Cơ hội và thách thức của ngành logistics việt nam trong bối cảnh thực thi của cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

-----  -----

ĐỀ ÁN CHUYÊN NGÀNH
ĐỀ TÀI :

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH LOGISTICS
VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH THỰC THI CỦA CỘNG
ĐỒNG KINH TẾ ASEAN (AEC)

Giảng viên hướng dẫn : TS. NGUYỄN XUÂN HƯNG
Sinh viên thực hiện

: NGUYỄN THỊ QUỲNH NHƯ

Lớp

: KINH TẾ QUỐC TẾ 55A

MSV

: 11133045


Hµ Néi, 06/2016


MỤC LỤC



Third Party Logistics

Logistics bên thứ ba

4

4PL

Fourth Party
Logistics

Logistics bên thứ tư

5

5PL

Fifth Party Logistics

Logistics bên thứ năm

6

AEC

Asean Economic
Community

Cộng đồng kinh tế


10

CIF

Cost, Insurance and
Freight

Giá thành, bảo hiểm và
cước

11

WTO

World Trade
Organization

Tổ chức thương mại thế
giới

12

ILO

International Labour
Office

Tổ chức lao động quốc tế


23

3

Bảng 2.: So sánh chỉ số LPI 2014 của Singapore
- Malaysia - Thái Lan - Việt Nam

26

4

Bảng 2.: Tổng quan về lĩnh vực dịch vụ
Logistics Việt Nam

30

5

Bảng 2.: So sánh hiệu quả của các quy trình xuất
nhập khẩu của Việt Nam với Singapore,
Malaysia và Thái Lan năm 2014

34

6

Bảng 2.: Tỷ lệ chi phí của ngành Logistics trên
GDP của một số quốc gia

41

Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), ngành hậu cần (Logistics) đã thực hiện lộ
trình hội nhập với mục tiêu đẩy nhanh việc tự do hóa và thuận lợi hóa các phân
ngành dịch vụ Logistics, biến ASEAN thành trung tâm Logistics khu vực Châu
Á – Thái Bình Dương phù hợp với định hướng chung của ASEAN về tăng
cường kết nối trong khu vực, hướng tới mục tiêu thành lập Cộng đồng kinh tế
ASEAN. Với vai trò là chất “kết dính” các công đoạn, hội nhập dịch vụ logistics
sẽ đẩy nhanh hơn tiến trình liên kết giữa các ngành sản xuất trong nội bộ từng
quốc gia thành viên cũng như giữa các quốc gia ASEAN với nhau, góp phần
biến ASEAN thành một thị trường đơn nhất, một không gian sản xuất chung như
mục tiêu đặt ra trong kế hoạch tổng thể của AEC.
Việt Nam là một quốc gia có vị thế cực kỳ lý tưởng để phát triển ngành
Logistics. Tuy nhiên Logistic hiện là một ngành tương đối mới mẻ ở Việt Nam,
do vậy việc cạnh tranh với nhiều doanh nghiệp logistics với 100% vốn nước
ngoài đang hoạt động tại Việt Nam cũng là vấn đề hết sức nan giải. Môi trường
cạnh tranh ngày càng trở lên gay gắt và không cân sức. Nguy cơ mất thị phần
cung ứng dịch vụ logistics cho các công ty nước ngoài là không tránh khỏi khi
tiềm lực tài chính và cơ sở hạ tầng của các doanh nghiệp trong nước còn rất yếu
kém.
SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
MSV : 11133045

Page 6


Bản chính thức

GVHD: TS. Nguyễn Xuân Hưng

Với sự quan tâm của mình về ngành Logistics tại Việt Nam nên em quyết
định chọn và thực hiện đề tài “ Cơ hội và thách thức của ngành Logistics Việt

hợp phương pháp duy vật lịch sử.
• Phương pháp phân tích thống kê: Bao gồm phân tích các dữ liệu thống kê
được từ các nguồn sau:
-Số liệu thống kê của Tổng cục thống kê.
-Domestic LPI report, Ngân hàng Thế giới, 2014
SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
MSV : 11133045

