Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên của hiệu trưởng các trường THPT ở huyện thuộc TP cần thơ hiện nay - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Ngô Lam Thuần

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG
NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN CỦA
HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THPT Ở HUYỆN
THUỘC TP. CẦN THƠ HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thaønh phoá Hoà Chí Minh - 2009


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Ngơ Lam Thuần

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG
NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN CỦA
HIỆU TRƯỞNG CÁC TRƯỜNG THPT Ở HUYỆN
THUỘC TP. CẦN THƠ HIỆN NAY

Chuyên ngành
Mã số

: Quản lý giáo dục
: 60 14 05


Lâu nay ĐBSCL bị xem là "vùng trũng" về chất lượng GD. Ngoài những
nguyên nhân khách quan về điều kiện đi lại, trường lớp khó khăn, một nguyên nhân
chủ quan cũng được nhiều nhà quản lý nhắc tới: chất lượng GV chưa cao. Trong
cuộc họp giao ban cuộc vận động “hai không”, ký kết giao ước thi đua ngành GD
13 tỉnh, thành ĐBSCL Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân
thẳng thắn: “Số lượng và cơ cấu đội ngũ GV còn nhiều bất cập, chất lượng yếu kém,
nhất là tại các vùng sâu, vùng xa. Trong đó, yếu kém lớn nhất của đội ngũ này là
phương pháp giảng dạy chưa đảm bảo yêu cầu học đi đôi với hành, chưa phát huy


tính chủ động và khuyến khích sự sáng tạo của HS”.
Thành phố Cần Thơ được xem là trung tâm Kinh tế - Văn hoá của ĐBSCL,
theo kế hoạch, phấn đấu đến năm 2010 trở thành thành phố loại I trực thuộc Trung
ương và đến năm 2020 cơ bản trở thành thành phố công nghiệp. Hiện tại, TP. Cần
Thơ còn một vài huyện vùng ven, sâu đang còn rất nhiều khó khăn trong việc phát
triển chất lượng GD. Nổi bậc trong đó là khó khăn về nâng cao trình độ NVSP cho
GV. Yêu cầu cải thiện vấn đề này không chỉ là nhiệm vụ trọng tâm của ngành GD
Cần Thơ mà còn là nhu cầu của từng GV để làm tốt nhiệm vụ. Vì vậy, quan tâm
nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả cho hoạt động trên đang là yêu cầu bức xúc của
thực tiễn địa phương.
Công tác quản lý vấn đề trên của Hiệu trưởng trường THPT lâu nay đã được
quan tâm nghiên cứu. Tuy vậy, việc nghiên cứu chỉ ở mức độ ít, còn mới mẻ so với
địa bàn vùng huyện ở Cần Thơ. Mặt khác, XH luôn có những yêu cầu mới đối với
GD nói chung và GV nói riêng nên việc nghiên cứu này vẫn còn tính thời sự. Từ
những lý do nêu trên, đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho
GV của Hiệu trưởng các trường THPT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện nay” được
thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho
GV của Hiệu trưởng trường THPT ở huyện thuộc TP. Cần Thơ hiện nay, đề ra biện

Sử dụng bằng bảng hỏi để thu thập thông tin về thực trạng công tác quản lý
hoạt động bồi dưỡng NVSP của Hiệu trưởng các trường THPT thuộc địa bàn nghiên
cứu.
6.2.2. Phương pháp toán thống kê
Dùng để xử lý các kết quả nghiên cứu thu thập từ các phương pháp trên.
7. Giới hạn đề tài
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP
cho GV của Hiệu trưởng các trường THPT ở 02 huyện Vĩnh Thạnh và Thốt Nốt của
TP. Cần Thơ hiện nay, cụ thể là: Trường THPT Thạnh An, Trường THPT Bán công
Thạnh An, Trường THPT Thốt Nốt, Trường THPT Bán công Thốt Nốt và Trường
THPT Trung An.


Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Một số tài liệu liên quan đến quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho
GV THPT trong nước
1.1.1.1. Sơ lược hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV trong nước
Từ năm 1993, Bộ GD - ĐT tổ chức các chương trình BDTX theo chu kỳ 3
năm cho GV THPT. Bộ GD - ĐT đã tổ chức được 3 chu kỳ, bắt đầu là chu kỳ
BDTX 1993 - 1996; chu kỳ BDTX 1997 - 2000 và chu kỳ BDTX 2001- 2004.
Tháng 5/2006 Bộ GD - ĐT đã sớm xây dựng kế hoạch bồi dưỡng GV dạy
lớp 10 theo CT – SGK mới theo quy trình 2 cấp: Bộ GD-ĐT giao cho các trường
(khoa) ĐHSP trực tiếp bồi dưỡng GV cốt cán các môn học của các địa phương và
các Sở GD - ĐT sử dụng đội ngũ GV cốt cán các môn học tổ chức bồi dưỡng cho
tất cả GV thực hiện CT – SGK mới.
Về nội dung bồi dưỡng GV, ngoài việc nắm vững CT – SGK, còn chú ý bồi
dưỡng về đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá và sử dụng
thiết bị dạy học, phương pháp dạy các bài học có thí nghiệm, thực hành. Tuy nhiên,
trong đánh giá tình hình thực hiện phân ban THPT trong năm đầu triển khai đại trà

tự học trong đào tạo, bồi dưỡng GV.
Năm 1999, Phạm Quang Huân có bài viết: “Nâng cao chất lượng tổ chức
hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV trường phổ thông” Tạp chí Phát triển Giáo
dục số 1.
Năm 2001, Nguyễn Thị Tươi, trường ĐHSP Qui Nhơn với bài viết “Về công
tác bồi dưỡng thường xuyên cho GV THPT”.
Năm 2002, trong Tạp Chí GD, tháng 11/2002, Trần Bá Hoành đã đề cập đến
vấn đề bồi dưỡng GV trong bài “Bồi dưỡng tại chỗ và bồi dưỡng từ xa”
Trong những năm gần đây thì có thể kể đến:
Đề tài Khoa học Công nghệ do Trung tâm nghiên cứu đào tạo bồi dưỡng GV
(Viện Khoa học GD Việt Nam) thực hiện trong ba năm đã tiến hành khảo sát thực


trạng đội ngũ GV, nghiên cứu kinh nghiệm nước ngoài, từ đó nêu những vấn đề xây
dựng đội ngũ GV đáp ứng yêu cầu giai đoạn đổi mới hiện nay theo hướng: Cần đa
dạng hoá việc bồi dưỡng GV, coi trọng nhu cầu và hứng thú của người học, kết hợp
chặt chẽ với yêu cầu đổi mới GD; coi việc bồi dưỡng GV là trọng tâm, có ý nghĩa
quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả và chất lượng GD. Để thực hiện được
điều này, cần có những chế độ và chính sách hợp lý đối với GV, có đầy đủ kinh phí.
Tổ chức tốt công tác thanh tra chuyên môn GD và công tác quản lý GD, trước hết là
ban hành chính sách đối với GV, xem xét lại thang lương ngành GD, chính sách thu
hút GV công tác ở vùng có khó khăn, tăng kinh phí bồi dưỡng GV...
“Phát triển chuyên môn - nghiệp vụ cho giảng viên đại học trong thời đại thông
tin” của tác giả Lưu Xuân Mới, Học viện Quản lý GD trong Tạp chí Khoa học GD,
số 23 tháng 8/2007 đã đề cập đến việc phát triển chuyên môn, nghiệp vụ cho người
GV thời hiện đại như là tất yếu khách quan và là chìa khóa then chốt để cải tiến chất
lượng dạy đại học và có xác định đến một số kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của GV
[32, tr. 41- 44].
Bùi Thị Loan trong bài viết “Về công tác bồi dưỡng GV THPT hiện nay” ở
tạp chí GD số 176 đã đề cập đến thực trạng chất lượng và điều kiện của công tác

