Tổ chức thực hiện chương trình tập huấn nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư về khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ của người dân Lục Dạ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An - Pdf 38

LỜI CẢM ƠN
Qua bài giảng lý thuyết trên lớp kết hợp với quá trình làm chuyên đề, giúp
cho em rút ra được nhiều điều:
Củng cố, nắm chắc phần lí thuyết để học trấn lớp.
Bổ sung thêm những kiến thức mới
Sáng tạo, vận động linh hoạt kiến thức để học vào quá trình làm tiểu luận.
Hiểu rõ hơn bản chất vấn đề về môi trường.
Hiểu rõ hơn về môn học
Nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường.
Hiểu rõ về hơn về truyền thông môi trường
Em xin gửi lời cảm ơn đến cô, người đã hướng dẫn em hoàn thành bài
chuyên đề này. Với thời gian và khả năng còn hạn chế, tiểu luận không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Em mong nhận được sự góp ý chân tình từ cô để em
hoàn thiện bổ sung kiến thức được đúng và đầy đủ hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thị Minh Anh

1


MỤC LỤC

2


Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có điều kiện tự nhiên thuận lợi nên
tài nguyên rừng rất phong phú, đa dạng. Từ xa xưa tài nguyên rừng đã gắn bó


năng mang lại thu nhập kinh tế cũng như kĩ thuật gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng
chúng gắn với quản lý rừng bền vững, đồng thời cần xây dựng và quảng bá những
mô hình trình diễn về cung cấp LSNG để người dân học tập và làm cơ sở chuyển
giao công nghệ phát triển LSNG.
Xã Lục Dạ là xã nghèo của huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, đời sống
văn hóa, y tế, giáo dục còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Hầu hết các thôn, bản là
đồng bào dân tộc nên đa số có trình độ dân trí thấp, còn có người không biết
chữ. Cuộc sống của họ dựa vào tài nguyên rừng, nhất là nguồn LSNG. Các hoạt
động khai thác và buôn bán LSNG xảy ra thường xuyên không theo quy luật
nào, không có giá cả ổn định và cũng không chịu sự quản lý chặt chẽ của một cơ
quan chức năng nào. Trong thực tế, rất nhiều nguồn tài nguyên LSNG đã cạn
kiệt, không có giá trị khai thác nữa mặc dù trước đây có rất nhiều. Nguyên nhân
dẫn đến thực trạng này là do người dân chỉ biết khai thác kiệt sản phẩm của các
loài cây cho LSNG mà chưa chú ý tới việc gây trồng, chăm sóc, quản lý và khai
thác một cách hợp lý. Hậu quả là nguồn tài nguyên dần bị suy thoái, ảnh hưởng
xấu đến cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học của rừng. Vì thế, việc trang bị
kiến thức về bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên LSNG là một việc làm cấp
thiết.
Để bảo vệ và phát triển bền vững LSNG cho sinh kế của người dân nơi
đây, việc tìm hiểu thực trạng khai thác, sử dụng, đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, giáo dục về nguồn tài nguyên LSNG trong toàn cộng đồng địa phương
các loại lâm sản này là cần thiết. Vì vậy tôi thực hiện chuyên đề: “ Tổ chức
thực hiện chương trình tập huấn nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư về
khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ của người dân Lục Dạ, huyện Con
Cuông, tỉnh Nghệ An" nhằm tạo sự chuyển biến và nâng cao nhận thức, ý thức,
trách nhiệm xã hội của người dân trong việc gìn giữ và bảo vệ nguồn tài nguyên
LSNG; xây dựng ý thức sinh thái, làm cho mọi người nhận thức một cách tự
giác về vị trí, vai trò, mối quan hệ mật thiết giữa tự nhiên - con người - xã hội


Nguồn thực vật cho LSNG rất phong phú và đa dạng. Theo thống kê số
loài được sử dụng để làm thuốc chiếm ưu thế nhất về số lượng loài, điều này cho
thấy kiến thức chữa bệnh bằng thuốc nam của người dân rất phong phú, những
kiến thức này đã và đang được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng. Kết quả điều
tra về thành phần loài và công dụng của các loài cây dược liệu được trình bày ở
bảng 2.

