Nghiên Cứu Tri Thức Bản Địa Về Khai Thác Và Sử Dụng Tài Nguyên Cây Thuốc Của Cộng Đồng Dân Tộc Nùng Tại Tỉnh Lạng Sơn - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------

NGUYỄN THỊ NGỌC MAI
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG
TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC NÙNG TẠI
XÃ HỮU KHÁNH, HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý tài nguyên rừng

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa

: 2011 - 2015

Thái Nguyên - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN


Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------

NGUYỄN THỊ NGỌC MAI

NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG
TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC NÙNG TẠI
XÃ HỮU KHÁNH, HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Quản lý tài nguyên rừng

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa


tỉnh Lạng Sơn cùng người dân trong xã Hữu Khánh - huyện Lộc Bình, đã tạo điều
kiện giúp em trong quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này.
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 17 tháng 06 năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Thị Ngọc Mai


iii

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 4.1: Bảng các loài thực vật được cộng đồng dân tộc Nùng khai thác sử
dụng làm thuốc tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn..23
Bảng 4.2: Bảng tóm tắt tri thức bản địa trong khai thác, sử dụng các loài cây
thuốc ..........................................................................................................30
Bảng 4.3: Các bài thuốc của cộng đồng dân tộc Nùng tại xã Hữu Khánh huyện
Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn .......................................................................34
Bảng 4.4. Cây thuốc được người dân nhắc đến với số lần nhiều nhất từ cao
xuống thấp ................................................................................................40
Bảng 4.5: Bảng mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số loài cây tiêu
biểu được cộng đồng dân tộc Nùng sử dụng làm thuốc .......................41
Bảng 4.6. Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài tại xã Hữu Khánh,
huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn..............................................................50


iv



Sách đỏ Việt Nam

STT

Số thứ tự

THCS

Trung học cơ sở

UNESCO

Tổ chức di sản văn hóa thế giới

VU

Bị đe dọa, sắp nguy cấp

WHO

Tổ chức y tế thế giới

WWF

Tổ chức quỹ thiên nhiên thế giới


vi


Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn khoa học của ThS. Phạm Thu Hà và TS. Đỗ Hoàng Chung.
Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn trung
thực và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào.
Nội dung khóa luận có tham khảo và sử các tài liệu, thông tin được
đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí,…đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Thái Nguyên, 17 tháng 06 năm 2015
Giảng viên hướng dẫn

Sinh viên

ThS. Phạm Thu Hà

Nguyễn Thị Ngọc Mai

TS. Đỗ Hoàng Chung
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng đánh giá chấm.
(Ký, họ và tên)


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường
sống, luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi. Rừng

37% số loài đã biết. Đó chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 53 dân
tộc thiểu số ở Việt Nam, cho đến nay chúng ta chỉ mới biết được có một phần.
Ngoài ra các nhà khoa học Nông Nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng
trong đó cũng có 179 loài cây sử dụng làm thuốc. Theo kết quả điều tra của
viện dược liệu trong thời gian 2002 – 2005 số loài cây thuốc ở một số
vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trường Sơn như sau: Đắc Lắc
(751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (814 loài), Lâm Đồng (756 loài).
Với hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc hết sức phong phú
và đa dạng.
Sức khỏe lại là một phần quan trọng của con người, trong mỗi chúng ta
không phải lúc nào cũng khỏe và ai cũng khỏe cả, mà nhiều lúc ốm đau, bệnh
tật cần thuốc chữa bệnh nhằm ổn định và nâng cao cuộc sống hằng ngày. Với
các đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa xôi hẻo lánh khi mà nguồn
thuốc tây y không phục vụ đến kịp thời. Các bài thuốc Nam lại là nguồn
nguyên liệu sẵn có, đó là các loài cây xung quanh mình để sử dụng làm thuốc
an toàn và có hiệu quả. Chính vì thế mà các loài thuốc dân gian của các đồng
bào dân tộc thật sự cần thiết và hết sức quan trọng đôi khi được xem như là
“sức mạnh vô hình” cứu sống tính mạng con người.
Hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị suy giảm nghiêm
trọng, kéo theo đa dạng sinh học cũng bị giảm trong đó có cả cây thuốc bản
địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần, việc nghiên cứu phát hiện