Page 7


Bản chính thức

GVHD: TS. Nguyễn Xuân Hưng

-Cổng

thông tin Logistics Việt Nam
-Nguồn Internet…
-…
• Phương pháp so sánh, phương pháp suy diễn, quy nạp,….
5. Kết cấu đề tài
Kết cấu đề tài bao gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về ngành Logistics và Cộng đồng kinh tế Asean
(AEC)
Chương II: Thực trạng ngành Logistics và những cơ hội, thách thức của
ngành Logistics Việt Nam trong bối cảnh thực thi Cộng đồng kinh tế Asean
(AEC)
Chương III: Định hướng và giải pháp cho ngành Logistics Việt Nam



GVHD: TS. Nguyễn Xuân Hưng

Logistics phát triển quá nhanh chóng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, ở
nhiều quốc gia nên có rất nhiều tổ chức, tác giả nghiên cứu và đưa ra định nghĩa
khác nhau.
Theo quan điểm “5 Right” thì: “ Logistics là quá trình cung cấp đúng sản
phẩm đến đúng vị trí vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho
khách hàng tiêu cùng sản phẩm”.
Ở một mức độ rộng hơn, Hội đồng quản trị Logistics của Mỹ cho rằng:
“Logistics là quá trình hoạch định, thực hiện, kiểm soát hiệu quả, hiệu năng
dòng lưu thông và tồn trữ nguyên liệu, hàng hóa, dịch vụ cùng với dòng thông
tin tương ứng từ thời điểm xuất phát đến điểm tiêu dung nhằm mục đích đáp ứng
yêu cầu của khách hàng”.
Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Logistics, nhưng ta có thể hiểu
Logistics như sau:
-Logistics là quá trình mang tính hệ thống, chặt chẽ và liên tục từ điểm đầu tiên của
dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
-Logistics không phải là một hoạt động đơn lẻ, mà là một chuỗi các hoạt động liên
tục từ hoạch định quản lý thực hiện và kiểm tra dòng chảy của hàng hóa thông
tin, vốn… trong quá trình từ đầu vào tới đầu ra của sản phẩm.
1.1.1.2. Giới thiệu chung về dịch vụ Logistics
a. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển dịch vụ Logistics
Sự phát triển của dịch vụ Logistics bắt nguồn từ sự thay đổi trong sản xuất.
Người bán hàng không nhất thiết là nhà sản xuất và người mua cũng không nhất
thiết phải là người tiêu dùng cuối cùng
Ban đầu, dịch vụ Logistics được thuê ngoài là dịch vụ vận chuyển và giao
nhận. Hàng hóa đi từ nước người bán tới nước người mua dưới hình thức bán lẻ,
phải qua tay nhiều người vận tải với nhiều phương thức vận tải khác nhau. Điều
này khiến cho quá trình vận chuyển hàng hóa gặp nhiều rủi ro hơn.

mình do vậy họ tiến hành thuê ngoài các doanh nghiệp dịch vụ để thực hiện các
hoạt động trong chuỗi Logistics. Dần dần, họ thấy các doanh nghiệp dịch vụ
Logistics thực hiện việc này khiến cho công việc diễn ra hiệu quả hơn nên họ
quyết định thuê ngoài doanh nghiệp dịch vụ để tiến hành toàn bộ các hoạt động
Logistics của mình.
b. Phân loại công ty cung cấp dịch vụ Logistics
• Theo hình thức khai thác hoạt động Logistics:
-Các công ty Logistics thứ nhất (1PL – First Party Logistics): Người chủ sở hữu
hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu
cầu của bản thân.
- Các công ty Logistics bên thứ hai (2PL – Second Party Logistics):
Người cung cấp dịch vụ Logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ
cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động Logistics (vận tải, kho bãi,
thủ tục Hải Quan, thanh toán,..) để đáp ứng nhu cầu của cửa hàng mà chưa tích
hợp hoạt động Logistics.
-Các công ty Logistics bên thứ ba (3PL – Third Party Logistics): Là người thay
mặt chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ Logistics cho từng bộ phận chức
năng, ví dụ như thay mặt cho người gửi hàng thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu
và vận chuyển nội địa,…
-Các

công ty Logistics bên thứ tư (4PL – Fourth Party Logistics): Là người hợp
nhất , gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của
mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi
Logistics.

