ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***************
NGUYỄN THỊ QUỲNH
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
TẠI TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG TRẺ EM MỒ CÔI
HÀ CẦU – HÀ ĐÔNG – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***************
NGUYỄN THỊ QUỲNH
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
TẠI TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG TRẺ EM MỒ CÔI
HÀ CẦU – HÀ ĐÔNG – HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60900101
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: PGS. Nguyễn An Lịch
- CTXH : Công tác xã hội
- TEMC: Trẻ em mồ côi
- TTND: trung tâm nuôi dưỡng
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 1.1. Mô hình hệ thống sinh thái ở trẻ em
Biểu 1.2. Tháp nhu cầu theo Abraham Maslow
Biểu 2.1. Phối hợp giáo dục kỹ năng sống
Biểu 2.2. Số lượng trẻ em khám bệnh định kỳ
Phần 1. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em, trong bối cảnh đặc trưng về kinh tế
- văn hóa – xã hội – con người, Việt Nam đã Trẻ em, thế hệ chủ nhân tương
lai của đất nước, nhịp cầu nối các thành viên trong gia đình, đã trở thành mối
quan tâm hàng đầu trong các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của các quốc
gia.Nhận thức tầm quan trọng đó, Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và là
nước thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của
Liên hợp quốc (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990). Trên cơ sở ban hành
và từng bước hoàn thiện nhiều văn bản pháp lý liên quan như Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Nuôi con nuôi, Luật phòng chống mua bán
người… và nhiều chương trình, chính sách, kế hoạch hành động nhằm gắn
mục tiêu bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em với các chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội quốc gia.
Hiện thực hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hệ thống
cơ sở bảo trợ xã hội dành cho trẻ em trong đó có nhóm trẻ em mồ côi được
hình thành rộng khắp trên cả nước. Hình thức hoạt động của cơ sở bảo trợ xã
“Báo cáo phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam” do UNICEF thực hiện
năm 2010 đã xem xét tình hình trẻ em dựa trên quan điểm các nguyên tắc
chính về quyền con người như bình đẳng, không phân biệt đối xử và trách
nhiệm giải trình. Các cơ sở chăm sóc cả công lập và dân lập có ở hầu hết các
tỉnh thành trong cả nước dưới nhiều hình thức như chăm sóc tại nhà, chăm sóc
tập trung và các hình thức chăm sóc hỗ trợ không chính thức khác. Tình trạng
số lượng cho con nuôi ra nước ngoài cao trong khi đây được quy định là biện
pháp cuối cùng chỉ sử dụng khi không còn cách nào khác. Ngoài ra, báo cáo
cũng chỉ ra rằng Việt Nam còn thiếu các quy định cụ thể cho việc truy tố
những đối tượng hoạt động môi giới cho nhận con nuôi trái pháp luật.
2
“Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ” (MICS) năm
2010–2011 cho thấy, Việt Nam có 83,7% trẻ em trong độ tuổi từ 0–17 tuổi
đang sống với cả cha và mẹ, trong khi có 5,2% không sống với cả cha và mẹ.
Khoảng 5,7% trẻ em chỉ sống với mẹ dù cha đẻ vẫn còn sống và 2,4% trẻ em
chỉ sống với mẹ khi cha đẻ đã tử vong. Khoảng 1,8% trẻ em chỉ sống với cha
dù mẹ đẻ vẫn còn sống và 0,7% chỉ sống với cha khi mẹ đẻ đã tử vong. Có
5,3% không sống với cha đẻ [20, 187]. Kết quả điều tra trên là cơ sở tham
khảo hữu ích cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu
song cần lưu ý rằng các số liệu về thực trạng trẻ em mồ côi của MICS ở trên
là theo cách tiếp cận trẻ em mồ côi của MICS.
“Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việc phát
triển các dịch vụ công tác xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em” của tác giả Đỗ
Thị Ngọc Phương nhận định tại Anh , Mĩ, Úc, Philippines, Thái Lan,
Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, việc cung cấp dịch vụ xã hội chủ yếu là
trách nhiệm của các bộ và cơ quan nhà nước. Tại các quốc gia này, cán bộ xã
hội vẫn thực hiện chức năng tham vấn tâm lý xã hội, nhưng lồng ghép với
đánh giá các nhu cầu phúc lợi xã hội và quản lý việc tiếp cận với các dịch vụ
phù hợp để thí điểm ở các khu vực thành phố/đô thị, nơi được biết có số
lượng trẻ em bị bỏ rơi cao hơn và có nhiều gia đình có điều kiện tài chính
cũng như kỹ năng chăm sóc trẻ.
