có nội dung riêng biệt như:
báo, mạng, điện tử. Chính vì vậy, tên gọi này thỏa mãn được các yếu
tố: Việt hóa; đặc trưng của loại hình báo chí thứ tư; khắc phục được
sự thiếu về nghĩa, sự máy móc của từ ngoại lai. [42 tr.5-6]
Từ những viện dẫn trên, đồng thời BMĐT là một trong những chuyên
đề được qui định chính thức trong chương trình học của lớp Cao học báo chí
Khóa 15, nên chúng tôi chọn tên gọi này làm khái niệm chính thức để đi vào
nghiên cứu đề tài “Thực trạng BMĐT ĐBSCL”
1.1.2. Các quan niệm về Báo mạng điện tử
Trước khi BMĐT ở Việt Nam ra đời, trên thế giới đã xuất hiện nhiều
công trình nghiên cứu về loại hình báo chí thứ tư này. Mỗi một tác giả, nhóm
Đến nay, những tiêu chuẩn mà hai tác giả trên đưa ra vẫn còn đúng. Tuy
nhiên, đối với tiêu chuẩn 2,3 thì không còn phù hợp. Bởi tính chất của BMĐT là
tức thời, phi định kỳ, tin bài phải luôn cập nhật liên tục theo từng phút, giây chứ
không thể tính thể đơn vị ngày như trước đó. Mặt khác, hiện nay có rất nhiều
trang BMĐT không có bản in tương ứng vẫn hoạt động hiệu quả.
Năm 2001, tiến sĩ Mark Deuze- nghiên cứu về giảng dạy báo chí ở các
trường đại học của Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha- đã đưa ra định nghĩa tương đối
hoàn chỉnh về BMĐT: “BMĐT là hình thức báo chí kế tiếp thứ tư sau báo in,
báo nói, truyền hình nhưng lại có những đặc điểm khác hẳn so với các loại
hình báo chí truyền thống. BMĐT sử dụng yếu tố công nghệ cao như là một
nhân tố quyết định. Các phóng viên BMĐT phải lựa chọn phương tiện nào là
tốt nhất để đăng một câu chuyện (tính đa phương tiện), phải đặt ra một không
14
gian, một đường dẫn để tạo nên sự tương tác giữa tác phẩm và công chúng
(tính tương tác cao), phải kết nhắc đến kết nối, đồng thời mở rộng những câu
chuyện, đưa người đọc từ không gian này đến không gian khác (tính siêu văn
bản) [theo Mark Deuze. Online Journalism modelling the first generation of
news on the world wide web (Báo trực tuyến mô hình phương tiện thông tin
thế hệ thứ nhất trên mạng toàn cầu. Trường nghiên cứu hệ thống giao tiếp
Amsterdam, Hà Lan. Tháng 12/1998].
Khái niệm tiến sĩ Mark Deuze đưa ra khá đầy đủ về đặc trưng của
BMĐT ở các tính đa phương tiện, tính tương tác cao, tính siêu văn bản; khái
niệm này được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận nhưng hơi dài.
Trên “Conser Cataloging manual 2002” đưa ra khái niệm về BMĐT
sau: “Sự tiếp cận từ xa với một trang báo trên mạng điện tử thì được gọi là
BMĐT”. Khái niệm này tuy ngắn gọn nhưng không giúp người ta hiểu một
cách rõ ràng về thực chất BMĐT là gì?
báo chí- bổ sung thêm báo điện tử vào các loại hình báo chí.
Từ nhiều phân tích trên, tiến sĩ Nguyễn Thị Thoa nêu lên khái niệm về
BMĐT như sau:
BMĐT là hình thức báo chí thứ tư được sinh ra từ sự kết hợp những ưu
thế của báo in, báo nói, báo hình; sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân
tố quyết định; quy trình sản xuất và chuyển tải thông tin dựa trên nền tảng
mạng Internet toàn cầu. [42, tr.10]
Trong khi tác giả Nguyễn Thị Trường Giang đưa ra khái niệm sau:
“BMĐT là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức trang web và
phát hành trên mạng Internet [56].
