LỜI MỞ ĐẦU
* Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự định hướng
của nhà nước. Đặc biệt trước bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ
như hiện nay, việc buôn bán giao lưu xuyên biên giới ngày càng phát triển và phổ
biến ở khắp nơi. Thị trường thế giới ngày nay đang dần trở thành một thực thể
thống nhất, trong đó các bộ phận thị trường gắn kết và phụ thuộc chặt chẽ với
nhau. Các Doanh Nghiệp luôn phải nỗ lực hềt mình để khẳng định vị trí cũng như
tìm kiếm hiệu quả kinh doanh cho chính doanh nghiệp mình. Các công ty vận tải
biển cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trước cơ hội nhu cầu về vận tải hàng hoá
xuất nhập khẩu ngày một tăng cao đã mở ra triển vọng phát triển cho ngành vận tải
biển Việt Nam. Và công ty vận tải Biển Bắc cũng đã không ngừng cải tiến, nâng
cao năng lực cạnh tranh của mình nhằm tận dụng những cơ hội đó một cách tốt
nhất. Bằng sự cạnh tranh về chất lượng phục vụ và sự đầu tư đúng hướng vào tài
sản chủ yếu là phương tiện vận tải công ty đã đạt được những kết quả đáng khích
lệ. Tuy nhiên trong quá trình nền kinh tế hội nhập và bước đầu vươn ra thị trường
thế giới, cũng giống như các doanh nghiệp Việt Nam khác Biển Bắc cũng gặp rất
nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thị trường, áp dụng các hình thức quản lý, tổ
chức để phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đặc biệt trước sự
cạnh tranh gay gắt của các đội tàu nước ngoài thì việc tăng thị phần vận tải nước
ngoài cũng như vận tải xuất nhập khẩu là việc hết sức khó khăn. Trước tình hình đó
đòi hỏi công ty cần tổ chức và thực hiện hoạt động kinh doanh một cách có hiệu
quả nhất để vươn lên cạnh tranh, đưa công ty ngày càng phát triển lớn mạnh trở
thành một trong những công ty hàng đầu của ngành hàng hải Việt Nam.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó và sau thời gian ngắn học tập, tìm hiểu
về môn học kinh doanh dịch vụ quốc tế, phần nào hiểu được ý nghĩa nghĩa vai trò
của ngành vận tải biển, em đã quyết định lựa chọn công ty vận tải Biển Bắc để đi
sâu nghiên cứu hoạt động sản xuất,kinh doanh,quản lý của công ty. Với đề tài:Thương mại quốc tế: là hoạt động mua bám trao đổi hàng hóa dịch vụ vượt
qua phạm vi biên giới quốc gia.
Tự do hoá thương mại là gì?
Để bảo hộ nền thương mại trong nước hoặc thực hiện các mục tiêu xác định trong
chính sách thương mại quốc tế của mình, chính phủ các nước đã áp dụng những
biện pháp nhất định: Thuế quan và các biện pháp hạn chế nhập khẩu phi thuế quan.
Khi đó các hoạt động thương mại không còn thuần tuý được điều tiết bởi quan hệ
cung cầu trên thị trường quốc tế, mà còn chịu sự điều chỉnh của các chính sách của
các chính phủ. Như vậy tự do hoá thương mại chính là loại bỏ các biện pháp hạn
chế hay bảo hộ thương mại của các chính phủ.
Điều kiện để tự do hoá thương mại?
Để phát huy lợi thế so sánh khi thực hiện tư do hoá thương mại, cần phải đảm bảo
các điều kiện tối thiểu sau:
- Đảm bảo sự ổn định vĩ mô, nhất là ổn định chính trị, kinh tế, tạo không khí hợp
tác hoà bình hữu nghị và thuận lợi chocác hoạt động hợp tác kinh doanh.
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp một cách đồng bộ nhất quán, phù hợp
với luật pháp và thông lệ quốc tế nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho các hoạt
động kinh tế đối ngoại.
- Cải cách và nâng cao hiệu quả quản lý hành chính của các cơ quan chính phủ,
nhất là các cơ quan có liên quan đến hoạt động ngoại thương.
- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội trước hết là những trung tâm
giao lưu kinh tế và cửa ngõ thông thương với thị trường thế giới như hệ thống
đường giao thông, thông tin liên lạc, điện nước, và các dịch vụ thiết yếu đạt trình
độ quốc tế, tạo môi trường kinh doanh năng động và hiệu quả cho các doanh
nghiệp trong nước và các nhà đầu tư quốc tế.
- Đào tạo và xây dựng một nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển, nhất là
giới kinh doanh, doanh nghiệp trên lĩnh vực thương mại quốc tế, có đủ chuyên môn
và bản lĩnh để làm việc với các doanh nghiệp nước ngoài.
▪ Mang những đặc diểm của kinh doanh vận tải
▪ Ngoài những đặc điểm trên còn mang những đặc điểm đặc thù3. Tự do hóa thương mại và lĩnh vực vận tải biển của Việt Nam
Vận tải biển và dịch vụ hàng hải tại Việt Nam, theo quy định của pháp luật
Việt Nam, là một loại hình kinh doanh có điều kiện. Đây là một lĩnh vực nhạy cảm
với cơ chế thị trường, vừa phải chịu tác động trực tiếp của quy luật cung cầu, quy
luật giá cả và giá trị tại thị trường trong nước và thế giới, đồng thời lại bị chi phối
mạnh bởi pháp luật Việt Nam, tác động mạnh bởi thị trường hàng hải thế giới cũng
như của các công ước hàng hải quốc tế. Mỗi khi thị trường trong nước và trên thế
giơí có biến động hoặc thay đổi, đặc biệt khi có sự thay đổi cơ chế, chính sách,
pháp luật về xuất nhập khẩu, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực thì doanh nghiệp
vận tải biển và dịch vụ hàng hải hoạt động taị Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh.
Trong quá trình phát triển, hôị nhập kinh tế quốc tế và khu vực, ngành vận tải
biển Việt Nam cũng phải chấp nhận và tuân thủ những quy định chung của tổ chức
quốc tế như IMO, APEC, ASEAN và tương lai là WTO. Thị trường vận tải biển Việt
Nam trong đó có cảng biển, vận chuyển hàng hoá bằng đường biển và dịch vụ bổ trợ
hàng hải do đó phải mở cửa, hội nhập, chấp nhận cạnh tranh, thách thức nhưng đồng
thời cũng tranh thủ được những cơ hội hợp tác, chuyển giao công nghệ…
Hiện tại, Việt Nam đang có quan hệ thương mại với gầm 200 nước và vùng
lãnh thổ. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng bình quân 25, 56 % năm. 10 bạn
hàng lớn nhất của Việt Nam là Singapore, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung
Quốc, Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia, Mỹ và Indonesia, chiếm 84, 3 % thị phần
xuất khẩu.
Lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam được vận chuyển bằng đường
biển chiếm khoảng 90 % tổng số hàng hoá xuất, nhập khẩu. Tỷ lệ này sẽ không đổi
trong khoảng 10 năm tới. Thị phần vận chuyển hàng xuất nhập khẩu của đôị tàu
Việt Nam dự báo năm 2010 khoảng 25 % và đến 2020 khoảng 35 %. Thị trường
chủ yếu là khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, Châu Âu, Châu Mỹ, trong đó Châu
chưa được thống kê nhưng chắc chắn không có đột phá.
Khai thác cảng: Đột phá
Ba năm 2007 - 2009, ngành HHVN đã đẩy mạnh phát triển kinh tế khai thác
cảng biển đầu mối tại các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước. Con số thống kê
cho thấy nếu như năm 2006, hệ thống cảng biển Việt Nam thông qua 154,5 triệu
tấn hàng hoá thì đến nay, sản lượng hàng hoá thông qua đã đạt 251 triệu tấn, tương đương 78,44% sản lượng dự báo năm 2015 là 320 triệu tấn. Riêng năm 2009, dù
vẫn còn rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, các cảng
biển lớn trên cả nước vẫn gặt hái được những thành công rực rỡ.
