LÝ LUẬN VỀ GIAI CẤP VÀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP TRONG TÁC
PHẨM “ĐẤU TRANH GIAI CẤP Ở PHÁP 1848 - 1850” CỦA MÁC. Ý
NGHĨA TRONG CUỘC ĐẤU TRANH GIAI CẤP Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY
1. Bối cảnh lịch sử của tác phẩm:
Tình hình cách mạng thế giới, đặc biệt là tình hình cách mạng Pháp, Đức
những năm 1848-1850 diễn biến hết sức sôi động và phức tạp. Đây là giai
đoạn mà giai cấp tư sản làm cách mạng lật đổ chế độ quân chủ lập lên chế độ
cộng hoà. Lúc này cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra hết sức gay go và quyết
liệt. Kết thúc giai đoạn này là cuộc chiến tranh Pháp - Phổ, LuiBôlapáctơ thua
trận và bị lật đổ. Công xã Pa ri ra đời, nhưng sau một thời gian thì thất bại.
Tình hình từ năm 1848-1850 diễn biến như sau:
Thời kỳ 1848-1849, đây là thời kỳ đặc biệt quan trọng, bước ngoặt trong
lịch sử xã hội. Đó là, sự ra đời tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”
đánh dấu sự chín muồi của chủ nghĩa Mác. Sau cách mạng tháng 2 năm 1848
ở Pháp đã tác động mạnh mẽ đến phong trào công nhân; đồng minh những
người cộng sản được tổ chức lại, Mác được bầu làm chủ tịch.
Tháng 3 năm 1848, ở Đức phong trào đòi thống nhất đất nước cho chủ
nghĩa tư bản phát triển trở nên hết sức sôi nổi, song lúc này phong trào công
nhân còn quá yếu, chưa có tổ chức chặt chẽ và kém giác ngộ chính trị. Chính
vì thế, những người tiên tiến của giai cấp vô sản phải cộng tác với những
người dân chủ tư sản với tư cách là nhóm cánh tả. Đối với lực lượng này, Mác
luôn chú ý đến hai điểm: một là, phải đấu tranh phê phán tư tưởng giao động
của họ; hai là, không được lãng quên mục đích cuối cùng của mình. Cách
mạng dân chủ tư sản chỉ được coi là một bước nối tiếp của quá trình cách
mạng mà thôi, để làm được việc đó giai cấp vô sản phải tổ chức lại hội thợ
thuyền, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng.
Tháng 2 năm 1848 cách mạng dân chủ tư sản nổ ra, giai cấp vô sản là
động lực của cách mạng. Sau 4 tháng (tháng 6 năm 1848) cuộc khởi nghĩa do
giai cấp vô sản lãnh đạo (Mác đánh giá đây là cuộc nội chiến đầu tiên của giai
cấp vô sản và tư sản). Sau một số ngày thì công nhân bị thất bại, giai cấp tư
cách mạng 1848-1849 và những kết quả của nó. Trong tác phẩm này, Mác đã
tiếp tục phát triển học thuyết mác xít về giai cấp và đấu tranh giai cấp; làm rõ
hoàn cảnh, vai trò, địa vị của các giai cấp, đặc biệt là giai cấp nông dân; tính
tất yếu của liên minh công nông trong đấu tranh cách mạng; mối quan hệ kinh
tế và chính trị; chuyên chính của giai cấp công nhân; về bạo lực cách mạng;
về nhà nước và cách mạng; mối quan hệ giữa cá nhân và lãnh tụ và một số
vấn đề khác về chủ nghĩa duy vật lịch sử.
2. Kết cấu của tác phẩm: Tác phẩm gồm 4 phần
Phần thứ nhất: Với tiêu đề “Thất bại tháng Sáu năm 1848”,
Phần thứ hai: Với tiêu đề “Ngày 13 tháng Sáu 1849”,
Phần thứ ba: Với tiêu đề “Hậu quả của sự kiện ngày 13 tháng Sáu 1849”,
Phần thứ tư: Với tiêu đề “Việc huỷ bỏ chế độ phổ thông đầu phiếu vào
năm 1850” (do Ăngghen viết bổ sung).
Tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848-1850” của Mác được in trong
C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
1993 (từ trang 15 đến trang 150).
3. Nội dung:
Trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848-1850”, Mác trình bày
nhiều nội dung về chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong đó, lý luận về giai cấp và
2
2
đấu tranh giai cấp là một trong những nội dung lớn, chiếm vị trí quan trọng
trong tác phẩm.