5


Bảng 1: Thành phần loài và công dụng của các loài cây dược liệu
T
T

Tên loài
Tên Việt
Nam

Tên Khoa Học

Bộ
phận
dùng

Công dụng

Mức
độ
thườn
g gặp


3

Nhân
trần

Adenosma caeruleum

Thân

Chữa vàng da, sốt nóng,
tiểu tiện không thông và
cho phụ nữ sau khi sinh ++
uống làm ăn ngon,
chóng lại sức.

4

Riềng
nếp*

Alpinia galangal

Thân
rễ

Chữa đau bụng, tiêu
++++
chảy, nôn mửa, lỵ.


ra mồ hôi, làm dịu
+++
họng, lợi tiêu hoá,
chống ngứa.

7

Bạc hà

++++

8

Cẩu
tích*

Cibotium barometz

Thân rễ trị thấp khớp,
Thân
đau lưng, đau dây thần
rễ và
+
kinh, người già đi tiểu
lông
nhiều lần.

9

Chè



Dicranopteris
dichotoma

Dùng trong trường hợp
Thân kém ăn, ăn không tiêu,
rễ (củ nôn mửa, đi ngoài tiêu ++++
gừng) chảy, làm toát mồ hôi,
chữa ho mất tiếng.
Chữa thận hư, tiêu chảy
kéo dài, đau lưng mỏi
+
gối, bong gân, sai khớp,
gãy xương.

Bổ cốt
Drynaria fortunei
toái*

Thân
rễ

Hoàng
đằng*

Thân
Trị các loại sưng viêm,
già và
kiết lỵ, viêm ruột ỉa +++

+++
nhức mỏi hoặc co quắp,
tê bại.

15

Ích mẫu

Leonurus japonicus

Toàn
cây

Chữa các bệnh về kinh
nguyệt, làm an thai,
++
chữa viêm thận, phù
thũng, đái ra máu.

16

Khôi tía

Ardisia sylvestris



Chữa đau dạ dày

+++


21

22

23

phục
linh

rễ

nhọt, lở ngứa, giang
mai, giải độc thuỷ ngân,
dị ứng.

Sa nhân
Alpinia sp.
sẹ

Thân,
rễ

Làm thuốc bổ cho phụ
nữ sau khi sinh, tiêu +++
thực và an thai

Quế

Vỏ

Vỏ
thân,
rễ

Rễ làm thuốc bổ; vỏ
cây chữa cảm sốt,
++++
họng sưng đau, thấp
khớp.

Cinamomum cassia

Hà thủ ô Streptocaulon
trắng
juventas

Nghệ

Chân
chim

Nguồn: điều tra thực địa và phỏng vấn người dân
Mức độ gặp: ++++: rất nhiều; +++: trung bình; ++: gặp ít; +: hiếm gặp
(*): Những loài LSNG được khai thác buôn bán chủ yếu trong những năm gần
đây.

2.2.2 Các cây cho rau, quả, thực phẩm, gia vị

8



Quả

Ăn quả

Nương

2

Rau dền cơm

Amaranthus viridis

Thân, lá

Rau ăn

Nương bãi

3

Tre gai

Bambusa blumeana

Măng

Làm rau

Đồi, rừng


Cylosorus
paraciticut

Thân

Làm rau

Nương, bãi

7

Rau má

Centella asiatica

Cả cây

Rau, nấu
Ven ruộng
canh

8

Rau sam

Portulata oleracea

Thân, lá


11

Mùi tàu

Eryngium foetidum



Gia vị

Nương,
vườn

Quả

Làm
màu cho
thực
Đồi, nương
phẩm
(nấu xôi)

12

9

Gấc

Momordica
cochinchinensis

Dioscorea
peperoides

Củ

Luộc ăn

Rừng, đồi

16

Củ từ

Dioscorea sp.