-Gần

đây cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, người ta đã nói đến khái
niệm công ty Logistics bên thứ năm (5PL – Fifth Party Logistics), 5PL phát

trọng nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội. Logistics hỗ trợ cho luồng chu chuyển
các giao dịch quốc tế. Nền kinh tế chỉ có thể phát triển nhịp nhàng, đồng bộ khi
một dây chuyền Logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng.
Hoạt động Logistics hiệu quả làm tăng tính cạnh tranh của một quốc gia trên
trường quốc tế. Trình độ phát triển và chi phí Logistics của một quốc gia được
xem là một căn cứ quan trọng trong chiến lược đầu tư của các tập đoàn đa quốc
gia. Những quốc gia có hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo, hệ thống cảng biển tốt,
… sẽ thu hút đầu tư từ các công ty hay tập đoàn lớn trên thế giới. Sự phát triển
vượt bậc của Singapore, Hồng Kông, Trung Quốc đã là những minh chứng sống
động cho việc thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tăng trưởng xuất khẩu, tăng GDP
thông qua việc phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ Logistics.
1.1.2.2. Vai trò của Logistics đối với các doanh nghiệp
• Logistics góp phần làm giảm chi phí lưu thông, chi phí sản xuất và chi phí
cơ hội
-Chi phí lưu thông: Dịch vụ Logistics không chú trọng tiết kiệm chi phí cho một
khâu nhất định mà là chú trọng tới tính hiệu quả trong cả quá trình, tức là cung
cấp dịch vụ với tổng chi phí nhỏ nhấtt.
SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
MSV : 11133045

Page 11


Bản chính thức

GVHD: TS. Nguyễn Xuân Hưng

-Chi

phí sản xuất:

Trong những năm gần đây, mạng thông tin toàn cầu phát triển, có tác động rất
lớn đến nền kinh tế. Logistics phát triển theo xu hướng ứng dụng công nghệ
thông tin trong: xử lý đơn hàng, giao hàng, thanh toán, thu hồi hàng hóa mà
khách hàng không ưng ý,… hay công việc khác như quản trị dây truyền cung
ứng hay công nghệ nhận dạng… Ứng dụng công nghệ thông tin đem lại nhiều
SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
MSV : 11133045

Page 12


Bản chính thức

GVHD: TS. Nguyễn Xuân Hưng

lợi ích và tiết kiệm chi phí cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics
nói chung.
Và cuối cùng là xu hướng phát triển của phương pháp quản lý Logistics kéo
thay cho phương pháp Logistics đẩy truyền thống. Phương pháp quản lý đẩy là
cơ chế được điều khiển bởi cung và theo một kế hoạch sắp đặt trước. Trong hệ
thống này, các thiết bị và sản phẩm được đẩy vào các quá trình sản xuất, các hệ
thộng phân phối và các nhà kho theo sự lên kế hoạch của quy trình sản xuất.
Đây là cơ chế không phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, dẫn đến việc có
thể thừa hoặc thiếu hàng hóa. Trong khi đó, Logistics kéo liên kết các quá trình,
các khâu của hoạt động sản xuất kinh doanh thành một chuỗi thống nhất, đem lại
sự thỏa mãn nhu cầu cho khách hàng.
1.1.3.2. Các dịch vụ Logistics chủ yếu được thuê ngoài
Các hoạt động Logistics của doanh nghiệp như vận chuyển, phân phối, kho
bãi, quản lý tồn kho, xử lý đơn hàng và xử lý nguyên vật liệu trước đây được bộ
phận Logistics thực hiện. Tuy nhiên hiện nay với xu hướng thuê ngoài ngày