Những nội dung chủ yếu về lý luận giai cấp và đấu tranh giai cấp
trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848-1850”.
Một là, Mác đã phê phán giai cấp tư sản quan niệm về giai cấp.
1 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 31.
2 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 31.
3 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 19.
4 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 18.
5 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 31.
6 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 31.
3
3
Khi bàn về giai cấp chính Mác cũng cho rằng, ông không phải là người
phát hiện ra giai cấp, mà trước đó các nhà tư tưởng đã bàn đến và do chính
thực tiễn nó xuất hiện giai cấp. Nhưng cái mới của Mác khi bàn về vấn đề này
đó là: sự tồn tại của giai cấp gắn với nền sản xuất vật chất; cuộc đấu tranh của
giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến chuyên chính vô sản; bản thân nền chuyên chính
vô sản là bước quá độ thủ tiêu giai cấp và xã hội không còn giai cấp.
Hai là, về mối quan hệ giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản.
Về mối quan hệ giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, Mác cho rằng
giai cấp vô sản và giai cấp tư sản cùng tồn tại trong phương thức sản xuất tư
bản, nó là sự thống nhất của hai mặt đối lập. Mác viết: “Không có lao động
làm thuê thì không có tư bản, không có giai cấp tư sản, không có xã hội tư
sản”7.
Khi phân tích mối quan hệ giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, Mác
cho rằng sự phụ thuộc lẫn nhau trong nền sản xuất, đồng thời cũng nói nên vai
trò của giai cấp tư sản. Mác viết: “Nói chung, sự phát triển của giai cấp vô sản
công nghiệp được quy định bởi sự phát triển của giai cấp tư sản công nghiệp.
Chỉ có sự thống trị của giai cấp này thì sự tồn tại của giai cấp vô sản công
nghiệp mới có được một quy mô toàn quốc, khiến nó có thể nâng cuộc cách
đại biểu trong chế độ cộng hoà đã thẳng thừng tuyên bố rằng lợi ích của dân
tộc không là gì khi lợi ích giai cấp bị xâm hại: “Tôi không sợ quân Phổ xâm
lược bằng sợ những người cách mạng lưu vong lại được trở về nước Pháp” 11.
Rõ ràng giai cấp tư sản vẫn đặt lợi ích giai cấp lên trên lợi ích dân tộc. Khi lợi
ích giai cấp bị đe doạ thì họ sẵn sàng gạt lợi ích dân tộc sang một bên để giữ
cho được lợi ích giai cấp.
Bốn là, tính tất yếu của đấu tranh giai cấp.
Khi bàn về đấu tranh giai cấp, Mác cho rằng đấu tranh giai cấp không lệ
thuộc vào bất cứ một lực lượng chính trị- xã hội nào, không phụ thuộc vào ý
chí của giai cấp nào- đấu tranh giai cấp là tất yếu khi xã hội có giai cấp và ở
đó mâu thuẫn lên tới tột đỉnh. Phân tích tình hình ngày 22 tháng 6 năm 1848
công nhân tổ chức cuộc khởi nghĩa lớn, nhưng không có lãnh tụ, không có kế
hoạch hành động, không có vũ khí v.v. nên nhanh chóng thất bại. Mác viết:
“Công nhân không còn có con đường nào để mà lựa chọn nữa: hoặc chịu chết
đói, hoặc phải tiến hành đấu tranh. Ngày 22 tháng Sáu, họ đã đáp lại bằng một
cuộc khởi nghĩa rất lớn, trong đó trận chiến lớn đầu tiên đã diễn ra giữa hai
giai cấp đối lập trong xã hội hiện đại.”12.