Tóm lại, dù ở nhiều góc độ khác nhau nhưng nhìn chung các nhà khoa
học có điểm giống nhau: đều xem BMĐT là một loại hình báo chí mới, có
khả năng cung cấp thông tin sống động bằng chữ viết và âm thanh, hình ảnh,
chỉ trong vòng vài phút đến vài giây, với số trang không hạn chế.
16
Từ những cách hiểu trên chúng tôi có thể rút ra một khái niệm như sau:
BMĐT là loại hình báo chí ra đời dựa trên sự tích hợp những ưu thế
của các loại hình báo chí truyền thống; được xây dựng dựa trên kỹ thuật công
nghệ cao và phát hành trên mạng Internet; khu vực phủ sóng toàn cầu; công
chúng của loại hình báo chí này phải đáp ứng những yêu cầu nhất định về
trình độ kỹ thuật.
1.2. Đường lối, chính sách Đảng, Nhà nước liên quan đến Báo
mạng điện tử
Hồ Chí Minh hiểu rõ báo chỉ có thể phát huy tối đa vai trò của mình
nếu biết dùng pháp luật điều chỉnh đúng hướng. Cho nên, ngay sau khi đất
nước giành chính quyền, chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban bố Sắc lệnh lệnh số 41
ngày 19-3-1946 đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho nền báo chí Cách mạng Việt
nước về báo chí, khen thưởng và xử lý vi phạm.
Những Luật và văn bản quy phạm pháp quy trên đã góp phần quan
trọng trong việc điều chỉnh, định hướng hoạt động của các loại hình báo chí
truyền thống. Và ngay sau khi Internet xuất hiện, hàng loạt các văn bản khác
cũng lần lượt ra đời. Nghị định 21/CP ngày 5/3/1997 của Chính phủ về “Qui
chế tạm thời về quản lý, thiết lập, sử dụng mạng Internet ở Việt Nam”. Kế
tiếp là Quyết định 136/Ttg ngày 3-5-1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc
thành lập Ban điều phối quốc gia mạng Internet. Sau Nghị định này, các
ngành Bưu điện, Văn hóa, Bộ Nội vụ phối hợp ra Thông tư liên tịch số
8/TTLT tổng cục Bưu điện- Bộ Văn hóa-Thông tin-Bộ Nội vụ ngày 24-51997 “Hướng dẫn cấp phép việc kết nối cung cấp và sử dụng Internet ở Việt
Nam”. Ngày 21-5-1997, Bộ Văn hóa Thông tin ban hành Quyết định số
110BC về việc cấp giấy phép cung cấp thông tin lên mạng Internet gồm 4
chương, 8 điều.
Thông tin được đưa lên mạng, phát hành toàn cầu thì các yếu tố liên
quan đến nước ngoài cần được quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn. Vì thế, Nghị
18
định số 98-CP ngày 13-9-1997 của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động
báo chí Việt Nam liên quan đến nước ngoài. Cuối năm 1997, Thông tư liên bộ
số 97/TTLB-VHTT-NG của Bộ Văn hóa-Thông tin-Ngoại giao hướng dẫn thi
hành Quy chế hoạt động báo chí Việt Nam liên quan đến nước ngoài. Quyết
định số 1268/ VHTT- QĐ ngày 6-7-1998 của Bộ Văn hóa -Thông tin về chọn
đơn vị thực hiện đề án quản lý thông tin trên mạng Internet đặt tại Vụ Báo chí
gồm 3 điều… Những văn bản này ra đời mở ra hướng phát triển mới cho các
phương tiện truyền thông mở rộng tầm ảnh hưởng. Từ đây, các loại hình dịch vụ
kinh doanh, các tổ chức, cá nhân… có điều kiện quảng bá mình ra toàn thế giới.
Đây chính là cơ hội và cũng là tiền đề để BMĐT sau này phát triển thuận lợi.
Đánh dấu bước ngoặt sự công nhận loại hình báo chí thứ tư (BMĐT) là
Tháng 3 năm 2005, Bộ Văn hóa –Thông tin ra công văn số 456 về tiêu chuẩn
của một trang BMĐT được coi là hợp pháp, phải thỏa mãn những qui định chi
tiết trong điều 4, điều 5 của công văn.
