PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết, khi bước vào thế kỷ XXI nền kinh tế thế giới
không còn bị bó hẹp trong khuôn khổ ở cấp quốc gia mà có xu hướng toàn
cầu hóa một cách rõ rệt, nó không chỉ dừng lại ở việc phát triển kinh tế theo
chiều rộng như trước đây mà còn phát triển theo chiều sâu một cách mạnh mẽ.
Với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đã góp phần tạo ra
một lượng sản phẩm dồi dào với những tính năng và giá trị sử dụng cao hơn
rất nhiều so với trước đây. Với những nguyên nhân trên, đã đẩy nền kinh tế
bước vào thời kỳ cạnh tranh, không chỉ trong phạm vi quốc gia mà cả trên
phạm vi toàn cầu. Do đó, để tồn tại và phát triển trong nền kinh tế hiện đại đòi
hỏi các doanh nghiệp phải có một chính sách và chiến lược phát triển phù hợp
trong sản xuất cũng như trong kinh doanh.
Đối với nền kinh tế trong nước, xu hướng mà các doanh nghiệp hiện
nay đang quan tâm chính là việc phân phối sản phẩm đầu ra sao cho mang lại
hiệu quả kinh tế một cách cao nhất. Hay nói cách khác, là làm sao tạo ra sự
khác biệt hóa trong cách phân phối sản phẩm với việc lấy khách hàng là trọng
tâm. Để làm được việc đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng được một
hệ thống kênh phân phối chặt chẽ, linh hoạt và thích nghi tốt với điều kiện
cạnh tranh khốc liệt trên thị trường. Việc thiết kế một hệ thống kênh phân
phối như vậy quả là không hề đơn giản, nó được xem như là một bài toán khó
cho các nhà kinh doanh.
Thời gian gần đây, do điều kiện thời tiết ngày một thất thường do đó
trong sản xuất Nông nghiệp của nước ta đang có xu hướng giảm dần tỷ trọng
của ngành trồng trọt và tăng dần tỷ trọng cho ngành chăn nuôi. Bên cạnh đó,
1
việc chăn nuôi cũng dần bỏ qua các phương thức chăn nuôi truyền thống để
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kênh phân phối thuốc thú y của Công
ty Cổ phần Thú Y Xanh Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đề xuất các giải
pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống kênh phân phối trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ thống kênh phân phối sản phẩm thuốc
thú y.
Phân tích và đánh giá thực trạng hệ thống kênh phân phối sản phẩm
thuốc thú y của công ty.
Đưa ra một số đề xuất giúp công ty khắc phục những khó khăn và thách
thức đồng thời tận dụng tốt điểm mạnh và cơ hội của công ty, qua đó hoàn
thiện hệ thống kênh phân phối sản phẩm thuốc thú y của công ty nhằm nâng
cao thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ trên khắp cả nước.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Tình hình sản xuất và kinh doanh thuốc thú y của công ty
trong thời gian qua như thế nào?
Những thuận lợi và khó khăn trong công tác tiêu thụ thuốc
thú y thông qua các kênh phân phối tới người tiêu dùng của công ty ra sao?
Những giải pháp chủ yếu nào để hoàn thiện kênh phân
phối sản phẩm thuốc thú y của công ty?
nhiều khái niệm phân phối đã được nêu ra ở nhiều góc độ khác nhau. Nhưng khái
niệm về phân phối dưới đây vẫn được nhiều người dùng hơn cả.
Phân phối là hoạt động có liên quan đến việc tổ chức và điều hành vận
chuyển hàng hóa, dịch vụ từ nhà sản xuất đến với người tiêu dùng cuối cùng nhằm
đạt được mục tiêu kinh doanh trên cơ sở tối đa hóa hiệu quả các nguồn lực. Phân
phối còn là quá trình hoạt động cùng với thời gian và không gian, từ khi kết thúc
quá trình sản xuất đến khi khách hàng được sở hữu và tiêu dùng hàng hóa. (Quản
trị kênh phân phối – Trần Ngọc Trang)
2.1.1.2 Khái niệm kênh phân phối, hệ thống kênh phân phối
Khái niệm về kênh phân phối
Có rất nhiều khái niệm về kênh phân phối được đưa ra ở nhiều khía cạnh
khác nhau tùy vào quan điểm của người sử dụng nhưng khái quát lại những khái
niệm chủ yếu sau:
- Stern LW & El-Ansary AI -1992 “Kênh phân phối là tập hợp các công
ty và cá nhân có tư cách tham gia vào quá trình lưu chuyển sản phẩm hoặc
dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng”.