Mác đã phân tích và chỉ ra thực chất của đấu tranh giai cấp, đó là sự duy
trì hoặc là để sự tồn tại của giai cấp tư sản mà thôi. Ông nêu các sự kiện như
ngày 04 tháng 5 năm 1848 Quốc hội lập hiến họp, (phái cộng hoà tư sản
chiếm ưu thế) là ngày khởi đầu của nền cộng hoà Pháp. Nền cộng hoà này về
thực chất là sự thiết lập lại chế độ tư sản về mặt chính trị, là sự củng cố xã hội
tư sản về mặt chính trị. Và khi nền cộng hoà tư sản đã được thiết lập thì ngay
lập tức nó liền gạt ngay các đại biểu của giai cấp vô sản ra khỏi các cơ quan
quyền lực, nó tuyên bố: vấn đề hiện nay chỉ là đưa lao động trở về những điều
kiện cũ của nó. Trước tình hình đó Mác đã nhận định: “Trước kia, nền Cộng
hoà tháng Hai với những sự nhượng bộ của nó trước những người xã hội chủ
nghĩa, đã cần đến một cuộc chiến đấu của giai cấp vô sản liên minh với giai
cấp tư sản để chống lại nền quân chủ, thì bây giờ cũng thế, cũng cần phải có
một cuộc chiến đấu thứ hai nữa để cho nền cộng hoà thoát khỏi những sự
niệm đã che chở và nguỵ trang nó” 16. Đây thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp
có lợi ích đối lập nhau.
Năm là, về liên minh giai cấp.
Khi bàn về liên minh giai cấp, Mác đánh giá cao vai trò của liên minh
giai cấp, ông viết: “Công nhân Pháp không thể tiến lên được một bước nào và
cũng không thể đụng đến một sợi tóc nào của chế độ tư sản, trước khi đông
đảo nhân dân đứng giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, tức là nông dân và
giai cấp tiểu tư sản, nổi dậy chống chế độ tư sản, chống sự thống trị của tư
bản chưa bị tiến trình của cách mạng buộc phải đi theo những người vô sản,
coi là đội tiền phong của mình. Công nhân chỉ có thể mua được thắng lợi đó
bằng sự thất bại ghê gớm hồi tháng Sáu mà thôi”17.
Mác phân tích việc giải tán nội các liên minh, xác lập nội các tay sai, tất
yếu đưa đến việc phục hồi địa vị của tầng lớp quý tộc tài chính. Dưới sự lũng
đoạn của bọn này, đất nước Pháp đã rối loạn lại càng rối loạn hơn. Kinh tế
kém phát triển, thuế má gia tăng, đời sống của người lao động đặc biệt là công
nhân và nông dân ngày càng khổ cực. Sự liên minh giai cấp, xu hướng ngả
dần về với giai cấp vô sản ngày càng được khẳng định nhằm chống lại chế độ
độc tài, giai cấp nông dân đã có sự giác ngộ từng bước. Mác viết: “Cũng như
hồi tháng Hai, đây là một khối liên minh chung chống lại giai cấp tư sản và
chính phủ. Nhưng lần này thì giai cấp vô sản đứng đầu khối liên minh cách
mạng”18.
14 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 45.
15 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 46.
16 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 46- tr 47.
17 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 30.
18 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 128.
6
6
không hề chống cự lại”23.
Đối với giai cấp nông dân, bằng cú pháp ngữ pháp chuẩn mực, ông đã
phân tích và chỉ rõ bản chất, đặc điểm của giai cấp nông dân một cách chính
xác, giai cấp nông dân cũng không có lập trường rõ ràng, không có đường lối
cương lĩnh riêng, họ tuyên chiến với nước ngoài và đòi thực hiện những lợi
ích giai cấp của mình ở trong nước; họ đả đảo bọn nhà giàu, đòi xoá bỏ thuế
khoá, đả đảo chế độ cộng hoà, nhưng lại hô hoàng đế muôn năm và đi bỏ
phiếu cho chế độ cộng hoà của những người giàu. Mác viết: “Cái biểu tượng
nói lên sự tham gia của nông dân vào phong trào cách mạng, cái biểu tượng
19 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 46.
20 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 28.
21 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 38.
22 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 50.
23 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 54.
7
7
vừa vụng về vừa ranh mãnh, vừa gian xảo vừa ngây thơ, vừa trì độn vừa cao
thượng, đồng thời là sự mê tín có tính toán, sự khôi hài bi ai, sự lỗi thời vừa
tài tình vừa ngu ngốc, trò tinh nghịch của lịch sử thế giới, thứ văn tự tượng
hình khó hiểu đối với lý trí của những người văn minh,- cái biểu tượng đó
mang dấu vết không thể lầm lẫn được của giai cấp đại biểu cho sự dã man
ngay trong lòng nền văn minh”24.