Điều 4: Mọi thông tin của đơn vị cung cấp thông tin trên Internet,
trang tin điện tử nói trong Qui chế 27/2002/QĐ – BVHTT phải thực
hiện theo những qui định sau đây:
1. Nội dung thông tin không gây phương hại đến độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước CHXHCN Việt Nam, phá hoại
khối đại đoàn kết toàn dân.
2. Không được kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh xâm
lược gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, kích động
dâm ô, đồi trụy, tội ác.
3. Không được tiết lộ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, an ninh,
kinh tế đối ngoại và những bí mật khác do pháp luật nước
CHXHCN Việt Nam quy định.
4. Không được cung cấp thông tin trên Internet khi chưa có giấy
phép của bộ VHTT.
20
5. Không được cung cấp thông tin trái tôn chỉ, mục đích, phạm vi
thông tin đã được Bộ VHTT cấp phép.
Điều 5: Các nội dung ghi trên trang chủ, trang mặt của Đơn vị cung
cấp thông tin Internet, trang thông tin điện tử trên Internet.
1. Tên gọi của Đơn vị cung cấp thông tin, trang thông tin điện tử.
2. Tên cơ quan chủ quản (nếu có).
3. Tên giấy phép, ngày cấp, cơ quan cấp giấy phép.
4. Họ, tên người chịu trách nhiệm của Đơn vị cung cấp thông tin và
trang tin điện tử. [16]
trách nhiệm trình các Luật ấy lên Quốc hội. Quốc hội thảo luận và có quyền
thông qua. Các văn bản dưới Luật liên quan đến báo chí khác, như: Nghị
định, Quyết định sẽ do Chính phủ ban hành trên cơ sở kiến nghị của Bộ thông
tin và Truyền thông.
Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 33/2002/QĐ-Ttg phê duyệt
dự án phát triển Internet Việt Nam giai đoạn 2001-2005 đã đưa vị thế của
Internet lên một tầm cao mới, mà sức ảnh hưởng của nó chi phối mọi hoạt
động của đời sống con người. Cụ thể, điều 1 có ghi mục tiêu đối với Internet:
“Phát triển hạ tầng Internet thành môi trường ứng dụng thuận lợi cho các loại
hình dịch vụ điện tử về thương mại, hành chính, báo chí, bưu chính viễn
thông, tài chính, ngân hàng, giáo dục từ xa, y tế qua mạng…phục vụ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…”. Trong thời gian này, Bộ Văn hóaThông tin cũng ra một Quyết định số 28/2002/QĐ-BVHTT ngày 21-11-2002
ban hành Quy chế xuất bản bản tin, tài liệu, trang rơi; phát hành thông cáo
báo chí; đăng, phát bản tin trên màn hình điện tử của các cơ quan, tổ chức
nước ngoài, pháp nhân có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam. Khai thác tài
nguyên cũng phải tuân thủ đúng quy định, đó là nội dung của một quyết định
của Bộ Bưu chính-Viễn thông. Quyết định số 92/2003/QĐ-BBCVT ngày 265-2003 của Bộ trưởng Bộ Bưu chính-Viễn thông ban hành Quy định về quản
lý và sử dụng tài nguyên Internet.
22
Theo tinh thần của Nghị định 55 của Chính phủ là: phát triển đến đâu,
quản lý đến đó. Do vậy, khi các loại hình thông tin đến mạng và Internet được
xây dựng và phát triển, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan ban
hành hàng loạt các văn bản để tăng cường quản lý Internet và báo chí sử dụng
Internet làm nền tảng.
Liên quan đến việc bảo vệ bí mật quốc gia, bí mật nhà nước của báo chí
và Internet, đầu năm 2004, Bộ Công an đã có quyết định cụ thể về vấn đề này.
Quyết định số 71/2004/QĐ-BCA ngày 29-1-2004 của Bộ trưởng Bộ Công an
triển, quản lý báo điện tử và mạng Internet; nâng cao năng lực quản lý báo
điện tử của các cơ quan chủ quản báo chí, các cơ quản quản lý nhà nước từ
Trung ương đến địa phương.