Bên cạnh việc đẩy mạnh phát triển kinh tế khai thác cảng biển, ngành HHVN
cũng đã chú trọng phát triển đồng bộ các loại hình dịch vụ hỗ trợ khai thác cảng
biển nhằm đáp ứng tốt nhu cầu và góp phần không nhỏ vào doanh thu của hoạt
động kinh doanh khai thác cảng biển trên cả nước. Các loại hình dịch vụ hàng hải
khác như hoa tiêu, bảo đảm ATHH, lái dắt tàu biển, cung ứng lương thực, thực
phẩm, nhiên liệu, thu gom rác, nước thải, dịch vụ thông tin liên lạc, xếp dỡ hàng
hoá, thông quan, kho bãi, logistics, vận tải đa phương thức cũng đã được nâng
cao hơn cả về uy tín, chất lượng.
Có được kết quả trên, theo ông Vương Đình Lam, không gì khác hơn là nhờ
ngành hàng hải nước ta đã có một chiến lược đầu tư đúng đắn, một kế hoạch phát
triển bài bản, lâu dài và quan trọng là chúng ta đã có được một hệ thống pháp luật
hàng hải tương đối hoàn thiện
Hơn 251 triệu tấn hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam năm 2009
Thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam, năm 2009, cả nước có hơn 108.000 lượt
tàu ra vào hệ thống cảng biển Việt Nam với tổng dung tích lên tới hơn 425 triệu
GT, tăng 9,56% so với năm 2008.
Thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam, năm 2009, cả nước có hơn 108.000 lượt
tàu ra vào hệ thống cảng biển Việt Nam với tổng dung tích lên tới hơn 425 triệu
GT, tăng 9,56% so với năm 2008.
Trong quá trình phát triển của của công ty, với sự đoàn kết và góp sức của cán
bộ công nhân viên có trình độ cao của công ty công ty đạt nhiều thành tựu to lớn,
doanh thu của công ty tăng theo hàng năm. Cụ thể năm 2003 đạt gần 98 tỷ VNĐ,
năm 2004 đạt 148 tỷ VNĐ, năm 2005 đạt 156 tỷ VNĐ, năm 2006 đạt 155 tỷ VNĐ,
doanh thu năm 2007 đạt 356 tỷ VNĐ, năm 2008 doanh thu đạt được 953 tỷ VNĐ.
1.2. Nhiệm vụ của công ty
- Thực hiện báo cáo hàng kì về kết quả kinh doanh với cơ quan cấp trên và với
tổng công ty.- Tuân thủ các quy định của pháp luật và các chính sách của nhà nước về công
tác hoạt động kinh doanh dịch vụ.
- Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và các khoản đóng góp khác có liên quan.
- Không ngưng nâng cao trình độ chuyên môn cán bộ congo nhân viên qua đó
nâng cao khả năng canh tranh của công ty.
- Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công
nghệ, thực hiện công tác bồi dưỡng cán công nhân viên tronbg công ty.
- Xây dựng chiến lược kinh daonhy ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
- Tổ chức công tác nhân sự, luôn củng cố bộ máy quản lý gồm cơ cấu tổ chức,
sự phân cấp trong bộ máy, và các mối quan hệ trong quản lý điều hành, phải có kế
hoạch tuyển dụng, bố trí sử dụng lao động, đánh giá đề bạt,đào tạo,tiền lương, tiền
thưởng và các hình thức khác
- Tổ chức hoạt động marketing,các chính sách căn bản và tình hình quản lý
các yếu tố vật chất trong kinh doanhvaf lĩnh vực quản lý, quản lý chất lượng, dịch
vụ và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trên thị trường.
- Nhận và sử dụng có hiệu quả, bảo tồn và phát triển vốn do nhà nước giao
bao gồm: vốn kinh doanh và vốn đầu tư, nhận và sử dụng lao động tài nguyên, đất
đai và các nguồn tài nguyên khác do nhà nước giao để thực hiện nhiệm vụ kinh
doanh của mình.
2. Cơ cấu bộ máy quản lý của công ty cổ phần vận tải Biển Bắc
hợp đồng vận tải.
- Phòng vật tư là phòng cung cấp thiết bị vật tư cho toàn công ty
- Phòng kỹ thuật là phòng có chức năng đảm bảo kỹ thuật cho các thiết bị toàn
công ty, quản lý làm dự an phát triển về kỹ thuật của công ty.
- Phòng thuyền viên
- Phòng pháp chế là phòng chức năng tìm hiểu và đưa ra và thục hiện các quy
định quản lý, quản lý thưởng phạt công bằng cho tất cả nhân viên tàon công ty qua
giám
- Ban tàu sông, khách là phòng chức năng quản lý, điều động tàu và thuyền
viên vận tải sông, vận tải khách.