Đối với giai cấp tư sản, Mác phân tích và chỉ ra sự bóc lột của giai cấp tư
sản với giai cấp nông dân chẳng khác gì việc bóc lột giai cấp vô sản công
nghiệp, chỉ có điều là sự bóc lột đó khác nhau về hình thức mà thôi. Mác viết:
“Rõ ràng là việc bóc lột nông dân chỉ khác việc bóc lột giai cấp vô sản công
27 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 87- tr 88.
28 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 29.
8
8
tất cả các thế hệ trước kia gộp lại”29. Có thể nói rằng điều kiện kinh tế xã hội
mà trực tiếp là nền sản xuất vật chất xã hội và đấu tranh giai cấp là những yếu
tố trực tiếp chi phối đến sự phân công lao động xã hội.
Mác phân tích sự bóc lột của giai cấp tư sản đối với toàn xã hội, không
trừ bất cứ giai cấp, tầng lớp nào và ông đã chỉ ra vai trò của cách mạng xã hội.
Mác khẳng định: “Các cuộc cách mạng đều là những đầu tàu của lịch sử”30.
Tóm lại, khi bàn về kết cấu giai cấp và vị trí vai trò của các giai cấp trong xã
hội, Mác đi từ kinh tế, ông đã làm rõ kết cấu giai cấp, vai trò vị trị của các giai cấp
trong xã hội Pháp lúc đó. Phân tích và đi đến khẳng định tính tất yếu của đấu tranh
giai cấp cũng như tính tất yếu của chuyên chính vô sản. Mác đã đề cập đến tư
tưởng cách mạng không ngừng trong đấu tranh cách mạng. Mác đã dùng phương
pháp lịch sử để phân tích một giai đoạn lịch sử nước Pháp, từ đó đi đến kết luận:
chiều hướng cách mạng đi xuống là tất yếu, do điều kiện thực tế lúc đó quy định,
từ đó tìm ra sách lược đấu tranh phù hợp cho giai cấp vô sản.
Lần đầu tiên Mác đưa ra chuyên chính của giai cấp công nhân, ông phân
tích cách mạng tháng Sáu: giai cấp vô sản Pari đã đột nhập vào quốc hội với
âm mưu giải tán quốc hội lập hiến; thành lập một chính phủ lâm thời mới.
Hành động cách mạng này đã bị thất bại, các lãnh tụ của giai cấp đã bị bắt. Và
từ đây các đạo luật cấm hội họp, đóng cửa các câu lạc bộ dân chủ đã được ban
hành. Mác đã đánh giá cuộc cách mạng tháng Sáu và ông đi đến kết luận trên
những nội dung cơ bản sau:
Một là, chính giai cấp tư sản đã buộc giai cấp vô sản phải làm cách mạng.
Hai là, giai cấp vô sản phải thực hiện chuyên chính của mình.
Thất bại tháng sáu đã cho công nhân một bài học đó là: mong mỏi một sự
cải thiện hết sức nhỏ trong đời sống của họ cũng vẫn là một điều không tưởng
trong phạm vi nền cộng hoà tư sản. Để có được điều đó thì phải lật đổ giai cấp
tư sản, chuyên chính của giai cấp công nhân. Qua đó, Mác yêu cầu giai cấp
công nhân phải thực hiện chuyên chính của mình, phải táo bạo hơn nữa, phải
tự vũ trang cho mình. Mác viết: “Bây giờ được thay thế bằng một khẩu hiệu
táo bạo, khẩu hiệu đấu tranh cách mạng: Lật đổ giai cấp tư sản! Chuyên chính
của giai cấp công nhân!”32. Mác viết tiếp: “Do những thất bại vật chất nặng nề
hồi tháng Sáu buộc phải vươn mình lên bằng những thắng lợi tinh thần; và do
sự phát triển của các giai cấp khác, vẫn còn chưa có khả năng đoạt lấy chuyên
chính cách mạng, nên buộc phải rơi vào tay những kẻ khống luận về sự giải
phóng giai cấp vô sản...”33.