- Theo giáo trình marketing căn bản: kênh phân phối là một tập hợp các
5
công ty hay cá nhân tự gánh vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó
quyền sở hữu đối với một hàng hoá cụ thể hay dịch vụ trên con đường từ nhà
sản xuất đến người tiêu dùng.
- Theo quan điểm của nhà sản xuất: kênh phân phối là tập hợp các
doanh nghiệp và cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau mà qua đó doanh
nghiệp sản xuất thực hiện bán sản phẩm cho người sử dụng hoặc người tiêu
dùng cuối cùng.
- Theo quan điểm của nhà trung gian: kênh phân phối là dòng chảy của
việc chuyển nhượng quyền sở hữu hàng hóa hay dịch vụ qua các cấp trung
mỗi thành viên tham gia thị trường.
- Theo quan điểm marketing, “thị trường bao gồm tất cả những khách
hàng tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả
năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó”. Theo quan
điểm này chìa khoá để đạt được mục tiêu trong kinh doanh là doanh nghiệp
phải xác định nhu cầu và mong muốn của thị trường mục tiêu, từ đó tìm cách
thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó bằng nhiều phương thức ưu thế hơn đối
thủ cạnh tranh.
Khái niệm về sản phẩm
Khi nói về sản phẩm, nhiều người quy nó về một hình thức tồn tại
vật chất cụ thể, với đầy đủ các tính chất cơ lý hoá tính của nó. Vì vậy sản
phẩm phải là cái gì đó có thể quan sát, cân, đong, đo, đếm được và được
trao đổi trên thị trường.
Tuy nhiên, nếu quan niệm sản phẩm chỉ bao hàm những thành phần
hoặc yếu tố quan sát được thì chưa đủ. Theo quan niệm marketing: “sản phẩm
là những yếu tố có thể thoả mãn nhu cầu mong muốn được đưa ra chào bán
trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm và sử dụng của người
tiêu dùng”. Theo quan niệm này sản phẩm bao hàm cả sản phẩm hữu hình và
7
vô hình bao hàm cả yếu tố vật chất và phi vật chất.
Các sản phẩm hàng hoá được xác định bằng các đơn vị sản phẩm hàng
hoá. Đơn vị sản phẩm hàng hoá được xác định là một chỉnh thể riêng biệt được
đặc trưng bằng kích thước, giá cả, hình thức bên ngoài và các đặc tính khác.
Mỗi sản phẩm được cấu thành bởi nhiều yếu tố, quy định cấp độ của sản
phẩm. Có ba cấp độ cấu thành sản phẩm: sản phẩm theo lý tưởng, sản phẩm
hiện thực và sản phẩm bổ sung.
2.1.2 Chức năng, vai trò của kênh phân phối
- Hoàn thiện hàng hóa: làm cho các hàng hóa đáp ứng được những yêu
cầu của người mua, nghĩa là thực hiện một phần công việc của nhà sản xuất.
- Tài trợ: cơ chế tài chính trợ giúp cho các thành viên kênh trong thanh toán.
- Chia sẻ rủi ro: trong khi phân phối sản phẩm có thể có những rủi ro
liên quan đến quá trình phân phối, các thành viên trong kênh cùng nhau chia
sẻ khi có rủi ro. Để kênh phân phối hoạt động có năng suất và hiệu quả cao
hơn, cần phân chia một cách hợp lý chức năng này cho mỗi thành viên trong
kênh. Nguyên tắc để phân chia các chức năng là chuyên môn hóa và phân
công lao động cho mỗi thành viên trong kênh.
2.1.2.2 Vai trò của kênh phân phối
Các doanh nghiệp đang thấy rằng để cạnh tranh tốt hơn đối thủ, không
những phải cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt hơn đối thủ, mà còn phải làm
tốt hơn khả năng sẵn sàng cung cấp chúng ở đâu, khi nào và như thế nào mà
người tiêu dùng muốn có chúng, chỉ có qua các kênh phân phối thì khả năng
này mới được thực hiện.