Nghị định 97/2008/NĐ-CP ngày 28-8-2008 về quản lý, cung cấp, sử
dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet đã thay thế cho Nghị định
55/2001/NĐ-CP. Trong năm 2008, Bộ Thông tin và Truyền thông cũng ban
hành nhiều Quyết định, Thông tư liên quan đến Internet: Quyết định 37/200/QĐBTTTT ngày 13-6-2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử; Thông tư số
05/TT-BTTTT ngày 12-11-2008 hướng dẫn một số điều của Nghị định 97/2008/
NĐ-CP; Thông tư số 7/2002/TT-BTTTT ngày 18-12-2008 hướng dẫn một số
nội dung về hoạt động cung cấp thông tin trên trang thông tin điện tử cá nhân
trong Nghị định 97/2008/ NĐ-CP; Thông tư số 09/TT-BTTTT ngày 24-12-2008
hướng dẫn về quản lý và sử dụng tài nguyên Internet…
Từ các văn bản nêu trên có thể thấy, phần lớn nội dung các văn bản này
đều tập trung quy định quản lý nhà nước về Internet, trang tin, báo điện tử.
Trong khi, ngày nay, các trang mạng xã hội, trang tin cá nhân đang phát triển
rầm rộ, kết nối nhanh, khó kiểm soát, như: Blogs, Facebook, các hình thức
Online trực tuyến… nhưng chưa có văn bản, luật định có hình thức quản lý
hoặc xử phạt khi vi phạm.
24
1.3. Báo mạng điện tử ở Việt Nam
Tạp chí Quê Hương Online ra đời năm 1997 đã đánh dấu mốc quan
trọng cho sự nở rộ của các trang BMĐT tiếp theo. Kể từ đó, hàng loạt các
trang báo in có tên tuổi cho ra đời phiên bản của mình trên Internet, đáng kể
nhất là sự xuất hiện các trang BMĐT độc lập VnExpress, Vietnamnet,
Vnmedia. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, cộng thêm nhu cầu
hội nhập quốc tế, ở Việt Nam, cứ năm sau cao hơn năm trước, các trang
Vnmedia, Tuổi trẻ online, Tiền Phong Online, Sài Gòn Giải Phóng Online,
Lao động điện tử, Nhân Dân điện Tử, Dân Trí điện tử….
Bên cạnh những trang BMĐT nêu trên, từ năm 2001 về sau, báo Đảng
trong cả nước cũng cho ra đời các phiên bản của mình trên Internet. Điều này
tạo nên một làng báo mạng đa sắc màu, phong phú đem đến nhiều sự lựa chọn
cho độc giả trên khắp mọi miền của cả nước. Một đặc thù làng báo ở Việt
Nam là hàng ngày các trang báo lớn như: Nhân Dân, Tuổi Trẻ, Thanh Niên…
đều thông tin các sự kiện nổi bật trong nước. Tuy nhiên, nếu một độc giả xa
xứ muốn tìm hiểu những thông tin tỉ mỉ về Cần Thơ hoặc một tỉnh lẻ nào khác
thì lựa chọn đầy đủ nhất vẫn là Báo Cần Thơ điện tử hoặc báo đảng online
của tỉnh đó. Và câu hỏi đặt ra là: Nên xem các trang website của các bảo
Đảng là BMĐT hay trang web thông tin?
Trong đề tài khoa học cấp cơ sở trọng điểm 2007 “Tổ chức và quản lý
BMĐT ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thoa có nêu ra sự khác biệt giữa
các web thông tin và BMĐT. [42, tr.19-21]
BMĐT
Là một tổ chức chính tị xã hội
Trang web thông tin
Của tổ chức xã hội, công ty,
nhất định, độc lập trên mạng
đơn vị kinh tế, cá nhân
Là hoạt động chính trị (có
Quảng bá cho tổ chức, cá
nhiệm vụ chính trị, phục vụ công tác nhân, sản phẩm, vì mục đích kinh tế
tư tưởng, phục vụ lợi ích quốc gia, là chủ yếu
dân tộc, nhân dân theo luật báo chí