Thực trạng khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ tại xã kiên mộc, huyện đình lập, tỉnh lạng sơn - Pdf 43

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên.
Lạng Sơn, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn

Nguyễn Thùy Linh


ii

LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Thực trạng khai thác và sử dụng Lâm sản ngoài gỗ tại xã Kiên
Mộc, huyện Đình Lập, tỉnh Lạng Sơn” được hoàn thành tại Trường Đại học
Lâm nghiệp theo chương trình đào tạo cao học chuyên ngành Lâm nghiệp,
khóa 20 (2012-2014).
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự
qua tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học và các thầy cô
giáo Trường Đại học Lâm nghiệp, các bạn bè đồng nghiệp và các cán bộ địa
phương tại xã Kiên Mộc huyện Đình Lập nơi tác giả thực hiện luận văn.
Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự quan tâm và
giúp đỡ quý báu đó.
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS. Lê
Xuân Trường, người thầy đã hướng dẫn nhiệt tình, truyền đạt kinh nghiệm
quý báu, những ý tưởng trong nghiên cứu khoa học giúp tác giả hoàn thành
luận văn.

1.1.4. Về giá trị kinh tế, xã hội của Lâm sản ngoài gỗ................................................6
1.1.5. Các nghiên cứu về sử dụng bền vững, giải pháp nâng cao vai trò của LSNG ..9
1.2. Ở trong nước ......................................................................................................10
1.2.1. Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ .......................................................................10
1.2.2. Về phân loại Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam ...................................................11
1.2.3. Các nghiên cứu về vai trò, tiềm năng của Lâm sản ngoài gỗ .........................13
1.2.4. Tình hình quản lý Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam ...........................................15
1.3. Một số nghiên cứu về LSNG tại tỉnh Lạng Sơn.................................................17
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, GIỚI HẠN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ..........................................................................................................................19
2.1. Mục tiêu .............................................................................................................19
2.1.1. Mục tiêu chung:...............................................................................................19


iv

2.1.2. Mục tiêu cụ thể: ...............................................................................................19
2.2 Nội dung ..............................................................................................................19
2.2.1. Đánh giá thực trạng LSNG tại xã Kiên Mộc. .................................................19
2.2.2. Các chính sách, hoạt động quản lý, phát triển LSNG tại xã Kiên Mộc. .........20
2.2.3. Kiến thức bản địa về sơ chế, sử dụng LSNG tại địa phương. .........................20
2.2.4. Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên LSNG
tại khu vực. ................................................................................................................20
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .....................................................................20
2.4. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................20
2.4.1. Giới thiệu chung về phương pháp nghiên cứu ................................................20
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể ......................................................................21
2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu ...............................................................................24
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN
CỨU ..........................................................................................................................26

4.4.1. Phân tích những thuận lợ, khó khăn trong phát triển LSNG tại địa phương ..68
4.4.2. Lựa chọn loài LSNG ưu tiên trong bảo tồn và phát triển ...............................69
4.4.3. Đề xuất giải pháp để bảo tồn và phát triển các sản phẩm này ........................71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ...........................................................................76
TÀI LIỆU THAM KHẢO


vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Bộ NN&PTNT
D1,3
Dt
Dt ĐT + Dt NB

Giải thích
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Đường kính thân cây tại vị trí 1,3m
Đường kính tán
Đường kính tán theo 2 hướng Đông Tây và Nam
Bắc

E

Kinh độ Đông

F

Tiêu chuẩn kiểm tra của Fisher


ODB

Ô dạng bản;

OTC

Ô tiêu chuẩn;

PT&PTTT

Phân tích và phát triển thị trường

Sh%, Sd%...

Hệ số biến động chiều cao, đường kính...

Sh, Sd...

Sai tiêu chuẩn về chiều cao, đường kính...