Củ

Luộc ăn

Rừng, đồi

17

Khoai sọ

Colocasia esculenta Củ

Luộc ăn,
Rừng, đồi
nấu canh


Oxalis corniculata

Thân, lá

Nấu
canh

Đồi,
ruộng

21

Rau bợ

Marcilea
quadripholya

Thân

Làm rau

Nương bãi,
ven ruộng

22

Chân chim

Schefflera

Môi (Lamiaceae), nhóm này chủ yếu là cây thân thảo, đây là những cây tương đối
dễ sống và có thể trồng với diện tích lớn. Đồng thời chúng có thể trồng quanh năm
và mỗi năm có thể thu hái từ 1 đến 2 lần. Tinh dầu của nhóm này rất quí, có thể
dùng làm hương liệu trong công nghiệp dược phẩm và các chế phẩm có liên quan

10


như thuốc đánh răng, nước uống, các loại mứt kẹo, thuốc lá, các loại kem chống
ngứa…
Bảng 3. Một số loài LSNG cho tinh dầu tại vùng nghiên cứu
Tên loài
TT

Tên Việt
Nam

Tên Khoa Học

Họ

Bộ phận sử
dụng

1

Vông vang

Abelmoschus mostratus


Myrtaceae



Chổi xuể

Baeckea frutescens

Myrtaceae

Phần trên mặt
đất
Thân rễ

5
6

Thiên niên Homalomena occulta
kiện

Araceae

7

Gừng

Dicranopteris dichotoma

Zingiberaceae Củ


Bạc hà

Lamiaceae

Toàn cây

12

Hoắc hương Pogostemon cablin

Lamiaceae



Mentha avensis

Nguồn: Nguyễn Anh Dũng, 2007
Đối với cây Hương Lâu ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho làm hương, thì tinh
dầu của nó cũng rất có giá trị và được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng, giá
xuất khẩu của nó ở Việt Nam là 30USD/kg. Giá trị nhất phải kể đến đó là tinh dầu
Vông Vang, giá trị xuất khẩu đi các nước trên thế giới là 5.000USD/kg, loại cây
này dễ gặp ven đường đi hay ở các nương đồi thấp, tuy nhiên số lượng chúng thì
lại không nhiều, do đó rất khó khăn trong việc trồng hay thu hái với số lượng lớn.
Riêng họ Sim (Myrtaceae) và họ Gừng (Zingiberaceae) đều có 2 loài cho tinh
dầu. Các cây thuộc 2 họ này mọc khá phổ biến ở vùng nghiên cứu với số lượng
lớn, rất thuận lợi cho việc thu hái.
11


Bên cạnh những loài cây cho tinh dầu cộng đồng địa phương còn biết khai thác sử

Thầu dầu

Ricinus communis

Dầu béo

Hạt

4

Xoan ta

Melia azedarach

Nhựa

Thân

5

Trẩu

Vernicia montana

Dầu

Hạt

Cộng dụng


Bên cạnh đó, từ xa xưa, người dân đã biết dùng những cây cho chất
nhuộm để nhuộm màu quần áo, vải,... làm đẹp cho chính mình và gia đình.
Nhóm sản phẩm này được người dân sử dụng hữu ích. Tuy nhiên, ngày nay đa
số người dân đều dùng các sản phẩm công nghiệp, có nhiều mẫu mã và nhiều
màu sắc rất đẹp nên hầu như họ không cần phải nhuộm màu nữa. Vì vậy mà các
sản phẩm cho chất nhuộm ít được để ý đến, họ chỉ chú ý đến những loài phục vụ
trực tiếp cho cuộc sống hàng ngày và những loài đưa lại lợi nhuận trước mắt.
Ngoài ra, những năm trước khi mà nghề dệt thổ cẩm đang phát triển các
loại cây Bông, Chàm, Củ nâu đã được khai thác để cung cấp nguồn sợi, chất
nhuộm. Tuy nhiên, hiện nay nghề dệt này bị mai một chỉ còn một số ít hộ hay
vài tổ chức nhỏ còn tiếp tục nghề này và chủ yếu họ sử dụng sợi và phẩm màu
công nghiệp được bán nhiều trên thị trường, do đó các loài LSNG trên cũng
không được khai thác nhiều.

13


Bảng 5: Một số loài cây cho LSNG khác

T
T
1

2

3

Tên loài
Tên Việt
Nam

thường
Rừng, ven
được
đập suối
lấy nhân ăn
bùi và béo.

Củ

Củ
làm
phẩm
Rừng
nhuộm.