khảo sát thực trạng hoạt động nghề nghiệp và đánh giá GV THPT”có nhận định:
nhìn chung phần lớn GV chưa nhận thức đầy đủ nhiệm vụ, chức năng của người
GV. Chỉ có 5,6% GV nhận thức được 4 nhiệm vụ là dạy học, GD HS, giữ gìn phẩm
chất nhà giáo và phát triển chuyên môn nhưng không nêu được nhiệm vụ phối hợp
với các lực lượng trong và ngoài nhà trường và các chức năng XH khác. Còn đến
1/4 GV chỉ nắm được chương trình khối mình đang dạy. Hiểu biết về đặc điểm tâm
sinh lý của HS THPT rất hạn chế, có đến 1/5 không biết và đa phần GV chỉ có một
ý kiến về từng đặc điểm riêng lẻ. Điều này sẽ là rào cản khi GV xử lý các tình
huống dạy học và GD HS. Về nội dung phát triển năng lực nghề nghiệp, chuyên
môn nghiệp vụ thì hầu hết GV đều đánh giá cao về các kỹ năng rút ra được qua dự
giờ, các tri thức cần thiết từ đọc sách, tài liệu. Các kỹ năng cần hoàn thiện cho GV
chiếm tỉ lệ cao nhất bao gồm 2 nhóm kỹ năng: kỹ năng lập kế hoạch tự bồi dưỡng,
kỹ năng dạy học hướng vào người học, kỹ năng tổ chức và quản lý hoạt động học


của HS, kỹ năng hình thành năng lực tự đánh giá cho HS. Đối với các GVCN là kỹ
năng GD HS cá biệt, kỹ năng nghiên cứu tìm hiểu HS, tổ chức các hoạt động GD
ngoài giờ lên lớp và kỹ năng vận dụng đặc điểm tâm sinh lý HS vào tổ chức hoạt
động. Kế đến là các kỹ năng phối hợp các lực lượng khác trong GD HS và sau cùng
là các kỹ năng tự bồi dưỡng. Hình thức GV bồi dưỡng và tự bồi dưỡng phổ biến
nhất là tự học qua sách; trao đổi với đồng nghiệp; dự giờ…[8, tr. 56-59].
1.1.2. Một số tài liệu về quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV ở nước
ngoài
 Thái lan
Từ bồi dưỡng tập trung chuyển sang đào tạo – bồi dưỡng dựa vào nhà
trường. Trước đây, chương trình đào tạo để phát triển nghề nghiệp GV đương
nhiệm thường được tổ chức tập trung ở một thành phố. Các chương trình này
thường có chi phí cao, thời gian tập huấn ngắn, không được đánh giá, kiểm tra liên
tục và GV phải nghỉ dạy để tham gia. Để giải quyết những vấn đề trên, Bộ GD Thái
Lan đã đưa ra một chương trình mới, có hiệu quả và thích hợp để đào tạo và bồi

thúc đẩy quá trình cải cách dạy học được tiến hành vào năm 2003 – 2004 với mục
tiêu là lựa chọn 274 GV, mỗi GV này được cấp 25.000 bạt để đào tạo các GV khác
trong trường mình hoặc trường lân cận. Để thành công Hiệu trưởng cần hỗ trợ và
tạo điều kiện cho các GV này và coi họ là những người đi đầu trong việc đổi mới
phương pháp dạy học.
 Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc việc bồi dưỡng GV đương nhiệm nhằm trang bị cho GV lý luận
và phương pháp luận về GD để nâng cao khả năng, hiệu quả giảng dạy trong lớp
học. Các chương trình bồi dưỡng được thiết kế riêng cho từng đối tượng: Hiệu
trưởng, Phó hiệu trưởng, GV, cán bộ thư viện, GV điều dưỡng…Bồi dưỡng GV
thường có 2 loại: bồi dưỡng lấy chứng chỉ và bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ. Mỗi
chương trình bồi dưỡng thường kéo dài 30 ngày (180 giờ) hoặc lâu hơn. Chương
trình được phân loại phù hợp với mục đích bồi dưỡng, bao gồm: bồi dưỡng về soạn
thảo chương trình giảng dạy; đào tạo số hóa thông tin, dữ liệu; bồi dưỡng chung;


bồi dưỡng NVSP…Những người thiết kế chương trình này sẽ quyết định nội dung
và thời gian cho mỗi khóa bồi dưỡng.
Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng cho GV thường chú ý đến kiến thức cập
nhật, kiến thức mới cũng như phương pháp giảng dạy của thời đại toàn cầu hóa.
Chương trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho GV được tiến hành một cách đều
đặn thông qua nhiều hình thức đào tạo khác nhau, GV có thể lựa chọn các trường
mà mình đến học, lựa chọn khóa đào tạo phù hợp với thời gian biểu của mình.
Ngoài ra, họ còn có thể theo học các khóa đào tạo từ xa hoặc các khóa học đặc biệt
do các viện khoa học tổ chức. Các chứng chỉ được cấp sau các khóa đào tạo đều
được sử dụng để xem xét trong quá trình thăng chức, lên lương, cũng như tiền
thưởng [21, tr. 60-61].
 Pháp
Trong tài liệu “Những đổi mới gần đây trong đào tạo, bồi dưỡng sử dụng
giáo viên trung học ở một số nước”, tạp chí TTKHGD số 76 tác giả Trần Bá Hoành