3
và bảo tồn tiến đến sử dụng bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa là một vấn
đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Đối với các cộng đồng dân tộc ở xã
Hữu Khánh - huyện Lộc Bình - tỉnh Lạng Sơn họ có những bài thuốc, kinh
nghiệm rất hay, đơn giản nhưng hiệu quả trong việc chữa bệnh. Vấn đề đặt ra
là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử
dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc xuất phát từ lý do trên tôi

Tri thức bao gồm sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên
xung quanh con người. Tri thức được tích lũy từ những kinh nghiệm của quá
trình lao động sản xuất thực tiễn trong cuộc sống hàng ngày của con người,
trải qua thời gian dài lịch sử, tri thức được tồn tại và phát triển qua sự trải
nghiệm của nhân dân lao động.
Vậy tri thức bản địa là gì? Theo định nghĩa chung cuả tổ chức UNESCO,
tri thức bản địa là tri thức hoàn thiện được duy trì, tồn tại và phát triển trong
một thời gian dài với sự tương tác qua lại gần gũi giữa con người với môi
trường tự nhiên nó được truyền miệng từ đời này sang đời khác và rất ít khi
được ghi chép lại. Tri thức bản địa là nguồn tài nguyên quốc gia giúp ích rất
nhiều cho quá trình phát triển theo những phương sách ít tốn kém, có sự tham
gia của người dân và đạt được sự bền vững. Các dự án phát triển dựa trên cơ
sở tri thức bản địa sẽ lôi kéo được nhiều người dân tham gia, vì nó hợp với
suy nghĩ của nhân dân, dân biết phải làm gì và làm như thế nào. Đó chính là
cơ sở của sự thành công. Đặc điểm quan trọng của tri thức bản địa là luôn
thích ứng với sự thay đổi của môi trường, các cộng đồng cư dân địa phương
luôn có ý thức bản địa hóa những du nhập từ bên ngoài có lợi và thích hợp với
cộng đồng.
Trước đây người ta khái niệm lâm sản chủ yếu là gỗ, ít quan tâm đến các
thành phần khác gỗ. Ngày nay, trong các chiến lược phát triển bền vững của
các dự án lâm nghiệp xã hội, nông lâm kết hợp người ta đã chú ý nhiều đến
các lâm sản khác ngoài gỗ và có khái niệm cơ bản về Lâm sản ngoài gỗ là bao
gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ


5
rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ ở
tất cả các hình thái của nó. Các loài cây thuốc đa phần là các sản phẩm Lâm
sản ngoài gỗ thuộc một phần của tài nguyên thực vật. Tài nguyên thực vật là
tổng hợp của sinh quyển trong một loạt các thảm thực vật. Tài nguyên thực

cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn. Năm 1972 tác giả N.G. Kovalena đã
công bố rộng rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại
lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khỏe của con người. Qua cuốn sách
“Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại
cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lượng đã được định sẵn (Trần Thị Lan,
2005) [4]. Đến năm 1992, J.H.de Beer- một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ
chức nông lương thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trường và của Lâm
sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc cải thiện đời
sống cho người dân ở miền núi sống ở trong và gần rừng, thu hút họ tham gia
vào việc quản lí và bảo vệ tài nguyên rừng bền vững, giúp họ có thể yên tâm
sống chủ yếu vào nghề rừng.
Theo ước tính của tổ chức Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng
35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích
chữa bệnh trên toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô
cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức
khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa. Theo báo cáo của
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang
phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu
hoặc qua các chất chiết suất từ dược liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006) [ 6]. Tiến sĩ
James A.Dule – nhà dược lý học người Mỹ đã có nhiều đóng góp cho tổ chức
Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách
thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các loại cây thuốc
(Trần Thị Lan, 2005) [4].