phát triển thương mại, dịch vụ, vận tải và Logistics với các biện pháp chủ yếu:
Chính sách ưu đãi thuế đối với các công ty vận tải và Logistics: Singapore
chủ động khuyến khích các công ty đa quốc gia và một số các nhà cung ứng dịch
vụ logistics quốc tế đặt trụ sở tại Singapore, xây dựng các trung tâm phân phối
khu vực và toàn cầu tại Singapore với nhiều ưu đãi như giảm thuế đối với khoản
thu lợi nhuận, miễn thuế đối với đầu tư mạo hiểm, miễn thuế thu nhập từ tàu
biển trong 10 năm, hưởng tỷ lệ thuế ưu đãi nhỏ hơn 10% trên mức tăng doanh
thu trong 5 năm, cho vay ưu đãi với tàu và container. Các chính sách này không
dàn trải, mà hướng tới những mục tiêu xác định, tập trung vào những công ty
vận tải, kinh doanh tàu biển và logistics “có kết quả kinh doanh tốt, có kế hoạch
kinh doanh rõ ràng và cam kết mở rộng hoạt động tại Singapore” đã tạo điều
kiện thuận lợi cho các công ty có quy mô lớn và hiệu quả phát triển.
Chính sách hải quan: Các chính sách về thủ tục hải quan của Singapore được
minh bạch hóa với những quy định rõ ràng, chặt chẽ và hiệu lực thi hành nhanh
chóng. Thông qua mạng Trade Net, quy trình hải quan được tự động hóa, tạo
điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động thương mại và trung chuyển hàng hóa tại
Singapore. Singapore luôn đổi mới, áp dụng kỹ thuật hiện đại, nhất là công nghệ
thông tin nhằm cải cách hoạt động quản lý, thông quan và phân loại hàng hoá
như hệ thống thông quan điện tử, hệ thống thông quan trước đối với hàng
chuyển phát nhanh, hệ thống nộp phí và thuế điện tử, hệ thống TradeXchange,
kho ngoại quan ZGT 0% thuế... Chất lượng dịch vụ hải quan và các dịch vụ có
liên quan (môi giới, kiểm định, giám định) cùng hiệu quả của các quy trình của
Singapore được các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đánh giá rất cao.
Chính sách phát triển nguồn nhân lực Logistics: Chính phủ Singapore
thường xuyên giới thiệu những kỹ thuật logistics mới nhất cho công chúng và
các công ty; đề ra các biện pháp hợp tác giữa nhà trường với nhà nước và các tổ
chức quốc tế; xây dựng các giáo trình giảng dạy chuyên ngành Logistics; xây
SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
MSV : 11133045


quan trọng này. Chính phủ Malaysia chú trọng đến việc thuận lợi hóa các quy
trình thủ tục, trong đó có các thủ tục về hải quan, thông quan, áp dụng công
nghệ cao vào các khâu quản lý, giám sát và điều hành các hoạt động Logistics;
thay đổi quy định thông quan, cho phép thực hiện thông quan dưới cả hai hình
thức ngay từ khi hàng hóa còn ở sâu trong lục địa; thực thi hàng loạt các chính
sách tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ logistics
tổng hợp như tiến hành các biện pháp ưu đãi thuế nhằm khuyến khích đầu tư,
khuyến khích hợp nhất,chuyển đổi mô hình hoạt động cung cấp loại hình dịch
vụ Logistics tích hợp, khuyến khích các công ty địa phương đầu tư ra nước
ngoài, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu…
Với Malaysia, điều kiện tự nhiên, khí hậu và vị trí địa lý là những yếu tố
thuận lợi cho Logistics phát triển. Trong quá trình phát triển Logistics, Malaysia
đã có những định hướng khá hợp lý với điều kiện địa lý và kinh tế quốc gia, cụ
thể:
SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
MSV : 11133045

Page 15


Bản chính thức

GVHD: TS. Nguyễn Xuân Hưng

Malaysia đã chọn con đường phát triển Logistics toàn diện ở mọi loại
hình vận tải trong chuỗi cung ứng gồm đường bộ, đường sắt, vận tải biển và
hàng không. Trong đó, lấy hàng không làm bàn đạp để tạo cú hích cho dịch vụ
Logistics phát triển là bước đi chiến lược thành công của Malaysia.
Thành lập các cảng nội địa (IDC) và các khu thương mại tự do (FCZ) là
những hướng đi có tính đột phá và rất mới mẻ, giúp gia tăng khả năng trung

nước có trình tự thủ tục thông quan khá rắc rối. Để hoàn thành thông quan cho
SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
MSV : 11133045