Các trung gian tiêu thụ sản phẩm hiệu quả hơn nhờ tối thiểu hóa số lần
tiếp xúc bán hàng cần thiết.
9
Nhà SX
KH
Nhà SX
Nhà SX
KH
khách hàng như thế nào là hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống kênh phân phối.
Hệ thống kênh phân phối ảnh hưởng rất lớn khả năng phát triển và mở
rộng thị trường của doanh nghiệp: khi sản phẩm của doanh nghiệp có thể đạt
được tất cả những nơi có nhu cầu, kể cả những nơi chưa có nhu cầu để khơi
gợi nhu cầu của người tiêu dùng thì thị trường của doanh nghiệp sẽ rất lớn.
Hệ thống kênh phân phối giúp cho doanh nghiệp thể hiện sự hiện diện
của mình trên thị trường, không những giúp doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm
mà còn hỗ trợ đắc lực trong việc tạo lập uy tín cho doanh nghiệp. Hiểu được
tầm quan trọng đó của hệ thống kênh phân phối nên các doanh nghiệp phải
không ngừng hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hệ thống kênh phân phối, không
ngừng tìm tòi nghiên cứu để đưa ra những chính sách phù hợp với mục tiêu
mà doanh nghiệp đề ra trong từng thời kỳ.
10
2.1.3 Cấu trúc kênh và các loại kênh phân phối
2.1.3.1 Cấu trúc kênh phân phối
Cấu trúc kênh được hiểu là việc thiết lập một tổ chức các thành viên
của kênh nhằm thực hiện các chức năng phân phối được phân bổ cho họ. Các
cấu trúc kênh khác nhau có cách phân chia các công việc phân phối cho các
thành viên khác nhau.
Có ba yếu tố cơ bản phản ánh cấu trúc kênh: chiều dài kênh, chiều rộng
kênh và các loại trung gian.
- Chiều dài kênh: nó được xác định bởi số cấp độ trung gian có mặt trong
kênh. Khi số cấp độ trung gian trong kênh tăng lên, kênh được xem như tăng
lên về chiều dài. Kênh theo chiều dài bao gồm từ kênh phân phối trực tiếp đến
kênh phân phối có nhiều cấp độ trung gian.
- Chiều rộng kênh: nó biểu hiện ở số lượng các trung gian thương mại ở
mỗi cấp độ của kênh. Số lượng thành viên kênh ở mỗi cấp độ trung gian trong
người tiêu dùng.
- Kênh phân phối hỗn hợp: đây là kênh phân phối mà trong đó nhà sản
xuất sử dụng cả hai hình thức phân phối sản phẩm trực tiếp đến tay người sử
dụng và qua trung gian. Trong hình thức tổ chức kênh phân phối này nhà sản
xuất khai thác được thế mạnh khi bán hàng trực tiếp cho người sử dụng cũng
như lợi thế của các nhà trung gian.
Theo tiêu thức độ dài kênh:
- Kênh phân phối dài: đây là hình thức phân phối có sự tham gia của
nhiều nhà trung gian. Trong đó hàng hóa trước khi tới tay người tiêu dùng
phải qua nhiều nhà trung gian, từ các nhà buôn lớn tới nhà buôn nhỏ rồi tới
các nhà bán lẻ.
- Kênh phân phối ngắn: đây là hình thức phân phối hàng hóa trực tiếp từ
nhà sản xuất đến người sử dụng không qua trung gian hoặc có nhưng không
qua nhiều nhà trung gian. Thông thường kênh ngắn xác định trong trường hợp
chỉ có một nhà trung gian tham gia phân phối sản phẩm và đó có thể là nhà
bán buôn hoặc bán lẻ.
