I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
QUí CNG
CáC BIệN PHáP NGĂN CHặN CấM ĐI KHỏI NƠI CƯ TRú,
BảO LĩNH, ĐặT TIềN HOặC TàI SảN Có GIá TRị Để BảO ĐảM
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2016
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
QUí CNG
CáC BIệN PHáP NGĂN CHặN CấM ĐI KHỏI NƠI CƯ TRú,
BảO LĩNH, ĐặT TIềN HOặC TàI SảN Có GIá TRị Để BảO ĐảM
THEO LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TSKH. Lấ VN CM
H NI - 20
cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam... (các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự nói
chung) nhằm đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải
cách tư pháp mà chủ yếu là đề cao bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
người dân; Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị đã nêu rõ:
Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành
pháp luật của các cơ quan tư pháp; tăng cường công tác kiểm sát
việc bắt, tạm giữ, tạm giam đảm bảo đúng pháp luật; … hạn chế
việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm; thu
hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các
biện pháp tạm giam; xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo đảm
quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; hoàn thiện
các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công
khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người …[7].
Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là các biện pháp cưỡng
chế nhà nước được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị
cáo, người bị nghi thực hiện tội phạm nhằm ngăn chặn tội phạm, không cho
người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, gây khó khăn cho công tác điều
tra, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự đúng
pháp luật. Tuy nhiên việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là vấn đề rất nhạy
cảm, trực tiếp tác động đến quyền con người, quyền công dân được quy định
trong Hiến pháp và luật (quyền bất khả xâm phạm thân thể, quyền tự do đi lại,
quyền làm việc, sinh hoạt, học tập...). Vì thế khi áp dụng đối với từng biện
pháp ngăn chặn đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền, phải hết sức thận trọng,
phải đúng với căn cứ mà Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn đặc biệt là biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt
2
ta phải sử dụng biện pháp gì cho phù hợp để khắc phục những khó khăn
trên? Cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra những vấn đề cần phải khắc phục
đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Tuy nhiên các biện pháp ngăn
chặn mà đề tài nghiên cứu trước còn tương đối rộng lớn, đa dạng và phức
tạp. Vì lẽ đó, học viên chọn ba trên sáu biện pháp ngăn chặn, gồm có: "Các
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài
sản có giá trị để bảo đảm theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam" làm đề tài
Luận văn Thạc sĩ luật học góp phần giải quyết các yêu cầu đang đặt ra trong
thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, quy định về các biện pháp ngăn chặn có nhiều nội dung
phong phú và việc áp dụng chúng là vấn đề nhạy cảm. Bởi lẽ, chính các biện
pháp này là phương tiện ngăn chặn tội phạm có hiệu quả nhất và bảo đảm cho
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật Tố
tụng hình sự quy định nhưng hay bị lạm dụng quá mức cần thiết và không
"tiết kiệm”. Đi đôi với việc áp dụng các biện pháp đó, thì một số tự do và
quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 là đi vào cuộc
sống, bảo đảm tính thượng tôn của Hiến pháp, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả
cải cách tư pháp, một nhiệm vụ lớn và trọng tâm lúc này là căn chỉnh, hoàn
thiện hệ thống pháp luật về tư pháp cho phù hợp với tinh thần và nội dung của
Hiến pháp mới và các định hướng của Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020. Bởi vậy, chúng trở thành trọng tâm nghiên cứu của nhiều nhà lý luận,
cán bộ làm công tác thực tiễn trong các ngành bảo vệ pháp luật.
Cho đến nay đã có nhiều công trình chuyên khảo nghiên cứu các biện
pháp ngăn chặn đáng chú ý của các tác giả mà ở các mức độ nhất định đã
phân tích và xây dựng khái niệm biện pháp ngăn chặn theo một số nội dung,
như: Đối tượng bị áp dụng, căn cứ chủ thể và mục đích áp dụng các biện pháp
4
7
về bản chất pháp lý, căn cứ áp dụng, người có thẩm quyền áp dụng, đối tượng
bị áp dụng, mục đích và phạm vi áp dụng để đưa ra khái niệm khoa học về
biện pháp ngăn chặn nói chung. Phân loại ba biện pháp ngăn chặn nêu trên
với các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự khác theo nhiều tiêu chí và căn
cứ; nghiên cứu những nguyên tắc áp dụng, sửa đổi, bổ sung chúng nói riêng
trong Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam trên cơ sở số liệu thực tiễn tỉnh Tuyên
Quang từ giai đoạn năm 2010 đến năm 2014.
4.2.2. Giới hạn về giai đoạn tố tụng: Cơ sở pháp lý quan trọng của hoạt
động áp dụng pháp luật về ba biện pháp ngăn chặn của Cơ quan tiến hành tố
tụng trong Bộ luật tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang ở giai đoạn
thực hiện, áp dụng theo quy định.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận khoa học của chủ
nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các
Chỉ thị, Nghị quyết, đường lối chính sách, quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về tăng cường pháp chế trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân. Đó là cơ sở phương pháp luận để giải quyết nội dung cần nghiên
cứu của luận văn. Ngoài ra, luận văn còn dựa vào những thành tựu đã đạt
được từ các chuyên ngành khoa học pháp lý, như: Triết học, lịch sử nhà nước
và pháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình
sự, luật tố tụng hình sự, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài viết
trong các tạp chí của nhiều nhà khoa học luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phép biện chứng duy vật
của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử theo quan
hoàn thiện về các chế định trong ba biện pháp ngăn chặn, từ đó đề ra phương
9
hướng hoàn thiện để nâng cao hiệu quả phục vụ công cuộc xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam có nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ,
nghiêm minh, bảo vệ công lý và quyền con người.