Sở NN&PTNT
TB

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trung bình

UBND

Ủy ban nhân dân

4.3

Các loài cây cho sản phẩm giấy sợi

37

4.4

Các loài cây cho sản phẩm tinh dầu

39

4.5

Các loài cây cho lương thực, thực phẩm

41

4.6

Các loài cây làm dược liệu

45

4.7

Các loài cây làm cảnh, bóng mát

47



63
68
70


viii

DANH MỤC CÁC HÌNH
Tên hình

STT

Trang

4.1

Một số loài cho sản phẩm giấy sợi tại xã Kiên Mộc

38

4.2

Một số loài cho sản phẩm Tinh dầu tại Kiên Mộc

40

4.3
4.4
4.5

Tỷ lệ phân loại các loài LSNG theo hệ thống sinh

34

4.2

Tỷ lệ phân nhóm loài LSNG theo giá trị sử dụng

36


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một thành phần quan trọng của hệ sinh
thái rừng Việt Nam nói riêng và của hệ sinh thái rừng nhiệt đới nói chung, là
nguồn thu nhập đáng kể của người dân. Nhiều địa phương ở miền núi, nguồn
thu từ LSNG chiếm từ 10-20% trong tổng thu nhập kinh tế hộ gia đình, chủ
yếu là nguồn lương thực, thực phẩm và thuốc chữa bệnh đáp ứng nhu cầu
thiết yếu hàng ngày...
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn diện tích rừng tự nhiên là
252.251,1 ha, chiếm 57% diện tích đất có rừng. Riêng huyện Đình Lập diện
tích rừng tự nhiên là 22.296 ha tập trung nhiều ở các xã Lâm Ca, Thái Bình,
Kiên Mộc.... và chủ yếu là rừng thứ sinh nghèo. Khu vực này có điều kiện khí
hậu và đất đai rất thuận lợi cho phát triển các loại LSNG. Nơi đây có nhiều
loại LSNG có giá trị cao như: Ba kích, Sa nhân, Mây,…. Là nơi sinh sống của
đồng bào người Tày, Nùng. Cuộc sống của đồng bào các dân tộc nơi đây từ
lâu đời chủ yếu sống dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có trong rừng,
một số bộ phận dân cư sống bằng canh tác nương rẫy. Rừng là nơi cung cấp
lương thực, thực phẩm, nguyên vật liệu, cây thuốc…

là cần thiết, có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn sản xuất, nhất là trong bối
cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay.


3

Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Khái niệm Lâm sản ngoài gỗ

Trước đây những loài cây trong rừng không phải là gỗ thường được gọi
là lâm sản phụ, một số loài có giá trị đặc biệt gọi là đặc sản. Ngày nay thống
nhất gọi các sản phẩm không phải là gỗ có ở trong rừng là lâm sản ngoài gỗ.
Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ là một khái niệm tương đối mới so với gỗ.
Các khái niệm chủ yếu do FAO đưa ra ở trên đều chưa hoàn thiện, năm
1999, hội nghị của FAO lại đưa ra một khái niệm ngắn gọn về Lâm sản ngoài
gỗ:
“Lâm sản ngoài gỗ (non timber forest product - NTFP, hoặc Non wood
forest products - NWFP) bao gồm các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác
gỗ, được khai thác từ rừng, và từ cây gỗ ở ngoài rừng”. (dẫn theo Triệu Văn
Hùng, 2007)[13].
1.1.2. Phân loại Lâm sản ngoài gỗ

Lâm sản ngoài gỗ rất đa dạng, phong phú và được sử dụng vào nhiều
mục đích khác nhau. Do vậy, việc phân loại có nhiều quan điểm khác nhau.
Theo quan điểm hiện nay, Lâm sản ngoài gỗ được phân làm hai dạng chủ yếu
sau:
- Phương pháp phân loại theo hệ thống sinh học:
Theo phương pháp phân loại này thì các loại LSNG được phân theo hệ

trên bán đảo Michigan [27].
Theo Forestry Commission Scotland (2009) [29] thì cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu hiện nay đã thu hút sự chú ý hơn tới Lâm sản ngoài gỗ, đặc
biệt là nguồn thực phẩm thay thế. Một nghiên cứu gần đây tiến hành tại ba
cộng đồng ở miền Nam Cameroon tiết lộ rằng nông nghiệp cung cấp 80%
lượng carbohydrate, nông thôn ở Cameroon nhận được 90% protein từ rừng.