Theo tính chất sản phẩm của kênh:
12
- Kênh phân phối hàng tiêu dùng
- Kênh phân phối hàng công nghiệp
Do tính chất đặc thù của sản phẩm, kênh phân phối sản phẩm công
nghiệp thường ngắn hơn các kênh phân phối sản phẩm tiêu dùng, bởi vì số
Nhà
bán sỉ
Nhà
bán lẻ
Người
tiêu dùng
Nhà
bán sỉ
Nhà
bán lẻ
Người
tiêu dùng
Nhà
bán sỉ
Nhà
bán lẻ
Người
tiêu dùng
Nhà
bán sỉ
Dòng thanh toán
Nhà SX
Dòng thông tin
Nhà SX
DN vận tải
Dòng xúc tiến
Nhà SX
Đại lý quảng cáo
Sơ đồ 2.2 : Các dòng chảy trong kênh phân phối
14
2.1.4.2 Các hình thức tổ chức kênh phân phối
Khi nói đến hình thức tổ chức của kênh phân phối nghĩa là chúng ta đang
nói đến mức độ liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viêc kênh. Trên
thực tế có hai hình thức tổ chức được phân chia theo mức độ từ ít nhất đến nhiều
nhất sự thừa nhận tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên kênh đó là: các
kênh truyền thống và các hệ thống phân phối liên kết theo chiều dọc.
Các kênh phân phối
Các kênh truyền
thống
thống dễ bị phá vỡ nếu một thành viên nào đó rút lui khỏi kênh khi họ không
còn thấy hấp dẫn nữa. Vì vậy, kênh này thiếu sự lãnh đạo tập trung, hoạt động
kém và thường gây ra nhiều xung đột như: xung đột giữa những nhà bán buôn
cùng một mặt hàng với nhau do định giá khác nhau, hoặc bán hàng ngoài khu
vực đã phân chia, xung đột giữa người sản xuất và người bán buôn về định giá.
- Kênh phân phối liên kết dọc (Vertical Marketing Sytems – VMS): đây
là những kênh đã được tổ chức, thiết kế theo những tính toán từ trước để đảm
bảo sự rằng buộc về quyền lợi và trách nhiệm giữa các thành viên trong kênh
với nhau. Mục tiêu của từng thành viên được đặt trong mục tiêu chung của cả
hệ thống. Nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ hoạt động một cách thống
nhất, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mọi thành viên trong kênh đều được
hưởng ưu đãi trong buôn bán, vì vậy giữa các thành viên trong kênh được
phân công nhiệm vụ một cách hợp lý, thích hợp, đảm bảo đem lại hiệu quả tốt
nhất cho cả hệ thống. Trong hệ thống liên kết dọc, quá trình đàm phán diễn ra
một cách dễ dàng bởi lợi ích của từng thành viên được đặt trong lợi ích của
toàn hệ thống.
Có 3 loại hình liên kết dọc là kênh liên kết dọc được quản lý, kênh liên
kết dọc tập đoàn và kênh liên kết dọc hợp đồng.
+ VMS có quản lý (Administered VMS)
Trong hệ thống này các nhà phân phối không có hợp đồng ràng buộc
hoặc sự phụ thuộc nào vào nhà cung cấp. Quan hệ phụ thuộc dựa vào qui mô
và thế mạnh của một thành viên trong kênh có khả năng chi phối các thành
viên tham gia trong kênh.
+ VMS theo hợp đồng (contractual VMS)
Hệ thống này bao gồm các công ty độc lập thuộc các giai đoạn khác
nhau của quá trình sản xuất, phân phối. Trong hệ thống này quyền kiểm soát
của một chủ sở hữu. Các thành viên trong kênh thừa nhận sự phụ thuộc này
và tôn trọng vai trò của người chủ sở hữu. Sự phụ thuộc được xác định thông
trong quá trình hoạt động, kênh phân phối buộc phải có những điều chỉnh
nhất định nhằm thích nghi với những biến đổi của các yếu tố môi trường, cả
17
trong ngắn hạn và dài hạn trên thị trường mục tiêu.
Nhìn chung các yếu tố ảnh hưởng tới kênh phân phối của một DN
thường được thể hiện qua 2 cấp độ đó là: môi trường bên trong DN và môi
trường bên ngoài DN.
MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
1 Môi trường kinh tế
2 Môi trường văn hóa – xã hội
3 Môi trường kỹ thuật, công nghệ
4 Môi trường luật pháp
5 Môi trường cạnh tranh
MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG
1.Nguồn nhân lực
2.Chính sách marketing
3.Quan hệ giữa các thành viên
trong kênh
4.Tài chính của DN
5.Thương hiệu của DN
a, Môi trường bên ngoài doanh nghiệp
Môi trường bên ngoài DN ảnh hưởng đến kênh phân phối của DN chủ
yếu bao gồm: môi trường kinh tế, môi trường văn hóa – xã hội, môi trường kỹ
thuật công nghệ, môi trường luật pháp, môi trường cạnh tranh.