7

2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam nằm trong miền khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, thích hợp cho
sự phát triển của thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng. Một số vùng cao

dụng kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường. Được sự nhất trí của Ban
giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp - Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây
thuốc của các cộng đồng dân tộc Nùng tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình,
tỉnh Lạng Sơn"
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, bản báo cáo thực tập
tốt nghiệp của em đã hoàn thành.
Vậy em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa
Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và hướng
dẫn chúng em.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS. Phạm Thu Hà
thầy giáo TS. Đỗ Hoàng Chung đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá
trình thực hiện đề tài.
Em xin cảm ơn các ban ngành lãnh đạo UBND xã Hữu Khánh huyện Lộc Bình
tỉnh Lạng Sơn cùng người dân trong xã Hữu Khánh - huyện Lộc Bình, đã tạo điều
kiện giúp em trong quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này.
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 17 tháng 06 năm 2015
Sinh viên

Nguyễn Thị Ngọc Mai


9
phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả
cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm nhanh
chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng
của một số lớn các cây thuốc. Vì vậy việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây

Nam đã làm mất đi những vùng rừng rộng lớn vốn có nhiều cây thuốc mọc tự
nhiên chưa kịp khai thác.
- Hầu hết các cây thuốc có giá trị sử dụng và kinh tế cao, mặc dù có vùng
phân bố rộng lớn, trữ lượng tự nhiên tới hàng ngàn tấn, như Vằng đắng, các
loài Bình vôi hoặc hàng trăm tấn như Hoằng đắng nhưng do khai thác quá
mức, không chú ý bảo vệ tái sinh, dẫn đến tình trạng mất khả năng khai thác.
Một số loài thuộc nhóm này như Ba kích, Đẳng sâm…đã phải đưa vào Sách
đỏ Việt Nam (1996) và Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2004)
nhằm khuyến cáo bảo vệ.
- Đặc biệt đối với một số loài cây thuốc như Ba kích, Tam thất và Sâm
mọc tự nhiên, Hoàng liên, Lan một lá,…đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt
chủng cao (Nguyễn Văn Tập, 2006) [6].
Việt Nam là một nước có tài nguyên rừng rất đa dạng và phong phú
nhưng vì ở trong những khu rừng hay gần rừng lại thường tập trung nhiều
thành phần dân tộc sinh sống, có nhiều nền văn hóa đặc sắc khác nhau, kiến
thức bản địa trong việc sử dụng cây làm thuốc cũng rất đa dạng và phong phú,
mỗi dân tộc có các cây thuốc và bài thuốc riêng biệt, cách pha chế và sử dụng
khác nhau. Nên hiện nay nguồn tài nguyên rừng của chúng ta đang bị giảm
sút nghiêm trọng, kéo theo sự đa dạng sinh học cũng bị suy giảm trong đó có
cả một số cây thuốc bản địa có giá trị chưa kịp nghiên cứu cũng đã mất dần,
vậy việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn sử dụng tài nguyên cây thuốc bản
địa là một việc rất cần thiết. Đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số, họ có
những bài thuốc kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhưng chữa bệnh lại hiệu quả


11

rất cao. Lạng Sơn cũng là một tỉnh tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống
đặc biệt là huyện Lộc Bình nơi có khá nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh
sống trong rừng và gần rừng, trong đó có dân tộc Nùng. Chính vì vậy, đây là