Mác đã chỉ ra vai trò của chuyên chính vô sản, là một trong những điều
kiện để xoá bỏ áp bức bóc lột, xoá bỏ giai cấp. Trong tác phẩm này, Mác đã có
sự phát triển lý luận hết sức quan trọng. Nếu như trong tác phẩm “Tuyên ngôn của
đảng cộng sản” Ông mới có những kết luận con hết sức mơ hồ “giai cấp vô sản
cần phải chiếm lấy bộ máy nhà nước” thì đến đây Ông đã có kết luận hết sức rõ
ràng. Giai cấp vô sản phải lật đổ giai cấp tư sản, phải thiết lập chuyên chính vô
sản”34. Mác viết tiếp: “Giai cấp vô sản càng ngày càng tập hợp xung quanh
chủ nghĩa xã hội cách mạng, xung quanh chủ nghĩa cộng sản...Chủ nghĩa xã
hội này là lời tuyên bố cách mạng không ngừng, là chuyên chính giai cấp của
giai cấp vô sản, coi đó là giai đoạn quá độ tất yếu để đi đến xoá bỏ những sự
khác biệt giai cấp nói chung, xoá bỏ tất cả những quan hệ sản xuất làm cơ sở
cho những sự khác biệt ấy, xoá bỏ tất cả những mối quan hệ xã hội thích ứng
với những quan hệ sản xuất đó, để đi đến cải biến tất cả nhữnh tư tưởng nảy
sinh ra từ những quan hệ sản xuất đó”35. Và đến đây, chính phủ đã lộ nguyên
hình là công cụ thống trị xã hội của một giai cấp: đó là giai cấp tư sản. Chính
quyền đã đoạn tuyệt ngay với những ảo tưởng của cách mạng tháng hai; nó dứt
khoát tuyên bố nền cộng hoà tư sản và chỉ có nền cộng hoà tư sản mà thôi. Nó liền
người cách mạng ra khỏi quốc hội. Khôi phục lại một số quy định cũ như: thủ
tiêu đạo luật hạn chế ngày làm việc 10 giờ; ban hành trở lại chế độ bỏ tù vì nợ;
chế độ ký quỹ với báo chí được phục hồi; quyền lập hội bị thu hẹp lại. Để hoàn
thiện sự thống trị của mình, đảng trật tự đã huỷ bỏ chế độ đầu phiếu phổ
thông. Mác đã chỉ rõ, thực chất xoá bỏ chế độ đầu phiếu phổ thông, cái mà từ
trước đến nay nó vẫn dùng để che thân, cái đã đem lại cho nó quyền vạn năng
thì như vậy là giai cấp đó đã thú nhận thẳng thắn rằng: cho đến nay, nền
chuyên chính của chúng ta sở dĩ được giữ vững là nhờ ý chí của nhân dân, bây
giờ chúng ta phải củng cố nền chuyên chính ấy để chống lại ý chí của nhân
dân.
Mác phân tích và chỉ ra rằng chỉ có dùng bạo lực cách mạng mới giành được
thắng lợi của cách mạng. Ông viết: “Nhưng lần này, công nhân kiên quyết không
dung thứ một sự lừa bịp giống như sự lừa bịp hồi tháng Bảy năm 1830 nữa. Họ
sẵn sàng chiến đấu một lần nữa và dùng vũ lực để giành lấy chế độ cộng hoà”36.
Bảy là, về lực lượng của cách mạng.
Về lực lượng của cách mạng, trong tác phẩm này, Mác không chỉ khẳng định
sự cần thiết phải liên minh giữa các giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu tranh chống
giai cấp tư sản, mà còn vạch ra tính tất yếu của sự liên minh đó. Một khi nền
chuyên chính tư sản đã được chính thức thừa nhận, thì các tầng lớp trung đẳng
trong xã hội tư sản, tức là tầng lớp tiểu tư sản và nông dân, chừng nào mà tình
36 C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, H.1993, tr 25.
11
11
cảnh của họ càng trở nên nặng nề và sự đối lập của họ với giai cấp tư sản càng trở
nên găy gắt, sẽ càng phải liên minh với giai cấp vô sản. Ngược lại, Mác cũng
khẳng định: công nhân Pháp không thể tiến lên được một bước nào và cũng không
khác), chúng ta còn phải xây dựng từ đầu cả về cơ sở vật chất lẫn kiến trúc thượng
tầng xã hội chủ nghĩa, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để tiến
tới chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh này phải sử dụng, phát triển các nhân tố kinh
tế trung gian, quá độ, thậm chí phải phát triển chủ nghĩa tư bản trong một “giới
hạn” có lợi về kinh tế nhằm tạo tiền đề về vật chất- kỹ thuật để đi lên chủ nghĩa xã
hội. Cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ đòi hỏi phải trải qua
12
12
một quá trình phát triển vừa rút ngắn vừa đẩy nhanh, vừa “bỏ qua” vừa không thể
“bỏ qua” chủ nghĩa tư bản nhằm tạo lập những tiền đề kinh tế khách quan cho
chủ nghĩa xã hội. Để giải quyết nhiệm vụ cách mạng lớn lao và phức tạp này, đòi
hỏi phải tăng cường vai trò lãnh đạo và chất lượng lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam, phát huy cao độ tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân và đặc
biệt, phải phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi giai tầng trong xã hội vì mục tiêu
phát triển kinh tế, chuyển từ nền kinh tế lạc hậu lên nền kinh tế hiện đại theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong cuộc đấu tranh này, cần tránh cả sự
quá tả và quá hữu, dập khuôn máy móc, giáo điều.
