I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
QUí CNG
CáC BIệN PHáP NGĂN CHặN CấM ĐI KHỏI NƠI CƯ TRú,
BảO LĩNH, ĐặT TIềN HOặC TàI SảN Có GIá TRị Để BảO ĐảM
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2016
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
QUí CNG
CáC BIệN PHáP NGĂN CHặN CấM ĐI KHỏI NƠI CƯ TRú,
BảO LĩNH, ĐặT TIềN HOặC TàI SảN Có GIá TRị Để BảO ĐảM
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TSKH. Lấ VN CM
H NI - 2016
cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để
bảo đảm ............................................................................................... 27
1.2.
Phân loại các biện pháp ngăn chặn ................................................. 39
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 46
1.1.
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH
SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN (CẤM
ĐI KHỎI NƠI CƢ TRÚ, BẢO LĨNH, ĐẶT TIỀN HOẶC
TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM) VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG GIAI
ĐOẠN 2010 - 2014 ............................................................................ 47
Thực trạng của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về các
biện pháp ngăn chặn (Các Điều 91, 92, 93 BLTTHS năm 2003
với các Điều 121, 122, 123 BLTTHS năm 2015)............................. 47
2.1.1. Ƣu điểm............................................................................................... 51
2.1.2. Nhƣợc điểm ......................................................................................... 53
2.1.
Thực tiễn áp dụng pháp luật về các biện pháp ngăn chặn cấm
đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh trên cơ sở các số liệu thực tiễn của
địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2014 .......................... 54
2.2.1. Cấm đi khỏi nơi cƣ trú ........................................................................ 54
2.2.2. Bảo lĩnh ............................................................................................... 57
2.2.3. Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm .................................................. 59
2.2.
Nguyên nhân và những hạn chế về áp dụng các biện pháp ngăn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:
Bộ luật Hình sự
BLTTHS:
Bộ luật Tố tụng hình sự
BPTG:
Biện pháp tạm giam
Nxb:
Nhà xuất bản
TAND:
Tòa án nhân dân
TANDTC: Tòa án nhân dân Tối cao
TTHS:
Tố tụng hình sự
VKS:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nền tƣ pháp bất kỳ quốc gia nào cũng là bộ phận quan trọng cấu thành
một chế độ nhà nƣớc nhất định. Cũng nhƣ Nhà nƣớc, nền tƣ pháp cũng phải
vận động, biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội và muốn xây dựng Nhà
nƣớc pháp quyền có nền tƣ pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm
minh, bảo vệ công lý, quyền con ngƣời thì trƣớc tiên phải hoàn thiện hệ thống
pháp luật phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm theo hƣớng xây dựng các
cơ quan bảo vệ pháp luật làm nòng cốt, phát huy sức mạnh của toàn xã hội có
ý nghĩa quan trọng, định hƣớng cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật.
Ngay từ lời nói đầu, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ mục tiêu dân
chủ và khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân Việt Nam trong việc xây
dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh và đã đƣợc làm rõ hơn các quyền, nghĩa vụ cơ bản
của công dân, trách nhiệm của Nhà nƣớc trong việc bảo đảm thực hiện quyền
con ngƣời, quyền công dân; thể hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nƣớc ta.
Tuy nhiên, thực tiễn trong những năm qua nền tƣ pháp chƣa chuyển biến kịp
trƣớc sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trƣờng, trƣớc những tác động tiêu
cực nhiều mặt của nó. Vì lẽ đó, ngày 02/01/2002 Bộ chính trị (khóa IX) đã ra
Nghị quyết số 08 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp”, thực
chất là mở ra một cuộc cải cách sâu rộng đƣợc triển khai tất cả các bộ phận
cấu thành nền tƣ pháp. Tiếp đến Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về
“chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, các cơ quan có thẩm quyền đã
tập trung xây dựng, hoàn thiện các chế định pháp lý liên quan đến hoạt động
tố tụng hình sự, trong đó chế định về các biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi
1
tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong những năm qua trên đại bàn cả
nƣớc nói chung và trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói riêng cho thấy vẫn còn
có những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật cũng nhƣ nhận thức
của những ngƣời tiến hành tố tụng đối với việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi
nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Đó là việc tạm
giam bị can một cách tràn lan, sử dụng biện pháp tạm giam nhƣ là một biện
pháp nghiệp vụ, tạm giam thay điều tra, tạm giam bị can, bị cáo với thời gian
quá dài sẽ ảnh hƣởng nghiêm trọng đến quyền con ngƣời, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, làm suy giảm niềm tin của ngƣời dân đối với tính tôn
nghiêm của pháp luật hình sự, gây nên những dƣ luận xã hội không tốt.