Page 16


Bản chính thức

GVHD: TS. Nguyễn Xuân Hưng

một lô hàng hóa, trung bình ở Thái Lan sẽ mất 4-5 bước trung gian tương ứng
với 4-5 bộ hồ sơ thông quan, so với Singapore hoặc Malaysia trung bình chỉ 1
đến 2 công đoạn cho một lô hàng xuất/nhập khẩu.
Mặt khác, mặc dù trong gần 10 năm trở lại đây, Chính phủ đã đặc biệt chú
trọng phát triển Logistics và đã có nhiều biện pháp tích cực nhằm nâng cao hiệu
quả Logistics, song, một trong những thiếu sót trong vai trò của Chính phủ Thái
Lan về phát triển logistics là sự thiếu quan tâm đến đào tạo nguồn nhân lực và
hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin. Hai nhân tố này hiện vẫn đang là những
cản trở sự phát triển Logistics Thái Lan, đặc biệt là sự phát triển của hệ thống
doanh nghiệp Logistics quốc gia. Thêm nữa, Thái Lan cũng chưa có những
chính sách ưu đãi cụ thể đối với các doanh nghiệp kinh doanh Logistics. Thị
trường logistics Thái Lan gần như chưa có sự tham gia của các doanh nghiệp
Logistics trong nước, hầu hết các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
Logistics tại Thái Lan đều là các doanh nghiệp nước ngoài.
Bài học kinh nghiệm gợi ý cho Việt Nam
Nếu như hạ tầng cơ sở quyết định tốc độ phát triển của logistics thì khung thể
chế là yếu tố quyết định quy mô và khả năng phát triển lâu dài của logistics.
Trong những bài học rút ra từ kinh nghiệm phát triển logistics của Singapore,
Malaysia và Thái Lan có thể thấy rằng, Chính phủ luôn xuất hiện trong mọi nội

Là một quốc gia đang phát triển nên tiềm lực đầu tư cho phát triển logistics,
đặc biệt là phát triển hạ tầng cơ sở còn rất hạn chế, Việt Nam cần phải cân nhắc
lựa chọn phương án đầu tư hợp lý, tập trung trọng điểm như Singapore hay dàn
trải như Malaysia, đầu tư một lần cho hạ tầng quy mô lớn và hiện đại như Thái
Lan hay đầu tư nâng cấp từng giai đoạn như Malaysia đầu tư vào cảng biển….
Bên cạnh đó, việc đánh giá năng lực cạnh tranh hiện tại và vị thế của Việt Nam
trong bản đồ Logistics khu vực và thế giới rất cần thiết. Singapore và Malaysia
đều là những quốc gia mà hệ thống logistics có năng lực cạnh tranh rất cao. Vì
vậy, khai thác những điểm mạnh của Việt Nam cũng như khắc phục những hạn
chế mà các nước trong khu vực đang gặp phải sẽ giúp cho logistics Việt Nam
phát triển thuận lợi và hiệu quả hơn.
1.1.5.3. Chính sách phát triển nguồn nhân lực phù hợp, phục vụ cho sự phát triển
của ngành logistics
Singapore có thể coi là hình mẫu tốt cho việc tập trung phát triển nguồn nhân
lực. Sở dĩ hệ thống logistics của Singapore hoạt động mạnh mẽ và trơn tru như
hiện nay không chỉ nhờ vào mức độ hiện đại của hệ thống mà còn nhờ vào khả
năng vận hành hệ thống dựa trên trình độ cao của nguồn nhân lực. Ở Malaysia
và Thái Lan, nội dung phát triển nguồn nhân lực cũng được coi trọng và được
Chính phủ dành nhiều ưu tiên hỗ trợ phát triển. Tuy nhiên, bài học từ Thái Lan
cho thấy, nếu không có các biện pháp cụ thể thì số lượng và chất lượng nguồn
nhân lực sẽ bị hạn chế. Thực trạng này của Thái Lan chính là nguyên nhân dẫn
đến việc thiếu năng lực trong quản lý và vận hành hoạt động Logistics và là
nguyên nhân ngành dịch vụ logistics nội địa của Thái Lan chưa phát triển.
1.2. TỔNG QUAN VỀ AEC

Cộng đồng kinh tế ASEAN, viết tắt là AEC (Asean Economic Community)
kết nối nền kinh tế của 10 quốc gia với quy mô dân số khoảng 630 triệu dân.
AEC là một trong ba “cột trụ” của Cộng đồng ASEAN (ASEAN Community)
bên cạnh hai cột trụ về an ninh và văn hóa – xã hội. Gia nhập Cộng đồng AEC,
sẽ đem lại nhiều cơ hội lớn, giúp tăng cường vị thế và uy tín của Việt Nam các


Một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuất chung, được xây dựng thông qua:
Tự do lưu chuyển hàng hoá; Tự do lưu chuyển dịch vụ; Tự do lưu chuyển đầu
tư; Tự do lưu chuyển vốn và Tự do lưu chuyển lao động có tay nghề;

2.