Lênin đã chỉ ra các hình thức cụ thể và các giai đoạn quá độ, ông đã phê phán
tư tưởng đối lập giữa chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa xã hội. Đấu tranh giai cấp
giữa chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội cần phải trải qua các biện pháp trung
gian quá độ, thậm chí có cả những bước nhượng bộ có nguyên tắc. Lê nin viết:
“Những đường lối, thể thức, thủ đoạn và phương sách trung gian cần thiết để
chuyển từ những quan hệ tiền tư bản chủ nghiã lên chủ nghĩa xã hội " 37. Đấu tranh
có thể gồm nhiều hình thức phong phú, uyển chuyển, đa dạng xoay quanh thực
chất của vấn đề là vì sự vững mạnh, phát triển và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay ở nước ta đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng vận
Mục tiêu cao nhất của con đường xã hội chủ nghĩa là dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ rõ: “Đối với
chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là một trạng thái cần phải sáng tạo ra,
không phải là một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo. Chúng ta gọi chủ nghĩa
cộng sản là một phong trào hiện thực, xoá bỏ trạng thái hiện nay. Những điều kiện
của phong trào ấy là do những tiền đề hiện đang tồn tại đẻ ra”39. Để thực hiện mục
tiêu ấy, không có con đường nào khác ngoài chủ trương phát triển mạnh mẽ nền
kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà
nước- nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Chính yếu tố này tất
yếu tồn tại cơ cấu xã hội- giai cấp trong thời kỳ quá độ. Kinh tế nhiều thành phần
bản thân tự nó phát triển lên tư bản chủ nghĩa. Hơn nữa trong bối cảnh toàn cầu
hoá, mà thực chất là toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa như hiện nay vì vậy khuynh
hướng tự phát lên chủ nghĩa tư bản là không thể xem thường.
Đấu tranh giai cấp trong nền kinh tế nhiều thành phần mang tính tất yếu
khách quan, vì nó tồn tại những xu hướng lợi ích vừa thống nhất, vừa đối lập
nhau, đấu tranh với nhau. Các thành phần kinh tế còn tồn tại lâu dài, do vậy phải
có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa thì các thành phần kinh tế này sẽ tạo thành cơ sở xã hội,
tạo ra khả năng để phát triển kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế
tập thể giữ vai trò định hướng cho nền kinh tế nhiều thành phần nói trên vận động
theo quỹ đạo xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, Đảng cộng
sản Việt Nam luôn xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Vai trò đó được
thể hiện trên nhiều mặt: là lực lượng chi phối nền kinh tế, là lực lượng tạo điều
kiện, giúp đỡ và liên kết các thành phần kinh tế cùng phát triển, có khả năng điều
tiết, hướng dẫn, là tấm gương của các thành phần kinh tế về năng suất, chất lượng,
hiệu quả. Đó là nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thắng lợi của cuộc đấu tranh giai
cấp hiện nay. Mác viết: “Tất cả các cuộc đấu tranh chính trị đều là đấu tranh giai
cấp và tất cả các cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, dù hình thức chính trị tất yếu
của chúng là thế nào đi nữa- vì bất cứ cuộc đấu tranh giai cấp nào cũng đều là đấu
tranh chính trị- xét đến cùng, đều xoay quanh vấn đề giải phóng về kinh tế”40.
lĩnh vực tư tưởng, lĩnh vực quốc phòng- an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Chúng ta không thể nhận thức mơ hồ về giai cấp và đấu tranh giai cấp,
thiếu quan điểm giai cấp và phương pháp phân tích giai cấp trong việc xử lý
các quan hệ xã hội- giai cấp. Phủ nhận tính khách quan của đấu tranh giai cấp
thì mục tiêu xã hội chủ nghĩa: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ văn minh sẽ không trở thành hiện thực.