Ngƣợc lại, nếu không áp dụng kịp thời biện pháp tạm giam có thể sẽ gây khó
khăn cho Cơ quan tiến hành tố tụng và có thể dẫn đến hậu quả bỏ lọt tội
phạm, hoặc tạo điều kiện cho ngƣời có hành vi phạm tội có cơ hội tẩu tán
những tài liệu, chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của mình. Nếu lạm
dụng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn có thể sẽ gây ảnh hƣởng xấu về
chính trị, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch thực hiện âm mƣu xuyên tạc chế
độ nhà nƣớc ta, gây khó khăn cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Thực tiễn thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trên địa bàn tỉnh
Tuyên Quang thấy rằng còn có vƣớng mắc đối với việc áp dụng biện pháp
cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm,
nhƣ nhiều trƣờng hợp bị can phạm tội ít nghiêm trọng có khung hình phạt
dƣới 2 năm, ngƣời chƣa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng
do vô ý thì không đƣợc áp dụng biện pháp ngăn chặn nêu trên. Hạn chế có
trƣờng hợp trên nếu bị can bỏ trốn hoặc không chấp hành giấy triệu tập của
Cơ quan Điều tra thì không thể tiến hành điều tra để làm rõ sự thật khách
quan của vụ án đƣợc và cũng không thể chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm
sát đề nghị truy tố vì không tống đạt Bản kết luận điều tra. Nhƣ vậy, chúng
3
Kiểm sát số 11-6/2011;
7
19) Thạc sĩ Dƣơng Văn Phùng “Tăng cường trách nhiệm thực hành
quyền công tố trong việc quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn”, Tạp
chí Kiểm sát số 16-8/2012;
20) ThS. Trần Duy Bình “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định
của Bộ Luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giữ”, Tạp chí Toà án
nhân dân số 18-9/2012;
21) PGS. TS. Trần Văn Độ “Hoàn thiện các quy định của bộ Luật tố
tụng hình sự về biện pháp tạm giam”, Tạp chí Kiểm sát số 21-11/2012;
22) Hoàng Đình Thanh “Một số điểm bất cập về tạm giữ và thủ tục bắt
người trong trường hợp khẩn cấp trong Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003”,
Tạp chí Toà án Nhân dân số 23-02/2012;
23) TSKH. GS. Lê Văn Cảm “Mô hình lập pháp về hoàn thiện pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam vì con người”, Tạp chí khoa học Kiểm sát
số 01-2014;
24) ThS. Nguyễn Sơn Hà “Hoàn thiện các quy định về biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền của bị can, bị cáo đáp ứng
yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí khoa học Kiểm sát số 20-10/2014;
25) ThS. Trƣơng Vĩnh Xuân và Phùng Thị Thanh Liêm “Cụ thể hoá
các quy định về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 vào Bộ Luật tố
tụng hình sự”, Tạp chí khoa học Kiểm sát số 23-12/2014.
2.3. Các luận án Tiến sĩ, các luận văn Thạc sĩ và các đề tài nghiên
cứu khoa học
1) Nguyễn Trọng Phúc "Chế định các biện pháp ngăn chặn theo Luật
tố tụng hình sự Việt Nam)", Luận án Tiến sĩ Khoa luật Đại học Quốc gia Hà
Nội 2009;
quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về "Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020", Nghị
quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược Cải cách tư
pháp đến năm 2020" (gọi tắt là Nghị quyết 48 và Nghị quyết 49).
9
(Nêu rõ sao cho logic).................. Nội dung các bài viết đã phân tích
các biện pháp ngăn chặn cụ thể, thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn,
điều kiện để áp dụng các biện pháp ngăn chặn, thực trạng áp dụng các biện
pháp ngăn chặn và đề xuất khắc phục những hạn chế trong việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn.