4

Gấc

Momordica
cochinchinensis

Quả

Lấy phần
bao quanh
Vườn
hạt làm màu
nhuộm


singalus



Chất nhuộm

Đồi,
ven
đường

8

Phong lan

Cây

Cây cảnh

Rừng

Thân

Thân cho
sản phẩm
Rừng, đồi
nhuộm màu
vàng

9



Dùng làm
vật liệu xây
dựng, măng
để ăn.

Rừng

Thân

Dây buộc,
đan lát, làm

mảng,
măng để ăn

Rừng

Làm hàng
Dưới
thủ
công,
rừng
dây buộc

12

Mây song

Calamus sp.

Làm
vật
liệu
xây
dựng, hàng
Rừng
thủ
công,
măng dùng
để ăn

Calamus
tetradactylus

Đan lát, làm
hàng
thủ
công
mỹ Dưới
nghệ, trồng rừng
làm
hàng
rào

Thân

tán

tán


như phơi/ sấy hoặc sao khô ở các hộ gia đình.
* Nhóm cây cho lương thực, thực phẩm:
+ Nhìn chung các loại LSNG dùng làm lương thực hiện nay được người
dân thu hái lẻ tẻ cho mục đích sử dụng gia đình là chính. Hình thức chế biến cho
sử gia đình cũng rất đơn giản như nấu canh để ăn trong các bữa cơm gia đình
hoặc luộc hay rang để ăn vào các bữa phụ.
+ Các loài cây làm thực phẩm, rau ăn gồm nhiều loài dùng làm rau ăn
dưới dạng cành lá, thân đều khai thác khi bộ phận đó còn non như rau ngót
16


rừng, rau tày bay, rau dớn,… Nếu dùng để chăn nuôi có thể lấy già hơn. Thời
điểm khai thác có thể ở các tháng khác nhau trong năm tuỳ thuộc từng loài cụ
thể.
+ Các loại quả có thể khai thác lúc còn non hoặc khi già, lúc xanh hoặc
chín tuỳ theo từng loài.
+ Quan trọng nhất trong nhóm này phải kể đến các loại măng tre, giang,
nứa,… của rừng được người dân thu hái không chỉ cho mục đích sử dụng gia
đình mà phần lớn chủ yếu để bán trên thị trường ở hầu hết các tỉnh trên toàn
quốc.
+ Hình thức chế biến và bảo quản các loại LSNG thuộc nhóm này cũng
rất đơn giản: đối với các loại rau có thể sử dụng để ăn sống hoặc nấu canh; các
loại măng tre, nứa thường được sơ chế theo kinh nghiệm cổ truyền của người
dân địa phương như luộc, muối chua hoặc luộc rồi phơi khô và dự trữ trên dàn
bếp,…
* Các loại cây dùng làm hàng thủ công mỹ nghệ:
+ Song mây là các loại LSNG thường dùng để đan lát, làm bàn ghế, lẵng
hoa. Kinh nghiệm của nhân dân thường dùng chọn những cây mây dài 4- 5m trở
lên mới chặt, sau đó bóc bẹ từ phía gốc, vừa bóc vừa kéo để lấy sợi mây ra cuộn
thành vòng tròn đem bán; với các loài song chọn những cây trong bụi những đốt

hốc và đốt để kính thích nhựa chảy xuống hoặc dung dụng cụ chuyên dùng tạo
rãnh xương cá hoặc rãnh xoắn theo thân cây có máng dẫn và bát hứng nhựa.
+ Nhóm LSNG này được khai thác cho mục đích thị trường là chính.
Nhưng ở địa phương người dân ít khai thác nhóm này vì họ không nắm rõ về
các cây cho nhựa ở trong rừng và do không có người mua.
- Các loại cây cho tinh dầu:
+ Với các loại cây này thường thu hái cành, lá bánh tẻ để sử dụng trực
tiếp hoặc chưng cất thủ công như nấu rượu. Người dân thường sử dụng dưới
hình thức phổ biến là đun sôi dung gội đầu, tắm, hoặc uống,…
- Các loại cây cho tanin:
+ Các loài cây có vỏ chứa nhiều tanin như Xà cừ, dẻ,… hay cành lá như
sim, ổi, chè,… thường thu hái, khai thác tươi đem về dung ngay dưới dạng nước
sắc. Riêng chè, ổi, sim có thể phơi sấy khô dùng dần.