5

Trái cây rừng và thảo dược là nguồn cung cấp vitamin và chất dinh dưỡng cho
cư dân nông thôn. Hàng triệu người dân Châu Á phụ thuộc phần lớn vào sự
cung cấp cá từ rừng ngập mặn.
Ngoài ra, lâm sản ngoài gỗ cũng ngày càng được thừa nhận về vai trò của
nó trong phát triển bền vững và bảo tồn các hệ sinh thái. Có đến 80% dân số ở
các nước đang phát triển sống phụ thuộc vào Lâm sản ngoài gỗ cho sinh hoạt, cả
về kinh tế và dinh dưỡng. Lâm sản ngoài gỗ đặc biệt quan trọng đối với phụ nữ ở
các nước đang phát triển từ châu Mỹ Latinh đến châu Á và châu Phi (FAO,
1997) [28].
Nguồn tài nguyên dược liệu được biết đến là rất phong phú và đa dạng.
Số liệu của IUCN/TRAFFIC/WWF về cây thuốc và cây có chất thơm trên
toàn thế giới lên tới 40.000 – 50.000 loài, gần 2.500 loài được mua bán rộng
rãi trên toàn thế giới; ở Châu Âu có khoảng 2.000 loài cây thuốc được sử
dụng vào mục đích thương mại. Thống kê của IUCN (2005) cũng cho thấy
khoảng 4.000 loài cây thuốc và cây có chất thơm trên thế giới đang bị đe dọa
tuyệt chủng và chỉ có một vài trăm loài đang được gây trồng (Châu Âu 130140 loài, trong khi đó đã có khoảng 2.000 loài được sử dụng với mục đích
thương mại); khoảng 70% số loài có nguồn gốc từ các loài hoang dã (dẫn theo
Nguyễn Huy Sơn, 2011) [18].
Theo báo cáo của FAO (1996) [26], tại Bhutan và Thái Lan có hơn 300
loài cây thuốc, hệ thống y học cổ truyền ở đây được hành nghề rộng khắp. Ở

1.1.4.1. Giá trị kinh tế
Ngành Lâm sản ngoài gỗ phát triển ngày càng tăng, có xu hướng tăng
nhanh hơn so với ngành công nghiệp gỗ và được dự kiến tăng thêm trong
tương lai. Theo Mater, (dẫn theo Viện Dược liệu, 2004) [23] thị trường cho
các sản phẩm rừng khác như nấm chiếm gần 20% hàng năm trong những năm
qua. Ngoài ra, thị trường thuốc thảo dược của Mỹ đã tăng trưởng với một tốc
độ hàng năm ước tính khoảng 13-15% so với doanh số bán hàng của thảo
dược.


7

Theo FAO (2002) [26] ở Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước lớn nhất
thế giới về sản xuất và tiêu dùng Lâm sản ngoài gỗ. Trung Quốc thống trị
thương mại thế giới về LSNG (ước tính khoảng 11 tỉ USD vào năm 1994),
tiếp theo là Ấn Độ, và sau đó Indonesia, Việt Nam, Malaysia, Philippines và
Thái Lan.
Theo FAO (1995) [27] ước tính thương mại sản phẩm mây đạt khoảng
4 tỷ USD trong đó các quốc gia Đông Nam Á chiếm 2,5 tỷ USD. Trên thế
giới, khoảng 700 triệu người sử dụng song mây và khoảng 2 triệu người ở
vùng nhiệt đới châu Á trực tiếp phụ thuộc vào mây hoặc thực hiện việc thu
hoạch và thương mại mây.
Theo báo cáo của FAO (1995) [27] cho thấy các thương mại bên ngoài
và giá trị thương mại của đồ nội thất làm từ mây lên đến 7 - 8 tỷ USD. Tuy
nhiên, gần 90% nguyên liệu thô được cung cấp từ các khu rừng tự nhiên và rất
ít từ rừng trồng.
Theo Verina Ingram (2009) [37] thương mại quốc gia về cây thuốc ở
Nam Phi ước tính trị giá 6- 9 triệu USD/năm, hơn 600 loài được bán hàng
năm ở Natal.
Theo Tejaswi (2008) [35] năm 1997 thị trường thế giới về nấm hoang