Tuy nhiên, do tính chất rộng lớn, đa dạng và phức tạp của chế định các
biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật tố tụng hình sự. Do sự hạn chế của số trang
dành cho luận văn thạc sĩ, hơn nữa tác giả còn có sự hạn chế về nhận thức
khoa học hình sự, tố tụng hình sự vì tác giả hiện đang công tác và làm việc
trong Cơ quan Thi hành án dân sự nên trong phạm vi luận văn của mình tác
giả chỉ đề cấp đến ba biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh,
đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Hơn nữa, tỉnh Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía bắc có địa hình phức tạp,
điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội còn nhiều khó khăn về tình hình tội phạm
vẫn diễn ra rất phức tạp, càng đòi hỏi phải nâng cao chất lƣợng việc áp dụng
pháp luật về các biện pháp ngăn chặn của Cơ quan tiến hành tố tụng trong
việc áp dụng theo quy định, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp tại "Kết
luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện
Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020" [2].
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Giới hạn về không gian và thời gian: Luận văn chỉ nghiên cứu
các vấn đề cụ thể của chế định ba biện pháp ngăn chặn và thực tiễn áp dụng
về bản chất pháp lý, căn cứ áp dụng, ngƣời có thẩm quyền áp dụng, đối tƣợng
bị áp dụng, mục đích và phạm vi áp dụng để đƣa ra khái niệm khoa học về
biện pháp ngăn chặn nói chung. Phân loại ba biện pháp ngăn chặn nêu trên
11
với các biện pháp cƣỡng chế tố tụng hình sự khác theo nhiều tiêu chí và căn
cứ; nghiên cứu những nguyên tắc áp dụng, sửa đổi, bổ sung chúng nói riêng
trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu thực tiễn tỉnh Tuyên
Quang từ giai đoạn năm 2010 đến năm 2014.
4.2.2. Giới hạn về giai đoạn tố tụng: Cơ sở pháp lý quan trọng của hoạt
động áp dụng pháp luật về ba biện pháp ngăn chặn của Cơ quan tiến hành tố
tụng trong Bộ luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang ở giai đoạn
thực hiện, áp dụng theo quy định.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận khoa học của chủ
nghĩa Mác - Lê nin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và pháp luật; các
Chỉ thị, Nghị quyết, đƣờng lối chính sách, quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về tăng cƣờng pháp chế trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, xây
dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân. Đó là cơ sở phƣơng pháp luận để giải quyết nội dung cần nghiên
cứu của luận văn. Ngoài ra, luận văn còn dựa vào những thành tựu đã đạt
đƣợc từ các chuyên ngành khoa học pháp lý, nhƣ: Triết học, lịch sử nhà nƣớc
và pháp luật, lý luận về nhà nƣớc và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình
sự, luật tố tụng hình sự, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài viết
bỏ một trong ba biện pháp ngăn chặn theo thời gian từ năm 2010 đến 2014,
đồng thời, phân tích, đánh giá thực tiễn. Qua đó xác định những tồn tại và
nguyên nhân của chúng.
Bốn là, luận văn chỉ ra sự cần thiết, quan điểm và những định hƣớng
hoàn thiện về các chế định trong ba biện pháp ngăn chặn, từ đó đề ra phƣơng
hƣớng hoàn thiện để nâng cao hiệu quả phục vụ công cuộc xây dựng Nhà
nƣớc pháp quyền Việt Nam có nền tƣ pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý và quyền con ngƣời.
13
7. Ý nghĩa lý luận và thực hiện của luận văn
Có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Điều tra viên, Kiểm sát
viên và Thẩm phán các cấp nói chung, đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên,
Thẩm phán hai cấp ở tỉnh Tuyên Quang nói riêng, để nghiên cứu, áp dụng
trong hoạt động thực tiễn đối với việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ
trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo pháp luật trên cơ
sở giải quyết và áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên địa bàn tỉnh Tuyên
Quang nhằm nâng cao trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ.
Ngoài ra kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể đƣợc sử dụng
để xây dựng các kỹ năng nghề nghiệp, các thao tác nghiệp vụ trong quan
hệ phối hợp.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
Luận văn gồm 3 chƣơng.