7. Ý nghĩa lý luận và thực hiện của luận văn
Có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Điều tra viên, Kiểm sát
viên và Thẩm phán các cấp nói chung, đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên,
Thẩm phán hai cấp ở tỉnh Tuyên Quang nói riêng, để nghiên cứu, áp dụng
trong hoạt động thực tiễn đối với việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư
trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo pháp luật trên cơ
sở giải quyết và áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên địa bàn tỉnh Tuyên
Quang nhằm nâng cao trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ.
Ngoài ra kết quả nghiên cứu của luận văn còn có thể được sử dụng
để xây dựng các kỹ năng nghề nghiệp, các thao tác nghiệp vụ trong quan
hệ phối hợp.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
Luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn trong
Luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về các
biện pháp ngăn chặn (Cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có
giá trị để bảo đảm) và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai
đoạn 2010 – 2014.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng về các biện pháp
ngăn chặn (Cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị
5.
Trần Duy Bình (2012), “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định
của Bộ Luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giữ”, Tạp chí
Toà án nhân dân, 18(9), tr. 30-34.
6.
Bộ Chính trị (2000), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một
số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.
7.
Bộ Chính trị (2006), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến
lược cải cách hệ thống tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
8.
Bộ Nội Vụ (1982), Giáo trình nghiệp vụ tố tụng hình sự, chương trình
đào tạo Đại học Công an, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
9.
Bộ Tư pháp (Viện Khoa học pháp lý) (2006), Từ điển Luật học, Nxb
Từ điển Bách khoa & Nxb Tư pháp, Hà Nội.
11
19. Nguyễn Đức Dũng (2010), “Thực hiện quy định tại Điều 93 Bộ Luật
tố tụng hình sự như thế nào cho chính xác”, Tạp chí Tòa án Nhân dân,
(7), tr. 24-26.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết sổ 48-NQ/TW, Bộ Chính
trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW, Bộ Chính
trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban
Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Nguyễn Văn Điệp (1996), Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình
sự Việt Nam, Trường Đại học Luật, Hà Nội.
26. Nguyễn Văn Điệp (2005), Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm
giam trong tố tụng hình sự Việt Nam. Thực trạng, nguyên nhân và giải
pháp, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
27. Trần Văn Độ (2012), “Hoàn thiện các quy định của bộ Luật tố tụng
hình sự về biện pháp tạm giam”, Tạp chí Kiểm sát, 21(11), tr. 37-45.
28. Nguyễn Sơn Hà (2014), “Hoàn thiện các quy định về biện pháp ngăn
chặn trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền của bị can, bị cáo đáp
ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát, 20(10), tr. 47-50.
29. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2003), Nghị quyết số 02
ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình
sự, Hà Nội.
14
44. Quốc hội (2001), Luật tổ chức Quốc hội, Hà Nội.
45. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội.
46. Quốc hội (2003), Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân
dân, Hà Nội.
47. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
48. Quốc hội (2006), Các văn bản hướng dẫn Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
49. Quốc hội (2009), Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Hà Nội.
50. Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội.
51. Quốc hội (2014), Luật cư trú, Hà Nội.
52. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng Hình sự (sửa đổi năm 2015), Hà Nội.
53. Hoàng Thị Minh Sơn (2006), Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn, Trong sách: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb
Tư pháp, Hà Nội.
54. Hoàng Đình Thanh (2012), “Một số điểm bất cập về tạm giữ và thủ tục
bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong Bộ Luật tố tụng hình sự
năm 2003”, Tạp chí Toà án Nhân dân, 23(12), tr. 05-06.
55. Trịnh Văn Thanh (2001), Hệ thống biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng của lực
lượng vũ trang nhân dân, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
56. Trịnh Văn Thanh (2001), Hệ thống biện pháp ngăn chặn trong tổ tụng
hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng của lực
lượng cảnh sát nhân dân, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
57. Nguyễn Duy Thuân (1999), Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng
hình sự - Những vấn đề về lý luận và thực tiễn, NxbCông an nhân dân,
Hà Nội.
Nhân dân, 13(7), tr. 37.
16
71. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2010), Báo cáo tổng kết
công tác của ngành kiểm sát Tuyên Quang, Tuyên Quang.
72. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2011), Báo cáo tổng kết
công tác của ngành kiểm sát Tuyên Quang, Tuyên Quang.
73. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2012), Báo cáo tổng kết
công tác của ngành kiểm sát Tuyên Quang, Tuyên Quang.
74. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2013), Báo cáo tổng kết
công tác của ngành kiểm sát Tuyên Quang, Tuyên Quang.
75. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2014), Báo cáo tổng kết
công tác của ngành kiểm sát Tuyên Quang, Tuyên Quang.
76. Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1994), Tội phạm học, luật
hình sự và Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
77. Võ Khánh Vinh (2006), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
78. Võ Khánh Vinh (2007), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
79. Trương Vĩnh Xuân và Phùng Thị Thanh Liêm (2014), “Cụ thể hoá các
quy định về quyền con người trong Hiến pháp năm 2013 vào Bộ Luất
tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, 23(12), tr. 21-24.
80. Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn
hóa I Thông tin, Hà Nội.
17