Một khu vực kinh tế cạnh tranh, được xây dựng thông qua các khuôn khổ
chính sách về cạnh tranh, bảo hộ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát
triển cơ sở hạ tầng, thuế quan và thương mại điện tử;

3.

Phát triển kinh tế cân bằng, được thực hiện thông qua các kế hoạch phát
triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thực hiện sáng kiến hội nhập nhằm thu
hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN;

4.

Hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, được thực hiện thông qua việc tham vấn
chặt chẽ trong đàm phán đối tác và trong tiến trình tham gia vào mạng lưới cung
cấp toàn cầu (WTO).

1.2.1.3. Bản chất của AEC
Mặc dù được gọi với cái tên “Cộng đồng kinh tế”, AEC thực chất chưa thể
được coi là một cộng đồng kinh tế gắn kết như Cộng đồng Kinh tế châu Âu bởi
AEC không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và những cam kết ràng buộc với lộ trình
thực hiện cụ thể. AEC thực chất là đích hướng tới của các nước ASEAN thông
qua việc hiện thực hóa dần dần 04 mục tiêu kể trên (trong đó chỉ mục tiêu 01 là
được thực hiện tương đối toàn diện và đầy đủ thông qua các hiệp định và thỏa

ASEAN đều tương tự mức cam kết trong WTO, trong một số gói cam kết dịch
vụ gần đây của ASEAN, mức độ cam kết đã bắt đầu cao hơn so với WTO nhưng
không nhiều và cũng phù hợp với mức độ mở cửa thực tế về dịch vụ của Việt
Nam.
3. Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA) các cam kết về đầu tư trong
ASEAN toàn diện hơn trong WTO và các FTA đã ký của Việt Nam nhưng cũng
phù hợp với các quy định về đầu tư trong pháp luật Việt Nam (việc thực thi các
cam kết về đầu tư trong ASEAN không buộc Việt Nam phải sửa đổi pháp luật
trong nước)
1.2.2. Những tác động của AEC tới ngành Logistics Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia được hưởng lợi khi
AEC được thực thi. Nhưng cơ hội luôn đi kèm với thách thức, rõ ràng cạnh
tranh ngày càng gay gắt hơn, cả về sản phẩm, thị trường, nhân lực chất lượng
cao, đòi hỏi sự sang của doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý nhà nước để
tận dụng hết cơ hội cho phát triển.
Hội nhập dịch vụ Logistics được kỳ vọng sẽ là phương tiện để đẩy nhanh hơn
nữa tiến trình liên kết giữa các ngành sản xuất trong nội bộ từng quốc gia thành
viên cũng như giữa các nước ASEAN với nhau, hướng tới sự thành công của
AEC 2015.
SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
MSV : 11133045

Page 20


Bản chính thức

GVHD: TS. Nguyễn Xuân Hưng

Việc tham gia AEC nói chung và thực hiện lộ trình hội nhập nhanh lĩnh vực

Luật Hàng Hải Việt Nam và các luật chuyên ngành chưa có tiếng nói chung về
hoạt động vận tải đa phương thức, điều này gây khó khăn cho việc gắn kết các
hoạt động này với nhau trong chuỗi dịch vụ vận tải đa phương thức cũng như
việc phân chia trách nhiệm.
- Luật thương mại nước ta quy định hoạt động Logistics là hành vi thương mại,
công việc chính là cung cấp các dịch vụ phục vụ vận tải hàng hóa, tổ chức vận
chuyển, khi đảm nhận việc vận chuyển thì phải tuân thủ theo pháp luật về vận

SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
MSV : 11133045

Page 21


Bản chính thức

-

GVHD: TS. Nguyễn Xuân Hưng

chuyển. Nhưng hiện nay luật cũng chưa cụ thể hóa quy chế của người chuyên
chở không có tàu trong pháp luật về Logistics.
Các quy định về dịch vụ chuyển phát nhanh hiện nay còn được coi là dịch vụ
bưu điện chứ chưa được coi là một loại hình Logistics.
Nhìn chung hệ thống pháp lý của Việt Nam chưa theo kịp với yêu cầu của
thực tiễn phát triển ngành Logistics. Do đó, các bất cập trên cần được khắc phục
để tạo điều kiện cho phát triển ngành Logistics.
2.1.2. Cơ sở hạ tầng Logistics
Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông của Việt Nam bao gồm trên 17.000 km
đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thuỷ, 266 cảng biển và


Bản chính thức

GVHD: TS. Nguyễn Xuân Hưng

Biểu đồ 2.: Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam năm 2000 – 2015
Đơn vị: Phần trăm (%)
Nguồn: World Bank Việt Nam

Đặc biệt năm 2005 tốc độ tăng trưởng của nước ta đạt đỉnh điểm là 7.547%
đưa nền kinh tế Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng
nhanh nhất châu Á.
Tuy nhiên do sự tác động mạnh mẽ của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008
tại Mỹ đã khiến tốc độ tăng trưởng của Việt giai đoạn 2008 – 2009 sụt giảm, chỉ
còn 5,662% và 5,398%. .
Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam giai đoạn 2013 – 2015 lần lượt là
5.42%,5.98% và 6,68%. Điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang phục hồi
mạnh mẽ, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta gần như quay trở về với quỹ
đạo trước đây. Như vậy nhu cầu về ngành Logistics cũng được tăng lên để phục
vụ cho sự phát triển kinh tế. Đây là tín hiệu đáng mừng đối với ngành Logistics
trong bối cảnh Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới nói chung, cũng như hội nhập vào nền kinh tế khu vực nói riêng và cụ thể là
việc tham gia vào Cộng đồng kinh tế AEC.

Bảng 2.: Kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1995 - 2014

Đơn vị (Unit): Tỷ USD (Bil.US$)/%
Xuất khẩu
Exports


39,6

7,26

1996

11,14

35,8

-3,89

20,7

8,76

1997

11,15

0,1

-2,40

SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
MSV : 11133045

Page 23



14,45

2000

15,64

34,5

-1,19

4,0

15,03

2001

16,16

3,4

-1,14

11,2

16,71

2002

19,73


32,44

2005

36,98

15,7

-4,54

22,8

39,83

2006

44,89

21,4

-5,06

21,9

48,56

2007

62,68


72,24

2010

84,84

21,3

-12,60

34,2

96,91

2011

106,75

25,8

-9,84

18,2

114,53

2012

113,78



Nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế nhập siêu với thâm hụt cán cân liên
tục từ năm 1995 đến năm 2011, đặc biệt là mức thâm hụt hơn 18 tỷ USD. Do
vậy nhu cầu Logistics cho thị trường hàng nhập khẩu của Việt Nam là rất lớn.
Nếu khai thác tốt thị trường hàng nhập lại là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp
Logistics Việt Nam.
Đặc biệt là trong 10 năm qua, kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và ASEAN
tăng rõ nét từ 9 tỷ USD vào năm 2003 lên gần 18,47 tỷ USD vào năm 2013. Các
sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang thị trường này là: nông sản, dầu
SVTH: Nguyễn Thị Quỳnh Như
MSV : 11133045

Page 24


Bản chính thức

GVHD: TS. Nguyễn Xuân Hưng

thô, sắt thép, điện thoại, máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện, máy móc
thiết bị phụ tùng, xăng dầu các loại. Các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt
Nam trong khu vực này là: Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Singapore và
Indonesia. ASEAN là thị trường quan trọng với nhiều tiềm năng, đã trở thành thị
trường xuất khẩu lớn thứ ba của Việt Nam sau Hoa Kỳ và EU.
2.1.4. Môi trường văn hóa
Môi trường văn hóa Việt Nam xét theo góc độ kinh tế nhìn chung có nhiều
phức tạp đan xen nhau mà ở các nền kinh tế thuần nhất không có. Điều này là do
nền kinh tế Việt Nam do vận hàng theo cơ chế thị trường với những đòi hỏi khắt
khe của toàn cầu hóa buộc phải đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi của định chế
xuyên quốc gia nhưng vẫn chưa kết thúc giai đoạn chuyển đổi.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status