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn trong
Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chƣơng 2: Thực trạng của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về các
biện pháp ngăn chặn (Cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có
Các biện pháp ngăn chặn gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi
cƣ trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm;
Các biện pháp thu thập chứng cứ gồm: khám xét ngƣời, chỗ ở, chỗ
làm việc, địa điểm; xem xét dấu vết trên thân thể; thu giữ thƣ tín, điện tín,
bƣu kiện, bƣu phẩm; tạm giữ đồ vật là vật chứng, tài liệu có liên quan trực
tiếp đến vụ án;
15
Các biện pháp bảo đảm cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án gồm: kê biên tài sản; áp giải bị can, bị cáo dẫn giải ngƣời làm chứng;
tạm đình chỉ chức vụ của bị can; những biện pháp kỷ luật đối với ngƣời vi
phạm trật tự phiên tòa.
Vì vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm các biện pháp ngăn chặn
về nội dung của chúng có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao nhận thức
của ngƣời tiến hành tố tụng khi thực hiện việc áp dụng các biện pháp ngăn
chặn nhƣ không để lọt tội phạm, không làm oan ngƣời vô tội. Kết quả của
những năm gần đây, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đã kịp thời chặn
đứng đƣợc tội phạm, ngăn chặn việc cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành
án, góp phần làm giảm tình hình tội phạm.
1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn
Trƣớc khi Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) có hiệu lực, các biện pháp
ngăn chặn trong tố tụng hình sự đƣợc gọi là các biện pháp cƣỡng chế trong tố
tụng hình sự. Giáo trình nghiệp vụ tố tụng hình sự của Bộ nội vụ xuất bản
năm 1982 đã đƣa ra quan niệm:
Cƣỡng chế trong tố tụng hình sự là việc áp dụng các biện
pháp có tính chất bắt buộc của nhà nƣớc tạm thời tƣớc bỏ hoặc hạn
chế một phần quyền tự do thân thể của kẻ phạm tội trong một thời
gian nhất định nhằm ngăn chặn tội phạm và tạo điều kiện cho việc
Quan niệm này đã nêu đƣợc đối tƣợng bị áp dụng biện pháp ngăn
chặn, mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn. Tuy nhiên, quan niệm này
chƣa phân biệt rõ giữa mục đích và căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn.
Nếu cho rằng việc áp dụng biện pháp ngăn chặn là “nhằm ngăn chặn những
hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn ngừa việc tiếp tục phạm tội, trốn tránh
pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử
và thi hành án” thì đã đồng nhất giữa căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn
đƣợc quy định trong Điều 79 BLTTHS năm 2003 với mục đích áp dụng
đƣợc nêu trong khái niệm này.
17
b) Quan điểm thứ hai khẳng định:
Những biện pháp ngăn chặn đƣợc áp dụng trong hoạt động tố tụng hình
sự là những biện pháp do luật định, đƣợc thực hiện khi xét thấy cần thiết
nhằm ngăn chặn kẻ phạm tội đang có hành vi thực hiện tội phạm hoặc tiếp tục
thực hiện tội phạm, loại trừ bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy
tố, xét xử và ngăn ngừa bị can, bị cáo, ngƣời bị kết án trốn tránh để đảm bảo
cho việc thi hành đƣợc thực hiện [34, tr. 98].
Quan niệm này nhấn mạnh các biện pháp ngăn chặn chỉ đƣợc áp dụng
khi xét thấy cần thiết nhằm ngăn chặn kẻ phạm tội đang có hành vi thực hiện
tội phạm hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm, loại trừ việc bị can, bị cáo gây khó
khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử... đây là điều hợp lý và là vấn đề rất cơ
bản nhằm phân biệt các biện pháp ngăn chặn với biện pháp hình phạt là chế
tài hình sự. Thực tế, không phải tất cả mọi trƣờng hợp ngƣời phạm tội đều bị
áp dụng biện pháp ngăn chặn, mà biện pháp này chỉ đƣợc áp dụng nhằm ngăn
chặn, loại trừ việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét
xử hoặc tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, quan niệm này chƣa nêu đƣợc chủ thể
nào có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng nhƣ các vấn đề khác liên