18


+ Các loại củ chứa tanin như củ Nâu, củ Chuối,… thường để được lâu
hơn sau khi thu hái, bảo quản nơi râm mát để dung dần dưới dạng giã ra ngâm
lấy nước hoặc đun sôi nhuộm lưới, nhuộm da, nhuộm màu quần áo,…
- Các cây cho màu nhuộm:
+ Màu nhuộm thực phẩm là sản phẩm tự nhiên do con người phát hiện và
sử dụng bao đời nay. Các loài có lá, củ cho màu nhuộm như lá dâm bụt, lá sen,
củ nâu,… dùng khi còn tươi. Các loài có hạt, quả cho màu nhuộm có thể dùng
tươi hoặc phơi khô.
+ Cách làm nước màu dung nhuộm thực phẩm, nhuộm quần áo thường được
người dân áp dụng nhất là phương pháp giã nhỏ ngâm nước, hay đun sôi,…
* Các loài cho LSNG khác: như nhóm cây làm cảnh, bóng mát ít được
người dân chú ý đến vì họ phải lo cho cuộc sống hàng ngày nên ít có thời gian
cho việc làm đẹp cho gia đình và hưởng thụ thú vui về tinh thần. Có chăng cũng

hộ
Nguồn
thu
Bản Lục Sơn
Trồng trọt
Chăn nuôi
LSNG
Nguồn khác
Tổng
Bản Tân Hợp
Trồng trọt
Chăn nuôi
LSNG
Nguồn khác
Tổng
Bản Mét
20

Nhóm hộ I
Tổng
Thành tiền thu
(VNĐ)
nhập
(%)

Nhóm hộ II
Thành
tiền
(VNĐ)


5
14,8
5
17,8
3

21.800.000

100

10.100.00
0

3.000.000

30

3.100.000

3.300.000

33

2.700.000

2.500.000

25

2.000.000

2.200.00
0
1.700.00
0
1.900.00
0
1.400.00
0
7.200.00
0
1.500.00
0
2.000.00
0
1.900.00
0
300.000
5.700.00
0

Tổng
thu
nhập
(%)

30,56
23,61
26,39
19,44
100

1.600.000

300.000

32,3
9
38,0
3
25,3
5
4,23

6.000.000

100

1.800.000
2.100.000
1.800.000

1.500.00
0
1.200.00
0
2.100.00
0
600.000
4.400.00
0




này cũng đã biết tân dụng nguồn thức ăn chăn nuôi sẵn có từ thực vật LSNG để
đầu tư và phát triển chăn nuôi. Nguồn thu trực tiếp từ việc khai thác thực vật
LSNG vẫn chỉ được xếp ở vị trí cuối cùng vì nơi đây người ta vẫn tập trung sản
xuất nông nghiệp nhiều hơn bởi địa phương có diện tích đất nông nghiệp khá
bằng phẳng. Nhưng vào những ngày nông nhàn thì người dân thường vào rừng
để thu hái các sản phẩm như măng, các loại hoa quả, cây thuốc,… đem bán. Có
những hộ gia đình đã trồng tại vườn nhà các loại cây LSNG để không phải vào
rừng mà họ vẫn có sản phẩm cần thiết.
Riêng nhóm hộ III là nhóm hộ có bình quân thu nhập thấp nhất. Nguồn
thu lớn nhất của họ chủ yếu là các sản phẩm trồng trọt và dựa vào việc thu hái
các sản phẩm tự nhiên từ rừng để phục vụ cuộc sống chứ chưa có việc gây trồng
và chăm sóc theo qui mô lớn như các nhóm hộ I và II, thậm chí hàng năm vẫn
còn nhiều hộ gia đình còn thiếu ăn, vì họ không có vốn đầu tư cho sản xuất, họ
không có điều kiện áp dụng các tiến bộ kĩ thuật trong trồng trọt, chăn nuôi để
mang lại năng suất cao. Do đó, người dân ở nhóm này thường vào rừng để thu
hái các sản phẩm từ rừng, đặc biệt là các sản phẩm LSNG nên một số nguồn tài
nguyên này đang bị can kiệt và trở nên khan hiếm dần.
Như vậy, người dân một mặt vẫn khai thác mạnh các nguồn thực vật
LSNG nhưng mặt khác họ cũng nhận thấy rằng việc trông chờ vào nguồn thực
vật LSNG từ rừng như hiện nay là không lâu bền, không đảm bảo được cuộc
sống ổn định cho gia đình. Vì vậy, họ đã mạnh dạn nhận đất rừng của xã để gây
trồng chăm sóc và bảo vệ các loài thực vật cho LSNG, nhưng chủ yếu người dân
vẫn là chăm sóc và bảo vệ để hưởng tiền công lao động chứ chưa thực sự gây
trồng rộng rãi.
* Bản Tân Hợp:
So với bản Lục Sơn thì bản Tân Hợp nằm sâu vào phía trong hơn do đó
việc giao lưu, buôn bán cũng gặp nhiều khó khăn. Sản xuất nông nhiệp không
thể cung cấp đủ nhu cầu lương thực do đó người dân phải dựa vào rừng để nâng