Công ty hoạt động nhiều lĩnh vực kinh doanh, gồm nhiều xí nghiệp và chi
nhánh phụ trách từng lĩnh vực kinh doanh với 8 chi nhánh thành viên.
Đại hội dồng cổ đông
Bản kiểm soát
Ban Giám Đốc
HĐQT
Phòng TCKT
Phòng TCCB-LĐ
Văn phòng TGĐ
Phòng ĐT-ĐN
Ban an toàn HH
Phòng vận tải
biển
Xí nghiệp vận tải thuỷ
NOSCO
Chi nhánh Cty tại
Tp. HCM
phương tiện giao thông vận tải;
+ Đại lý mua, bán, ký gửi hàng hoá;
+ Sản xuất, mua bán các sản phẩm nội thất gia đình và văn phòng;
+ Cung ứng lao động Việt Nam đi nước ngoài;
+ Đào tạo, giáo dục, định hướng cho người lao động đi lao động ở nước
ngoài và đào tạo nghề cho người lao động Việt Nam;
+ Kinh doanh du lịch;
+ Kinh doanh lữ hành quốc tế và nội địa;
+ Mua bán tàu biển, sửa chữa tàu biển và các trang thiết bị hàng hải;
+ Xây dựng các công trình giao thông dân dụng;
+ Dịch vụ - kinh doanh nhà khách;
+ Sửa chữa, sản xuất, lắp đặt các loại phương tiện, thiết bị công trình giao
thông đường thuỷ, đường bộ, sản xuất kinh doanh cấu kiện bê tông đúc sẵn,vật liệu
xây dựng;
■ Công ty cổ phần vận tải Biển Bắc với nhiều chi nhánh ở nhiều tỉnh thành cung
cấp sản phẩm dịch vụ chủ của công ty rộng rãi bao gồm.
- Vận tải sông, khách: NOSCO có bề dày kinh nghiệm hàng chục năm chuyên chở
hàng bằng đường sông, 5 đoàn tàu sông với tổng trọng tải 4.000 T chuyên chở than
điện, xi măng, clinker cho các Nhà máy điện, Công ty Xi măng,… với doanh thu trung bình trên 1tỷ/đoàn/ năm là một con số rất cao trong lĩnh vực vận tải sông.
Tuy nhiên, do đặc điểm của loại hình vận tải sông giá cước thấp trong khi các chi
phí nhiên liệu, bến bãi … đều tăng nên kết quả kinh doanh chủ yếu là cân bằng.
- Dịch vụ, đại lý hàng hải: NOSCO cung cấp dịch vụ cho các loại tàu ra vào các
cảng biển chính Việt Nam bao gồm thực hiện các thủ tục xuất nhập cảnh cho tàu và
thuyền viên, thủ tục giao nhận hàng tại cảng, thu xếp bốc dỡ hàng hóa, giải quyết
khiếu nại, thu xếp cứu hộ
- Xuất khẩu lao động: NOSCO bắt đầu tham gia hoạt động xuất khẩu lao động
được khoảng gần 8 năm. Những năm gần đây, kết quả SXKD của Trung tâm đã bắt
Về đầu tư xây dựng cơ bản, công ty đã hoàn thành việc ký kết hợp đồng và
chuyển 10% tiền đặt cọc mua tàu New Explorer 220.201 T với tổng mức đầu tư 19
triệu USD. Công ty đầu tư ký kết hợp đồng đóng mới tàu 12.500 T tại nhà máy
đóng tàu Hạ Long bằng nguồn vốn vay từ ngân hàng phát triển Việt Nam với tổng
dự toán là 12.8 triệu USD.