lượng mưa từ tháng 5 đến tháng 9. Tốc độ gió trung bình năm là 2,0 m/s, mùa
đông có gió mùa Đông Bắc, hiện tượng sương muối xảy ra ảnh hưởng mạnh
đến sản xuất nông nghiệp. Độ ẩm trung bình cả năm là 82%.
2.3.1.3. Tài nguyên đất, Tài nguyên nước
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 1.932,69 ha chia thành 7 thôn. Trong đó
diện tích đất sản xuất nông nghiệp 242,3ha.
Về cơ cấu thổ nhưỡng, đất của xã Hữu Khánh là đất feralit hình thành
trên đá cát kết và cát bột kết, phân bố chủ yếu trên dạng địa hình đồi trung
bình và đồi cao.
- Trên độ cao 700 – 1.000 m là đất feralit có mùn trên núi, đất màu
vàng nhạt, hàm lượng mùn trên 6%.
- Trên độ cao > 1.000m là loại đất mùn alít với tầng đất mặt màu đen,
hàm lượng mùn thô đạt đến 10%.
Nguồn nước mặt:
Lượng nước sông suối khá lớn vào mùa mưa, nhưng vào mùa khô lượng
nước giảm mạnh không đủ cho nhu cầu dân sinh, mặt khác chênh lệch dòng
chảy trong năm nhiều, hệ số biến đổi dòng chảy năm trên khu vực là 0,35 0,36, đây là điểm bất lợi trong việc lập các phương án sử dụng nguồn nước.
Nguồn nước ngầm:
Trữ lượng và tiềm năng nước ngầm Hữu Khánh là không lớn và khả
năng khai thác rất hạn chế vì địa hình hiểm trở, phân bố dân cư không tập
trung, cơ sở hạ tầng nông thôn còn hạn chế và điều kiện kinh tế của người dân
trong vùng còn khó khăn nên việc đầu tư xây dựng các công trình khai thác
nước ngầm còn gặp nhiều trở ngại.


13

2.3.1.4. Tài nguyên rừng
Xã Hữu Khánh có trữ lượng rừng không lớn, thực vật, động vật đa
dạng, nhiều cây dược liệu quý và cây ăn quả đặc sản nổi tiếng, tuy nhiên

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Tri thức bản địa về khai thác và sử
dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng dân tộc Nùng.
- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Hữu Khánh, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
3.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014
3.3. Nội dung nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu đặt ra của đề tài có những nội dung sau:
. Nội dung 1: Xác định các loài cây được người dân khai thác và sử dụng
làm thuốc chỉ ra tên phổ thông, tên dân tộc, tên khoa học của các loài cây
thuốc.
Nội dung 2: Tri thức bản địa trong khai thác, sử dụng các loài cây thuốc
- Xác định phương thức khai thác các loài thuốc như: Bộ phận thu hái,
kĩ thuật, mùa vụ thu hái.
- Cách chế biến và sử dụng các loài cây thuốc: Các phương thức chế
biến đối với từng cây ở cộng đồng dân tộc Nùng, từng hộ như bằng cách đơn
giản (phơi khô, gác bếp, dùng tươi..) hay cầu kỳ (phải qua nhiều công đoạn
khác nhau...).
- Phương pháp bảo quản sản phẩm: Biện pháp xử lý, bảo quản sản
phẩm sau thu hoạch.
- Tri thức bản địa của người dân trong việc sử dụng một số bài thuốc dân
gian tại địa phương.


15
Nội dung 3: đặc điểm hình thái của một số loại cây thuốc tiêu biểu được
người dân sử dụng phổ biến.
- Xác định loài cây thuốc tiêu biểu được sử dụng nhiều nhất.
- Mô tả một số đặc điểm hình thái và nơi sống của các loài cây

Bảng 4.2: Bảng tóm tắt tri thức bản địa trong khai thác, sử dụng các loài cây
thuốc ..........................................................................................................30
Bảng 4.3: Các bài thuốc của cộng đồng dân tộc Nùng tại xã Hữu Khánh huyện
Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn .......................................................................34
Bảng 4.4. Cây thuốc được người dân nhắc đến với số lần nhiều nhất từ cao
xuống thấp ................................................................................................40
Bảng 4.5: Bảng mô tả đặc điểm hình thái và sinh thái của một số loài cây tiêu
biểu được cộng đồng dân tộc Nùng sử dụng làm thuốc .......................41
Bảng 4.6. Phân hạng cây thuốc theo mức độ đe dọa của loài tại xã Hữu Khánh,
huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn..............................................................50



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status