- Môi trường kinh tế: thị trường phụ thuộc rất nhiều vào số dân, động cơ
mua và sức mua của công chúng. Sức mua hiện tại trong một nền kinh tế phụ
vượt quá khuôn khổ giới hạn cho phép.
- Môi trường cạnh tranh: là những DN trong ngành cùng cạnh tranh,
ganh đua trong việc kinh doanh sản phẩm. Việc tìm hiểu, phân tích các chiến
lược giá cả, sản phẩm, hình thức phân phối, ưu nhược điểm trong hoạt động
phân phối bán hàng…của đối thủ cạnh tranh nhằm giúp DN nhanh chóng có
những giải pháp kịp thời điều chỉnh hợp lý chiến lược kinh doanh của DN
mình, trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh.
19
b, Môi trường bên trong doanh nghiệp
Môi trường bên trong DN ảnh hưởng đến kênh phân phối của DN chủ yếu
bao gồm: nguồn nhân lực, chính sách marketing, mối quan hệ giữa các thành viên
trong kênh, tài chính của công ty, thuơng hiệu của công ty.
- Nguồn nhân lực của DN: chính là yếu tố về con người của DN, yếu tố
con người là yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động của DN. Vì vậy, lựa chọn
những con người có trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm và tư chất đạo đức
tốt. Việc lựa chọn yếu tố con người còn phụ thuộc vào chiến lược phát triển
nhân tố con người của từng DN sao cho phù hợp với đặc điểm, mục tiêu kinh
doanh của DN.
- Chính sách marketing của DN: đó là các chính sách về sản phẩm, về giá
cả, xúc tiến, đặc biệt là chính sách phân phối của công ty trong thị trường nội
địa. Qua đó giúp DN thực hiện tốt hơn các mục tiêu đã đặt ra, duy trì các mối
quan hệ với khách hàng, tạo được sự tin tưởng của khách hàng đối với DN.
- Quan hệ giữa các thành viên trong kênh: chính là mối quan hệ giữa các
viên trong kênh với nhau. Mối quan hệ này có thể là hợp tác, canh tranh hoặc
có thể là xung đột. Nếu người quản lý làm tốt công việc này sẽ làm kênh phát
triển và ngược lại.
- Nguồn tài chính của DN: đây chính là yếu tố về vốn của DN, vốn ở
tác và sản xuất ra thuốc đặc trị cho các loài động vật đều do các nước này
cung ứng, phân phối cho hầu hết các nước trên thế giới trong đó có cả Việt
Nam. Do nguyên liệu thuốc của một số nước trên có chất lượng khá tốt, nên
khi nhập nguyên liệu vào sản xuất trong nước thì không cần kiểm tra một
cách quá nghiêm ngặt mà chỉ kiểm tra sơ lược và cho vào sản xuất theo công
thức đã có sẵn. Để có được điều đó, đa phần các nước trên họ đều cố gắng
xây dựng cho nguyên liệu thuốc thú y của nước mình đạt đến một tiêu chuẩn
tốt nhất do hiệp hội sản xuất thuốc thú y thế giới quy định. Trong các tiêu
chuẩn về nguyên liệu sản xuất thuốc thú y mà nhiều người biết đến nhất khi
nhắc đến đó là: tiêu chuẩn dược điển thú y Anh (BPV88 dùng cho thú y) và
tiêu chuẩn dược điển Mỹ (USD VII). Trong tất cả các tiêu chuẩn mà các nước
có nền nông nghiệp phát triển gửi lên cho hiệp hội sản xuất thuốc thú y thế
21
giới thì tiêu chuẩn dược điển thú y Anh (BPV88 dùng cho thú y) và tiêu
chuẩn dược điển Mỹ (USD VII) được hiệp hội sản xuất thuốc thú y thế giới
xếp hạng đầu trong danh mục các tiêu chuẩn về thuốc thú y.