Tóm lại, việc nhận thức đúng đặc điểm về quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội,
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là cơ sở trước tiên để chúng ta hành động đúng
trong quá trình cải tạo, xây dựng phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội. Đúng như
Lênin đã chỉ huấn, chủ nghĩa tư bản như là sản vật tự nhiên của nền sản xuất và
tiểu trao đổi, bởi vậy, chúng ta phải biết lợi dụng chủ nghĩa tư bản để xây dựng
chủ nghĩa xã hội: “Trong một nước tiểu nông trước hết các đồng chí phải bắc
những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước tiến lên
chủ nghĩa xã hội”41.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, cơ cấu xã hội- giai cấp ở nước ta ngoài
giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, còn có tầng lớp tư sản. Trong
điều kiện hiện nay ở nước ta thành phần kinh tế tư bản, tư bản tư nhân là một bộ
phận của nền kinh tế nhiều thành phần và vì vậy tầng lớp tư sản có vai trò nhất
định trong sự phát triển kinh tế đất nước, có khả năng tham gia tích cực vào sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do đó lợi ích của họ thống nhất
với lợi ích của đất nước, thống nhất với lợi ích quốc gia dân tộc. Cho nên đấu
tranh ở đây là ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực, buôn gian bán lận, trốn thuế,
làm hàng giả, kinh doanh trái phép, không chấp hành pháp luật...của bộ phận này,
nhằm thực hiện chủ trương hợp tác, đoàn kết vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội.
41 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 44, tr 189.
15
15
quy định, pháp luật, đứng trên pháp luật, tự cho mình cái quyền trên hết, vô hiệu
hoá tổ chức đảng, đảng viên ở đó “không còn nhìn thấy” khuyết điểm của lãnh
đạo mà thậm chí còn là “sân sau” hợp lý hoá bằng nghị quyết của tập thể, kể cả
cấp uỷ đảng ở đó cũng không còn sức chiến đấu, để họ tham ô, tham nhũng, lộng
quyền...mà bài học tham nhũng ở PMU 18 là một trong nhiều ví dụ.
Những nội dung nêu trên là biểu hiện cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra dưới
nhiều hình thức, muôn màu muôn vẻ, đồng thời cũng mang tính chất của cuộc đấu
tranh dân tộc. Vì vậy, cần hiểu đúng vấn đề đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay,
cần đổi mới nhận thức, không lặp lại những sai lầm như trước đây. Vấn đề là ở
chỗ, chúng ta cần nhận thức đầy đủ đặc điểm kinh tế- xã hội nước ta để vận dụng
sáng tạo, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa là đối tượng vừa là đối tác, lấy lợi ích
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm cơ sở xác định mục tiêu, đối tượng, biện
pháp, hình thức đấu tranh, chống giáo điều, máy móc. Lênin viết: “Tất cả các dân
16
16
tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội, song các dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội không
hoàn toàn giống nhau. Mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này
hay hình thức khác của chế độ dân chủ vào loại này hay loại khác của chuyên
chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của xã hội với những mức độ
khác nhau”42. Đại hội X đã xác định mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5
năm 2006- 2010 là: “Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng
tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát triển văn hoá;
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh, mở
rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững
ổn định chính trị- xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo
45 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1978, tập 4, tr 232.
46 Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, Tập 1, tr 466.
17
17
bước trung gian quá độ, việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là quyết định đúng
đắn, sáng tạo của Đảng ta. Bởi vì, nước ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, thực
chất là một kiểu phát triển “rút ngắn”, nhưng vẫn tôn trọng quá trình phát triển lịch
sử tự nhiên, không được chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn. Đó là sự quá độ
gián tiếp đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là việc rút ngắn “những cơn đau đẻ kéo dài”
nghĩa là rút ngắn giai đoạn và bước đi của tiến trình lịch sử lên chủ nghĩa xã hội.