Mặc dù vai trò tích cực của phụ nữ trong thu hoạch và sử dụng nhưng họ
thường không có kiểm soát trực tiếp thu nhập có nguồn gốc từ LSNG, do đó
có thể không trực tiếp hưởng lợi từ thương mại hóa tăng lên. Nghiên cứu
cũng cho thấy thương mại hóa các dự án LSNG rõ ràng tập trung vào sự
tham gia của phụ nữ có thể có tác dụng gia tăng quyền lực chính trị và kinh
tế của họ.
Theo IFAD (2008) [30] ở Scotland sự quan tâm đến LSNG đã được tăng
lên trong 10 năm qua. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong phạm vi tại Scotland,
24% dân số có thu hái LSNG trong 5 năm trước đây và 80% những người đó
(tương đương khoảng 19% tổng số dân Scotland) đã thu hái LSNG trong 12
tháng trong năm, nhưng đa số chỉ được sử dụng cá nhân.


9

Theo Tinde van Andel (2006) [36] tại Kodagu - Ấn Độ đã chỉ ra vai trò
quan trọng của LSNG trong sự hiểu biết của nền kinh tế bộ lạc. Tại đây, tỷ lệ
phần trăm chia sẻ (>70%) của LSNG đóng vai trò lớn trong kinh tế của các hộ
gia đình thu nhập thấp.
1.1.5. Các nghiên cứu về sử dụng bền vững, giải pháp nâng cao vai trò của
LSNG

Một số tổ chức quốc tế tiêu biểu trong hoạt động nghiên cứu về LSNG
như tổ chức Nông lương thế giới (FAO), trung tâm nghiên cứu nông nghiệp
quốc tế (CIFOR), tổ chức quốc tế về tre nứa và song mây (INBAR)...tập trung
chủ yếu vào các nhóm nghiên cứu sau:
- Khảo sát tình hình nhằm cung cấp những hiểu biết chung về sử dụng
LSNG và tầm quan trọng cuả LSNG ở các mức độ khác nhau (hộ gia đình, địa
phương, quốc gia và quốc tế);
- Phát triển công nghệ để cải thiện quá trình chế biến và sử dụng LSNG;

nghiên cứu về giá trị kinh tế của LSNG đưa ra nhận định: Trong quá khứ, các
cơ sở hợp lý cho việc bảo tồn rừng chỉ đơn giản để duy trì vai trò rừng sản
xuất cho ngành công nghiệp gỗ. Tuy nhiên điều này đã thay đổi ở nhiều nước
trong 15 năm qua. Với sự nổi lên của khu bảo tồn tại Brazil, Lâm nghiệp cộng
đồng ở Nepal, Quản lý rừng ở Ấn Độ và các sáng kiến tương tự ở nhiều nước
khác, người dân địa phương đã được tiếp cận với những lợi ích đáng kể từ
LSNG.
1.2. Ở trong nước
1.2.1. Khái niệm về lâm sản ngoài gỗ

Trước năm 1991, sản phẩm chính của rừng được khai thác sử dụng chủ
yếu là gỗ, các lâm sản khác như: song, mây, tre, nứa, dầu nhựa, cây thuốc...
còn ít được quan tâm và quản lý nên gọi là lâm sản phụ. Sau năm 1961, một
số loài lâm sản phụ có giá trị đặc biệt trong sử dụng và thương mại như: Hồi,
Quế, Thảo quả, Nấm hương... thì gọi là đặc sản rừng. Vài thập kỷ gần đây, vai
trò và chức năng cung cấp gỗ của rừng, nhất là rừng tự nhiên nhiệt đới ngày