Sau đây báo cáo kết qủa kinh doanh năm 2006
Bảng báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006
TT Hạng mục
Sản lượng
(T.HK)
Doanh thu
(triệu đồng)
A Tổng doanh thu 938.988 155.917
I Hoạt động vận tải 73.432
1 Vận tải biển 730.863 68.429
2 Vận tải sông 208.125 5.003
3 Vận tải khách
II SXKD khác 82.485
1 XNK thiết bị phụ tùng máy thuỷ 59.232
2 XKLĐ, nhà khách 2.805
3 Du lịch hàng hải 570
4 Dịch vụ hàng hải 19.840
5 Khác 38
B Lợi nhuận sau thuế 4.653
( Nguồn báo cáo tổng kế sản xuất kinh doanh năm 2006)
Trong năm 2007công ty hoàn thành quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp, với
nguồn vốn dồi dào và chủ động công ty đã có sự tăng trưởng vượt bậc. Tổng doanh
thu toàn công ty là 356.778.000.000 VNĐ đạt 226.9% so với năm 2006, trong đó
vận tải biển đạt doanh thu 232.506.000.000VNĐ đạt 339.77% so với năm 2006,
kinh tế. Tổng doanh thu toàn công ty là 953,063,361,525 VND đạt 267% so với
năm 2007. Lợi nhuận trước thuế là 102,019,370,016 VND, và lợi nhuận sau thuế là
83,780,354,259VND.Đầu tháng 3/2008, công ty sẽ tiếp nhận và đưa vào khai thác tàu Glory-Nosco
với trọng tải 68.591 tấn, giá trị 78,5 triệu USD.Tính đến thời điểm này, tàu Glory-
Nosco là tàu lớn nhất Việt Nam.
Tháng 6/2008, Công ty sẽ tiếp nhận và đưa vào khai thác tàu Nosco Victory
với trọng tải 45.585 tấn với giá trị đầu tư 61,500 triệu USD, nâng tổng trọng tải đội
tàu biển của Công ty lên 200.000 tấn.
Tháng 9/2008, Công ty sẽ khởi công xây dựng nhà máy sửa chữa tàu biển tại
Yên Hưng, Quảng Yên, Quảng Ninh với diện tích 100ha với tổng mức đầu tư 100
triệu USD. Ngoài ra, trong năm 2008, Công ty cũng sẽ đóng mới trong nước 2 tàu
có trọng tải 22.500 tấn, 2 tàu có trọng tải 10.000 tấn với tổng mức đầu tư khoảng
72 triệu USD và xin đóng mới tại nước ngoài từ 2 đến 4 tàu biển có trọng tải từ
50.000 tấn trở lên với tổng mức đầu tư khoảng 200 triệu USD.
Bước sang năm 2009 với bối cảnh chung, toàn toàn cầu vẫn đang trong tình
cảnh suy thoái toàn cầu,công ty cũng gặp nhiều khó khăn, khi lượng hàng hóa chu
chuyên có xu hướng giảm do tác động của cuộc suy thoái. Nhưng công ty vẫn tâp
trung vào và hoàn thành được các mục tiêu quan trọng. Việc xây đầu tư cho xây
dựng cơ bản và đào tạo vẫn được công ty chú trọng nhằm tạo bước đệm chạy đà
trong năm 2010 khi nên kinh tế được dự báo sẽ sáng sủa hơn khi đã có dấu hiệu
phục hồi từ cuối năm,
4. Cơ hội và thách thức
Tình hình hiện tại của công ty cổ phần vận tải Biển Bắc là nền móng vững
chắc cho sư phát triển của công ty trong tương lai. Nhiều cơ hội mang lại cho cho
công ty thì mặt khác thách thức đặt ra cho công ty là không nhỏ.
hoạt động kinh doanh.và tạo nên động lực phát triển cho Công ty khi những người
lao động là chủ sở hữu từ đó phát huy tính làm chủ của người lao động.
- Sự hỗ trợ tích cực của các cổ đông chiến lược
Chuyển sang mô hình công ty cổ phần, NOSCO sẽ nhận được sự hỗ trợ từ cổ
đông chiến lược là Công ty Cổ phần Bảo Minh Sài Gòn. NOSCO sẽ tiếp cận được
nguồn vốn vay với chi phí hợp lý hơn. Điều này quan trọng khi Công ty cần phải
đầu tư nhiều hạng mục lớn trong tương lai như mua (đóng mới) tàu vận tải…
4.2. Thách thức
4.2.1 Các yếu tố vĩ mô
- Khả năng cạnh tranh kém của đội tàu Việt Nam
Có thể nói ngành vận tải biển trong nước hiện nay đang “thua trên sân nhà”
với một thị phần khiêm tốn là 15%. Tình trạng yếu kém này là do đội tàu Việt Nam
của chúng ta có trọng tải nhỏ. Tính đến tháng 4/2005, tổng tải trọng của đội tàu
Việt Nam là 3.194.911 tấn xếp thứ 60/150 nước trên thế giới, xếp thứ 4/10 nước
trong khu vực ASEAN. Độ tuổi bình quân của đội tàu tương đối cao, trên 15 năm.