2.2.2 Tình hình sản xuất thuốc thú y trong nước
Quá trình hình thành và phát triển khái niệm thuốc thú y ở Việt Nam
cũng đã diễn ra từ rất lâu. Theo những bộ sách y dược còn lưu giữ được cho
đến ngày nay thì nước ta có một truyền thống y học dược khá phong phú. Vào
thời nhà Trần ở vùng Kiếp Bạc – Hải Dương đã có mở lớp đào tạo thầy thuốc
để chữa trị voi chiến và ngựa chiến cho quân đội của nhà vua. Khoảng năm
1742, Hải Thượng Lãng Ông (Lê Hữu Trác) đã cho bộ “Y tông tâm lĩnh” và
vào năm 1886 Trần Nguyên Phương cũng cho ra cuốn “Nam bang thảo mộc”.
Vì thời bấy giờ các thầy thuốc nhân y cũng là những thầy thốc thú y ở địa
phương. Sau năm 1945, khi giành được thắng lợi chúng ta đã khuyến khích
phát triển nên y học nước nhà cho đến ngày nay.
Trung Quốc giá thành rẻ chất lượng kém được nhập lậu vào nước ta; hàng giả
hàng nhái vẫn còn trôi nổi trên thị trường…Chính những yếu tố này, làm ảnh
hưởng không nhỏ đến thị trường thú y trong nước gây ra những sáo trộn trên
thị trường về giá thành cũng như chất lượng. Làm ảnh hưởng trực tiếp đến uy
tín thương hiệu của một số DN khi bị nhái hàng, cũng như tâm lý của người
chăn nuôi khi tiêu dùng những sản phẩm kém chất lượng. Ngoài ra, do Việt
Nam gia nhập WTO nên một số sản phẩm thuốc thú y của các nước ngoài khi
vào nước ta mà không phải đóng thuế hoặc mức thuế rất nhỏ là lý do làm cho
các DN, công ty sản xuất thú y trong nước lao đao khi phải cạnh tranh khốc
liệt với các DN này trên thị trường.
Để hỗ trợ tốt cho ngành chăn nuôi nói chung và lĩnh vực thuốc thú y
nói riêng thì đòi hỏi công tác quản lý thị trường phải làm thật tốt. Bên cạnh
đó, nhà nước cũng phải có những chính sách hỗ trợ nhằm tạo điều kiện cho
các cơ sở sản xuất trong nước có thể tồn tại và cạnh tranh được với các doanh
nghiệp nước ngoài đang kinh doanh trên thị trường trong nước. Ngoài ra, Bộ
Y Tế, Cục thú y và các cơ quan chức năng liên quan phải luôn tìm hiểu,
23
nghiên cứu, kết hợp với nhau để tìm ra những loại thuốc, vacxin đặc trị có
nhiều tác dụng hơn nhằm ngăn chặn và chữa trị kịp thời khi có các ổ dịch nổ
ra nhằm hạn chế tối thiểu thiệt hại cho người chăn nuôi.
2.2.3 Vài nét về ngành chăn nuôi trong nước
Ngành chăn nuôi của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng được nuôi
dưới hai hình thức chủ yếu là nuôi hộ gia đình và nuôi trang trại. Nhìn chung, mấy
năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta đang có những bước phát triển mạnh cả về
số lượng và chất lượng. Đặc biệt, là những khu vực có ngành nông nghiệp phát
triển từ trước tới nay đó là khu vực ĐB Sông Cửu Long, vùng Đông Nam Bộ và
một số tỉnh ở ĐB Sông Hồng. Ở các khu vực chăn nuôi này, người chăn nuôi luôn
Lợn
Gia cầm
Năm 2007
2922,2
5540,7
27055,0
219910
ĐB Sông Hồng
145,9
685,8
7240,6
62360
Đông Bắc
1226,4
675,5
2242,9
13851
Tây Nguyên
71,9
616,9
1590,5
8729
Đông Nam Bộ
103,3
682,1
2618,0
16125
ĐB. Sông Cửu Long
38,8
537,9
4498,3
42034
Tây Bắc
465,1
272,1
1144,4
8753
Bắc Trung Bộ
737,6
1248,1
3804,6
33238
Duyên Hải. Nam Trung Bộ
156,6
1199,6
3982,0
36378
Năm 2009
2996,4
6724,6
26560,7
2256029
ĐB. Sông Hồng
110,8
792,7
6890,5
62279
Đông Bắc
1277,4
832,8
2015,8
13339
Tây Nguyên
84,7
756,3
1451,3
8159
Đông Nam Bộ
80,7
867,3
2698,3
14648
ĐB.Sông Cửu Long
38,2
689,5