11

càng hạn chế, vai trò và chức năng phòng hộ môi trường của rừng ngày càng
được thể hiện rõ và được quan tâm nhiều hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu
toàn cầu hiện nay. Muốn phát triển rừng nhằm bảo vệ môi trường sinh thái kết
hợp với phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của người dân làm nghề rừng thì
lâm sản phụ hay đặc sản rừng lại có vai trò hết sức quan trọng. Chính vì lẽ đó
một thuật ngữ mới được đề xuất và sử dụng là Lâm sản ngoài gỗ.
Theo Trần Ngọc Hải (2000): “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật
liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng
tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người. Bao gồm các loài
thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp,

hơn 3.000 loài. Chúng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc
sức khỏe con người từ xưa đến nay, đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số.
Theo kết quả nghiên cứu của Dự án Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam trong
số 12.000 loài cây được thống kê có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài cho dầu,
600 loài cho tanin, 260 loài cho tinh dầu, 93 loài cho chất màu, 1498 loài cho
các dược phẩm. Theo dự đoán của nhiều nhà thực vật số loài thực vật bậc cao
có thể lên tới 20.000 loài; hệ động vật cũng đã thống kê được 225 loài thú,
828 loài chim, 259 loài bò sát, 84 loài ếch nhái (Triệu Văn Hùng và các cộng
sự, 2007) [13].
Theo Nguyễn Hữu Dũng (2005) [9] ở Việt Nam hiện nay đã xác định
được 11.373 loài thực vật thuộc 2.524 chi và 378 họ. Về động vật có xương
sống có khoảng 310 loài thú, 840 loài chim, 286 loài bò sát và 162 loài lưỡng
cư (Đặng Huy Huỳnh, 2005) và nhiều loài động vật không xương sống khác.
Trong đó có rất nhiều loài là LSNG có giá trị.
Trong công trình nghiên cứu và bảo vệ tài nguyên thực vật sinh thái núi
cao ở SaPa, Lã Đình Mỡi, Nguyễn Thị Thuỷ và Phạm Văn Thính (1995) [15]
đã phân hạng LSNG theo hệ thống sinh và thống kê được tập đoàn đông đảo
thực vật có giá trị làm thuốc ở địa phương.
Phạm Hồng Ban và cộng sự (2009) [4] nghiên cứu về sự đa dạng cây
thuốc ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên- Thanh Hóa đã xác định


14

được 178 loài thuộc 142 chi và 75 họ. Ngành Mộc lan có đa dạng cao nhất
chiếm 94,38% tổng số loài. Có 6 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng được ghi
trong sách đỏ Việt Nam (Danh lục đỏ cây thuốc và nghị định 32/NĐ –
CP/2006). Tác giả cũng cho thấy sự đa dạng về dạng thân, bộ phận sử dụng
của cây làm thuốc và đa dạng trong các bộ phận được sử dụng. Với 16 nhóm
bệnh được sử dụng như ngoài da, thận, xương, mắt, thần kinh…

6 chi song mây với 30 loài, mây nếp 19 loài, chi mây nước 4 loài, chi phướn 2
loài, chi mây húp 1 loài, chi song lá bạc 3 loài và chi song với 1 loài. Tác giả
cũng đã mô tả tóm tắt hình thái, phân bố địa lý và sử dụng của từng loài.
- Các nghiên cứu về thị trường Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam:
Theo Nguyễn Huy Sơn (2011) [18] cho thấy doanh thu xuất nhập khẩu
LSNG tăng đều từ 15 đến 30% hàng năm, chiếm một phần nhỏ trong tổng
doanh thu xuất nhập khẩu (58,37 tỉ USD/ năm 2004).
Nghiên cứu đánh giá về thị trường LSNG Việt Nam cho thấy còn ít và
chưa đầy đủ. Ngoài giá trị trên trường quốc tế về xuất nhập khẩu đóng góp
cho kinh tế quốc dân, phải kể đến giá trị tiềm ẩn mà LSNG chưa thể hiện.
Thiếu đánh giá vai trò to lớn của LSNG đối với vùng nông thôn, đặc biệt là
các vùng miền núi vùng sâu, vùng xa mà đa số cuộc sống của họ phụ thuộc
vào rừng. Một số nghiên cứu vai trò của giới trong thị trường LSNG cũng
chưa được đánh giá đầy đủ.
1.2.4. Tình hình quản lý Lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam

Nhận thấy rõ vai trò quan trọng của LSNG, Chính phủ đã ban hành
nhiều chương trình, chính sách cho việc phát triển và bảo tồn rừng, trong đó
có đề cập đến nội dung quản lý LSNG. Một số chính sách quan trọng đã tạo
nên sự chuyển biến về phát triển và quản lý LSNG như chính sách của chính
phủ về giao đất giao rừng cho hộ gia đình và cộng đồng quản lý (Nghị định
02/CP ngày 15 tháng 1 năm 1994; thông tư 06LN/KN về giao đất lâm nghiệp;
Nghị định 163/CP ngày 16/11/1999 về giao đất và cho thuê đất lâm nghiệp);


16

chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng cũng đã đề cập đến việc phát triển
Lâm sản ngoài gỗ; luật bảo vệ và phát triển rừng (19/8/1991), thông tư
13LN/KL của Bộ Lâm nghiệp đã ban hành nhiều quy định nhằm bảo vệ và

lâm nghiệp có rừng là: 15.920ha. Người dân sống dựa vào rừng sản xuất và
khai thác LSNG từ rừng tự nhiên là chủ yếu. Tuy nhiên, các nghiên cứu về
LSNG ở huyện Đình Lập nói riêng và tỉnh Lạng Sơn nói chung còn ít chưa
đáp ứng được tiềm năng đất đai cũng như kỳ vọng của người dân địa phương,
nhưng cũng có thể đưa qua một số công trình điển hình liên quan như sau:
Nguyễn Thùy Linh (2012) khi nghiên cứu Đề tài “Xây dựng mô hình
làm giàu rừng bằng các loài cây Sa nhân, Ba kích, và mây dưới tán rừng
thứ sinh tại huyện Đình Lập Tỉnh Lạng Sơn” đã tiến hành điều tra tình hình
sử dụng Lâm sản ngoài gỗ của người dân tại 3 xã thuộc huyện Đình Lập. Qua
quá trình điều tra, khảo sát kết quả cho thấy, lâm sản ngoài gỗ nói chung và
đặc biệt là 3 loài Ba kích, Sa nhân và cây Mây có giá trị rất quan trọng trong
đời sống của người dân nơi đây. Chúng được người dân khai thác từ rừng tự
nhiên và được sử dụng thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày. Bên cạnh
đó chúng cũng mang lại giá trị kinh tế vô cùng lớn cho người dân ở đât, nơi
mà mọi thu nhập của người dân gần như chỉ trông mong vào rừng. Tuy mang
lại nhiều lợi ích như vậy nhưng do sự thiếu hiểu biết, không có kiến thức.. nên
người dân chỉ biết khai thác, lấy đi các nguồn lợi từ rừng mà chưa biết cách
bổ sung, phục hồi, làm giàu … những thứ mà rừng mang lại [14].
Tóm lại: Thông qua các thông tin cả ở trong và ngoài nước cho thấy rõ
quan niệm nhận thức về vai trò của LSNG đối với kinh tế, xã hội và môi
trường. Việc đánh giá tiềm năng LSNG cũng đã được thực hiện ở một số địa
phương và một số Quốc gia. Tuy nhiên mỗi địa phương, mỗi vùng sinh thái
có một số nhóm, loài có tiềm năng cũng như thích hợp với một số điều kiện
sinh thái nhất định, không thể áp đặt kết quả nghiên cứu ở vùng này cho vùng
khác. Kiên Mộc là một xã vùng cao thuộc huyện Đình Lập chủ yếu là đồng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status