Tuy đã có bước tiến đáng kể trong vài năm gần đây đội tàu quốc gia đã có 1.598
tàu với tổng trọng tải đạt hơn 6,2 triệu DWT, độ tuổi trung bình 11,8 tuổi 21,4% thị
phần vào năm 2008.Nhưng vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong cạnh tranh với
các đội tàu nước ngoài. Các tàu chuyên dụng chở các mặt hàng đặc biệt như hàng
đông lạnh, hàng lâm sản, hoá chất, gas hoá lỏng LPG, dầu thô chưa đáp ứng được
yêu cầu vận chuyển với khối lượng lớn. Chi phí vận hành, bảo hiểm và sửa chữa
cao trong khi chất lượng dịch vụ ngày càng giảm. Trong tương lai, khi Việt Nam
tham gia đầy đủ vào các công ước hàng hải quốc tế và bảo vệ môi trường, nếu đội
tàu không đựơc đầu tư nâng năng lực vận chuyển và trẻ hoá, nguy cơ bị đẩy ra
khỏi thị trường hàng hải quốc tế là không tránh khỏi.
- Thị trường dịch vụ hàng hải, đại lý môi giới tàu biển, giao nhận hàng hoá cạnh
tranh ngày càng cao.
Trên cả nước có khoảng 200 doanh nghiệp làm dịch vụ hàng hải, trong đó có
khoảng 100 doanh nghiệp nhà nước còn lại là doanh nghiệp tư nhân, hoạt động chủ
tế cao như dịch vụ mua bán tàu biển mà trước mắt là mua tàu cho Công ty, kinh
doanh nhà khách… 2 .Các giải pháp tổ chức thực hiện
- Tiếp tục duy trì và phát triển mô hình SXKD đa ngành nghề có quy mô rộng
hơn, loại hình SXKD phù hợp với nhu cầu của thị trường như dịch vụ mua bán tàu
biển mà trước mắt là thực hiện mua tàu cho Công ty, đầu tư khai thác tàu dầu tiến
tới tham gia vận chuyển Công ten nơ,… .
- Sắp xếp mô hình tổ chức Công ty theo hướng hiện đại, chất lượng, gọn nhẹ
đáp ứng được yêu cầu quản lý và mục tiêu của công ty cổ phần là đảm bảo nâng
cao lợi nhuận. Mô hình tổ chức phải mang tính chuyên môn hoá cao, phù hợp với
các loại hình SXKD của Công ty và phải linh hoạt, thích ứng kịp thời với sự phát
triển thị trường, phát huy cao độ tính tự chủ, phẩm chất, năng lực, trình độ của từng
người và từng bộ phận trong Công ty.
- Thường xuyên đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức, đạo đức
nghề nghiệp cho nguồn nhân lực hiện có; Xây dựng các chính sách phù hợp thu hút
nguồn nhân lực có chất lượng cao sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu phát triển, đặc biệt
là có chính sách thoả đáng, dài hạn để củng cố, thu hút, đào tạo đội ngũ sỹ quan,
thuyền viên của Công ty không để xảy ra tình trạng thiếu hụt những sỹ quan,
thuyền viên có chuyên môn cao, năng lực tốt, có tâm huyết với nghề nghiệp cho
đội tàu biển hiện có và sẽ có.
- Tăng cường hợp tác, củng cố quan hệ với những khách hàng truyền thống,
mở rộng quan hệ với những khách hàng mới trên cơ sở hợp tác cùng có lợi phù hợp
với luật pháp Nhà nước và thông lệ quốc tế. Trên cơ sở này, quảng bá truyền thống
tốt đẹp, chất lượng dịch vụ cao và những lợi thế của Công ty ra các ban hàng,
không ngừng nâng cao uy tín của Công ty trên thương trường, củng cố vị thế của
Công ty.
- Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch đầu tư tầu biển vào thời điểm thích hợp, giá
thành hạ, khả năng khai thác ổn định. Chú trọng chuẩn bị các điều kiện thiết yếu về