bổ sung chủ yếu là từ tài nguyên LSNG. Nguồn này đóng góp trung bình khoảng
40-50% vào thu nhập các nông hộ. Nhưng vốn hiểu biết về việc phát triển thực
vật cho LSNG của người dân địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, chưa phát huy
hết khả năng vốn có của nó, có những loài bị khai thác cạn kiệt và một số loài
hầu như không được để ý đến mặc dù giá trị của chúng không nhỏ. Nguồn thu
do LSNG mang lại chủ yếu thông qua hoạt động thu hái và buôn bán, trong đó
chỉ có một số hộ có vốn vừa có đầu óc kinh doanh và có vị trí thuận lợi mới tiến
hành buôn bán, còn đại đa số người dân là tham gia thu hái. Nhìn chung, việc
khai thác LSNG của người dân chưa hợp lí mặc dù họ có kiến thức về khai thác,
23


chế biến và sử dụng nhiều loài cây khác nhau. Hầu hết người dân nơi đây đều
nhận thức được việc khai thác tài nguyên rừng ngày một khó khăn vì vậy họ
đang tìm cố gắng tìm hướng mưu sinh khác.
2.3.2 Giá trị xã hội
Mặc dù tỉ lệ hộ tham gia khai thác các sản phẩm ngoài gỗ ở xã Lục Dạ
hiện tại không nhiều nhưng đây là hoạt động khá phổ biến của các hộ nghèo. Do
diện tích đất canh tác ít, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất và do nhu cầu lương thực
trước mắt nên người dân thường tranh thủ thời gian nông nhàn hoặc ngay cả khi
trong thời gian sản xuất nông nghiệp (do nhu cầu lương thực cần thiết) để vào
rừng khai thác các sản phẩm ngoài gỗ, đáp ứng nhu cầu trước mắt của gia đình
họ. Vì vậy, xét ở góc độ xã hội, LSNG đã góp phần tạo việc làm, cải thiện và đa
dạng hóa nguồn thu nhập của các nhóm hộ đặc biệt là nhóm hộ nghèo.
Phần thứ ba
KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ

3.1 Kết luận
- Thực vật LSNG có vai trò quan trọng góp phần nâng cao thu nhập cho
cộng đồng người dân địa phương, đặc biệt là những hộ sống liền kề với rừng.

việc đề xuất còn hạn chế.
3.3 Kiến nghị
Qua thời gian thực tập và quá trình làm khóa luận, tôi có một số kiến nghị
sau:
- Cần xây dựng mạng lưới thông tin thị trường từ huyện đến các thôn bản
nhằm cung cấp đầy đủ thông tin đến người dân
- Cần tổ chức nhiều hơn các khóa tập huấn, nâng cao nhận thức cho cộng
đồng về bảo về nguồn tài nguyên LSNG
- Cần có một đội ngũ làm công tác truyền thông , giáo dục bảo vệ tài
nguyên rừng nói chung và nguồn tài nguyên LSNG nói riêng trên địa bàn.
- Các nhà khoa học, quản lý cần đầu tư nghiên cứu các giống cây trồng
cho LSNG có giá trị có thể trồng ở những vùng đất khác nhau trên địa bàn xã
Lục Dạ nói riêng, cũng như trên địa bàn Vườn quốc gia quản lí nói chung.
- Cần tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm đến từng xã.
- Đầu tư xây dựng các khu chế biến LSNG tại chỗ.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status