2.2. Nhóm công trình nghiên cứu về mô hình can thiệp, trợ giúp trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt
“Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng –
Những cơ sở xã hội và thách thức” là bài viết đồng tác giả Nguyễn Hồng Thái
và Phạm Đỗ Nhật Thắng đã tìm hiểu mô hình chăm sóc trẻ em dựa vào cộng
đồng. Theo tác giả, cách tiếp cận truyền thống là tiếp cận dưới góc độ trẻ em
là đối tượng cần được hỗ trợ và bảo vệ từ trên xuống mang nặng tính từ thiện,
4
bao cấp, còn tiếp cận trên cơ sở quyền trẻ em nhìn nhận trẻ em là chủ thể của
quyền, có quyền được chăm sóc, bảo vệ. Trước bối cảnh số lượng trẻ em đặc
biệt cần được bảo vệ ngày càng gia tăng trong khi các hình thức chăm sóc tập
trung đã và đang vượt quá nhu cầu đầu vào thì hình thức chăm sóc, bảo vệ trẻ
em dựa vào cộng đồng ngày càng trở lên phù hợp hơn. Tác giả đã rất cố gắng
khi chỉ ra những bất cập, trở ngại trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng song vẫn chưa chú trọng đến các giải pháp
để khắc phục những hạn chế, bất cập đó.
“Đánh giá mô hình ngôi nhà bình yên cho phụ nữ và trẻ em gái là nạn
nhân của bạo lực gia đình và buôn bán người” là nghiên cứu của Phạm Thị
Ngọc Dinh, Hồ Thị Huyền đã cho thấy mô hình ngôi nhà bình yên mang đậm
nét công tác xã hội đó là tăng cường chức năng xã hội bằng cách cung cấp các
dịch vụ hỗ trợ phòng chống bạo lực gia đình cho phụ nữ và trẻ em gái như
dịch vụ nhà tạm lánh, tư vấn, chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề, dạy kỹ
năngsống... Tác giả cũng cho thấy Mô hình Ngôi nhà Bình yên có thể được áp
dụng xây dựng ở các địa phương trong cả nước trên cơ sở phù hợp với tình
7. Hervé Boéchat, Nigel Cantwell và Mia Dambach (2009), Nhận con
nuôi từ Việt Nam: Những phát hiện và khuyến nghị, tr.12-16, 21-23, 7074
8. Nguyễn Hải Hữu (2012), Kinh nghiệm một số nước về bảo vệ trẻ em,
www.molisa.gov.vn/news
9. Lê Thu Hà (2011), Tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các dự
báo đến năm 2020, Tạp chí Dân số và Phát triểns, số 05 (122)
10.Landgren, Karen (2009), Môi trường bảo vệ: Hỗ trợ phát triển cho bảo
vệ trẻ em
6
11.Liên hiệp quốc (1990), Công ước quốc tế về quyền trẻ em
12.Niêm giám thống kê Y tế, 2009
13.Đỗ Thị Ngọc Phương (2012), Một số kinh nghiệm quốc tế và những
vấn đề đặt ra đối với việc phát triển các dịch vụ công tác xã hội trong
công tác bảo vệ trẻ em, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Chia sẻ kinh nghiệm
CTXH và ASXH, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
14. Quốc hội (1999), Bộ Luật hình sự
15.Quốc hội (2004), Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
16.Quốc hội (2010), Luật Nuôi con nuôi
17.Quốc hội (2011), Luật Phòng chống mua, bán người
18.Phạm Văn Quyết, Phạm Anh Tuấn(2012), Công tác hỗ trợ nhóm yếu
thế ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo Ngày Công tác xã hội thế giới tại Việt
Nam, NXB ĐHQGHN, Hà Nội
19.Dương Hải Yến (2008), Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn: Cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về dân sự ở Việt Nam
hiện nay, Luận văn Thạc sỹ, chuyên ngành Luật học, Khoa Luật, Đại
học Quốc gia Hà Nội
20.Tổng cục Thống kê (2011), Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và
phụ nữ 2010-2011