Nốt vào đầu năm 2004, huyện vẫn còn 05 xã không có đường ôtô, 04 xã không có
chợ, 03 xã không có trụ sở làm việc. Nằm ở vùng trũng của tứ giác Long Xuyên,
huyện Vĩnh Thạnh thường xuyên chịu cảnh lụt lội nên kết cấu hạ tầng ngày một
xuống cấp. Kinh tế Vĩnh Thạnh chủ yếu dựa vào nông nghiệp theo hướng độc canh
cây lúa, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ mới chỉ ở dạng
sơ khai, tự phát và nhỏ lẻ.
Đời sống văn hóa - xã hội
Với mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống văn hóa - xã hội
Vĩnh Thạnh đã tập trung xây dựng nhiều công trình trọng tâm, nâng cấp và xây
dựng các tuyến giao thông nông thôn.
Các chính sách về y tế, giáo dục - đào tạo cũng được huyện đặc biệt quan
tâm triển khai thực hiện với phương châm đẩy mạnh XH hóa, huy động nguồn vốn


đóng góp của nhân dân xây dựng mạng lưới tổ chức khuyến học, thành lập trung
tâm học tập cộng đồng. Sau nhiều nỗ lực, năm 2004, Vĩnh Thạnh được công nhận
đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở; toàn huyện đã xây dựng
được 4 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 16%
(năm 2005), tỷ lệ hộ nghèo của huyện xuống còn 2,48% (năm 2004). Theo kế hoạch
dự kiến hoàn thành phổ cập giáo dục THPT vào năm 2010.
Huyện Thốt Nốt là một đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Cần Thơ.
Theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP ngày 02 Tháng 01 năm 2004 của Chính
phủ, huyện Thốt Nốt được tách thành 2 huyện: Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh.
Huyện Thốt Nốt hiện nay có 17.110,08 ha diện tích tự nhiên và 196.610 nhân
khẩu (năm 2007).
Về hành chính, quận gồm 01 thị trấn và 08 xã: Thị trấn Thốt Nốt, Thới
Thuận, Thuận An,Thạnh Hòa, Trung Nhứt, Trung Kiên, Thuận Hưng, Tân Hưng và
Tân Lộc.
Địa giới hành chính
Phía đông giáp quận Ô Môn; phía tây giáp huyện Vĩnh Thạnh và tỉnh An

hỗ trợ phát triển kinh tế theo hướng chuyển đổi cơ cấu, phát triển nền nông nghiệp
chất lượng cao. Xác định được tầm quan trọng của GD, đặc biệt là GD THPT đối
với huyện nhà nên dưới sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Sở GD-ĐT, sự lãnh đạo
xuyên suốt của Huyện uỷ, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân của hai huyện đã
xây dựng đề án phát triển GD với những nội dung cơ bản như sau:
-

Phát triển quy mô GD đào tạo ở các cấp học cùng với việc nâng cao chất

lượng GD đáp ứng nhu cầu học tập, yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho
huyện.
-

Tăng cường cải thiện CSVC, tập trung xây dựng trường lớp đạt chuẩn quốc

gia theo khu vực khu dân cư tạo sự thuận lợi cho việc đến trường của HS.
-

Từng bước nâng chất lượng về trình độ đạt chuẩn, trên chuẩn cho đội ngũ

GV.
-

Quan tâm hỗ trợ cải thiện đời sống tinh thần, vật chất cho GV.