Cho nên, chúng ta phải biết sử dụng, thậm chí tạo điều kiện cho một số nhân tố tư
bản đã có hoặc chưa có ở nước ta phát triển trong quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội,
đó là sự bỏ qua có kế thừa, chọn lọc, đồng thời cũng là tôn trọng quy luật vận
động khách quan của xã hội nước ta. Chúng ta bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị
của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, bỏ qua chế độ chính trị tư bản chủ
nghĩa...mặt khác chúng ta lại tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã
đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là về khoa học công nghệ để phát
triển nhanh lực lượng sản xuất, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, đặt nền móng cho chủ nghĩa xã hội. Để bỏ qua
cần phải thiết lập chuyên chính vô sản, xây dựng nhà nước pháp quyền, nhưng
bản chất phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đồng thời phải mở rộng quan
hệ giao lưu, hợp tác quốc tế, nhất là trao đổi về khoa học, kỹ thuật và công nghệ
hiện đại, chống khép kín, bế quan toả cảng...song phải giữ được bản sắc của dân
tộc, hoà nhập nhưng không hoà tan, đổi mới chứ không đổi màu. Đặc biệt là về
chính trị, phải giữ vững quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, chống đa
nguyên về chính trị, đa đảng đối lập...
tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa. Nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát
triển kinh tế thị trường bước đầu được phác ra là kinh tế Việt Nam phải nâng lên
tầm kinh tế tri thức, phải tạo ra thế mạnh của đất nước, phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải nâng cao được đời sống của nhân dân, cải thiện
được bộ mặt xã hội; kinh tế phát triển theo hướng đa thành phần, đa sở hữu, các
thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát
triển, cùng hợp tác, cùng cạnh tranh lành mạnh, tạo thành những mắt xích quan
trọng hợp thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đa dạng hoá
và nâng cao tính chủ động của các chủ thể làm kinh tế; kinh tế nhà nước nắm vai
trò chủ đạo, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân đóng vai trò rất quan trọng, là một
trong những động lực của nền kinh tế; hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh, đủ
sức cạnh tranh với kinh tế thế giới; thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các
vùng, miền cho phù hợp đặc điểm Việt Nam; kinh tế Việt Nam phải có mối liên
hệ hội nhập với kinh tế thế giới, độc lập trong đa dạng, hội nhập theo nhiều
chiều”49.
Cách mạng cộng sản khác về chất đối với tất cả các cuộc cách mạng
trước đó: nó xoá bỏ tư hữu; xoá bỏ giai cấp. Mác viết: “Trong hết thảy các cuộc
cách mạng trước đây, tính chất hoạt động bao giờ cũng vẫn nguyên như cũ,- và
bao giờ vấn đề cũng vẫn chỉ là phân phối hoạt động ấy một cách khác, chỉ là
một sự phân phối lao động mới cho những người khác; trái lại, cách mạng cộng
sản chủ nghĩa là nhằm chống lại tính chất lao động trước đây, nó xoá bỏ lao
động và thủ tiêu sự thống trị của mọi giai cấp cùng với bản thân các giai cấp”50.
Cách mạng cộng sản không chỉ xoá bỏ những quan hệ kinh tế, chính trị cũ, mà
còn cải tạo đông đảo quần chúng...do đó cách mạng là cần thiết: “Để ý thức
cộng sản chủ nghĩa đó nảy sinh ra được trong đông đảo quần chúng, cũng như
để đạt được chính ngay mục đích ấy thì cần phải có một sự biến đổi của đông
đảo quần chúng, sự biến đổi này chỉ có thể thực hiện được trong một phong
trào thực tiễn, trong cách mạng; do đó, cách mạng là tất yếu... có năng lực xây
hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển;
thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức bất công; đấu tranh ngăn chặn và
khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất
bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc
lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh,
nhân dân hạnh phúc”52.
Việc thực hiện nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, đó là vấn đề hết sức phức tạp và nhạy cảm, dễ nảy sinh tự phát đi lên
kinh tế tư bản chủ nghĩa, dễ có nguy cơ đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Chính vì
vậy, Đảng ta luôn coi trọng việc hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật, vừa bảo
đảm quản lý được sự phát triển của nền kinh tế, song cũng không cản trở sự phát
triển, tạo ra môi trường kinh tế thuận lợi, năng động để thu hút vốn đầu tư, bằng luật
đầu tư cởi mở, bảo đảm được độc lập tự chủ của nền kinh tế phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, trong Đường lối kinh tế phát triển đất nước,
Đảng ta đã xác định: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng
nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp, ưu tiên
phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp định
hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực bên
ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền
vững; tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hoá, từng bước cải thiện đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải
thiện môi trường”53.
52 ĐCSVN, Văn kiện Đại hội lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr. 86.
53 ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội 2001, tr 24.
20
20