1.2.3. Một số thơng tin về GD THPT của 02 huyện Vĩnh Thạnh và Thốt Nốt
TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN
HUYỆN SỐ SỐ
VĨNH LỚP GV


79
48.8

83
51.2%

20062007

105

162

1.54

3
1.9%

158
97.5%

1
0.6%

74
45.7%

56
20
34.6% 12.3%

SỐ
GV

GV/
Lớp

Trình độ chuyên môn
CHƯA
ĐẠT
CHUẨN

ĐẠT
CHUẨN

153
92.2%

20062007

92

166

1.8

13
7.8%

20072008



340

157
92.4%

VƯT
CHUẨN

3
1.7%

Trình độ chuyên môn

Thâm niên công tác
15

71
1
41.8% 0.6%

KQ đánh giá GV
Giỏi

Khá


9.8%

199
60.7
%

129
39.3%

5
1.6%

107
164
47
31.5% 48.2% 13.8%

219
64.4%

120
35.3%

VƯT
CHUẨN

1.66

16
4.9%


CHƯA
ĐẠT
CHUẨN

TB

TB

1
0.3%


1.2.4. Một số thơng tin về hoạt động bồi dưỡng NVSP cho GV các trường
THPT của 02 huyện Vĩnh Thạnh và Thốt Nốt

TÌNH HÌNH BỒI DƯỢNG NVSP CHO GV THPT
(Nguồn: Trường THPT 02 huyện Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh)
HUYỆN
THỐT
NỐT

Số
GV

20062007

166

20072008

01/160/năm 05/190/năm
1t/HK
100% GV
tham gia

BDTX Thaysách
chu kỳ (lần/GV/
năm)
01/152/năm

01/164/năm

Dựchuyênđề
Sởtổchức
(lần/GV/năm)
04/135/năm

05/190/năm

Chính Ngoại CNTT
trò
Ngữ

1lần/
năm

1lần/
năm

Dự giờ rút Chính

Ngữ
Chuẩnhóa:
05
Sau
ĐH: 07
Chuẩn
hóa:14
Sau
ĐH: 12

1.3. Cơ sở lý luận của đề tài
1.3.1. Một số khái niệm
1.3.1.1. Quản lý
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo trong “Khoa học tổ chức và quản lý một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Thống kê, Hà Nội thì thuật ngữ “Quản lý” tiếng
Việt gốc Hán đã lột tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai q
trình tích hợp vào nhau. Q trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng


thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đổi mới, đưa hệ vào thế “phát
triển”.
Từ điển GD học “Quản lý là hoạt động tác động có định hướng, có chủ đích
của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong
một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.
Nhà lý luận quản lý kinh tế A.Fayol: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức,
chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.
Ở Việt Nam, khái niệm này cũng được các nhà Khoa học GD nghiên cứu theo
nhiều cách khác nhau:
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo “Cơ sở của khoa học quản lý”, Nxb Chính trị
quốc gia Hà Nội thì “quản lý nếu ở tầm vĩ mô là: sự tác động liên tục có tổ chức, có

khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc
đối với mọi thành viên của tổ chức [26, tr. 79-80].

Kế hoạch hóa

Tổ chức

Điều hành

Kiểm tra

Thông tin

Sơ đồ 1.1. Chu trình quản lý
Theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management TQM), các chức năng quản lý bao gồm: P (Plan) Hoạch định - Thiết kế; D (Do)
Thực hiện; C (Check) Kiểm tra - Đánh giá; A (Action) Tác động - Cải tiến.
Trong đó chức năng Hoạch định - Thiết kế tương ứng với trạng thái ban đầu
của các yếu tố đầu vào. Chức năng Thực hiện, trong mối quan hệ tương tác các đối


tượng liên quan cùng thực hiện nội dung hoạt động đã được hoạch định, thiết kế
nhằm tạo ra sự biến đổi gia tăng giá trị cho đối tượng bị quản lý. Chức năng Kiểm
tra - Đánh giá các yếu tố đầu ra không chỉ nhằm làm rõ kết quả mà còn thu thập
những thông tin ngược cũng như nắm được mức độ hài lòng của “Khách hàng” và
các bên liên quan. Chức năng Tác động - Cải tiến sử dụng và phân tích thông tin
của tất cả các giai đoạn, tìm ra những điểm không phù hợp với mục tiêu, chuẩn
mực. Từ đó tác động ngược trở lại nhằm cải tiến các hoạt động của từng giai đoạn
để đảm bảo mức chất lượng tốt hơn trong chu kỳ hoạt động sau [25, tr. 13].
Như vậy, dù xuất phát từ quan điểm nào thì bản chất của các chức năng
quản lý cũng bao gồm một chuỗi các hoạt động logic: lập kế hoạch làm căn cứ pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status