LỜI CẢM ƠN!
Đề tài của tôi được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của Thạc sĩ
Nguyễn Thị Huệ - giảng viên khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc. Đồng
thời, tôi cũng nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, ban
Chủ nhiệm khoa Sử - Địa, phòng Quản lý Khoa học và Quan hệ Quốc tế, Thư
viện Trường Đại học Tây Bắc cùng các bạn sinh viên lớp K51 ĐHSP Địa lí.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Trường THPT Yên Lập - Yên Lập - Phú Thọ đã
giúp đỡ tôi trong quá trình trình thực nghiệm sư phạm.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả các thầy
cô giáo, các bạn sinh viên, các em học sinh đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá
trình hoàn thành đề tài.
Đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi rất mong
nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để đề tài
được hoàn thiện hơn.
Ngƣời thực hiện
Hà Thị Nhƣợng
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài..........................................................................................1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài.................................................... 2
2.1. Mục tiêu.................................................................................................2
2.2. Nhiệm vụ................................................................................................2
2.3. Giới hạn của đề tài................................................................................2
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề..........................................................................3
3.1. Trên thế giới.......................................................................................... 3
3.2. Việt Nam................................................................................................5
4. Phƣơng pháp nghiên cứu...........................................................................6
4.1. Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu...........................6
2.2.1. Phương thức tích hợp...................................................................28
2.2.2. Nguyên tắc tích hợp..........................................................................29
2.2.3. Phương pháp tích hợp .......................................................... 2
9
2.2.3.1. Phương pháp đàm thoại .........................................................30
2.2.3.2. Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề .................... 3
1
2.2.3.3. Phương pháp trực quan ......................................................... 3
4
2.2.3.4. Phương pháp tranh luận ........................................................ 3
8
2.2.3.5. Phương pháp kể chuyện ......................................................... 3
9
2.2.4. Các hình thức tổ chức tích hợp GDMT trong dạy học Địa lí lớp
10 ................................................................................................... 4
1
2.2.4.1. Hình thức dạy học nội khóa ................................................... 4
1
2.2.4.2. Giáo dục môi trường qua hoạt động ngoại khóa. .................. 4
2
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM ........................................................ 47
3.1. Mục đích thực nghiệm ........................................................................ 4
7
3.2. Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm .................................................... 4
7
3.3. Nhiệm vụ thực nghiệm ........................................................................ 4
8
3.4. Phương pháp thực nghiệm ................................................................. 4
Đọc là
1
BVMT
Bảo vệ môi trƣờng
2
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
3
GDMT
Giáo dục môi trƣờng
4
PPDH
Phƣơng pháp dạy học
5
SGK
GDMT
19
2
3.1
Thống kê các lớp tiến hành thực nghiệm và đối
chứng
50
3
3.2
Thống kê kết quả phiếu điều tra thực nghiệm đối
với học sinh
51
4
3.3
Thống kê kết quả phiếu điều tra thực nghiệm đối
với giáo viên
52
2.1
Hình 37.3 - Các luồng vận tải hàng hóa bằng đƣờng
biển chủ yếu trên thế giới
35
2
2.2
Tắc nghẽn giao thông
37
3
2.3
Một khu nhà ổ chuột
37
4
2.4
Vứt rác bừa bãi
05 tháng 06 hàng năm trở thành “Ngày môi trƣờng thế giới”.
Trong chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 25 tháng 06 năm 2008 Ban chấp hành
Trung ƣơng Đảng về “tăng cƣờng công tác bảo vệ môi trƣờng trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc” đã nêu rõ một trong những giải pháp hàng
đầu, đó là: Thƣờng xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống
và các phong trào quần chúng, bảo vệ môi trƣờng.
BVMT là vấn đề rộng lớn của toàn xã hội, nó có liên quan trực tiếp không
những với từng cá nhân con ngƣời, từng nhóm ngƣời mà với cả cộng đồng, quốc
gia và quốc tế. Việc GDMT ở nhà trƣờng phổ thông là một quá trình nhận thức
giúp các em hiểu biết về thiên nhiên, môi trƣờng, từ đó giáo dục cho các em ý thức
quan tâm thƣờng xuyên đến môi trƣờng, dần dần hình thành ở các em lòng
1
yêu thích tôn trọng thiên nhiên, bảo vệ môi trƣờng sống, phong cảnh đẹp, các di
tích văn hóa lịch sử của đất nƣớc.
Việc GDMT ở nhà trƣờng phổ thông chƣa có môn học và bài học riêng kiến thức về môi trƣờng chỉ đƣợc lồng ghép vào một số bài học ở một số bộ
môn. Trong đó, ở nhà trƣờng phổ thông, Địa lí là môn học có tính chất tổng hợp
của những tri thức khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Đây cũng là một trong
những môn học có “tính môi trƣờng” nhất. Chính vì vậy, môn Địa lí ở trƣờng
phổ thông có nhiều thuận lợi để giáo dục về môi trƣờng cho học sinh hơn những
môn khác.
Nhận thức về tính cấp thiết, thực tế và vai trò của GDMT cho học sinh những thế hệ chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc, của thế giới, tôi lựa chọn đề tài
“Tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học Địa lí lớp 10” làm đối tƣợng
nghiên cứu. Hi vọng có thể đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào mục tiêu
GDMT vì sự phát triển bền vững của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ, giới hạn của đề tài
2.1. Mục tiêu
trƣờng toàn cầu. Đặc biệt, hội nghị còn kiến nghị cần phải quan tâm đến GDMT
trong nhà trƣờng: “Không có một quốc gia nào có sự phớt lờ sự cần thiết để tạo
ra những cố gắng có suy nghĩ nhằm dẫn đến sự quan tâm đến môi trƣờng của
học sinh trong nhà trƣờng” (GDMT, tập 8, UNSCO, 1985). Để thực hiện thành
công GDMT, hội nghị đã đề nghị cần phải đào tạo, bồi dƣỡng giáo viên, phát
triển và thử nghiệm các chƣơng trình, tài liệu, phƣơng pháp GDMT.
Cũng từ hội nghị Stốckhôm, chƣơng trình môi trƣờng Liên Hợp Quốc
(UNEP) đƣợc thành lập. Sau đó UNEP kết hợp với UNESCO khai trƣơng
chƣơng trình GDMT quốc tế (International Environmental Education
Programme - IEEP). Chính IEEP đã tổ chức hội thảo quốc tế về GDMT tại Bêôgrat
(thủ đô Nam Tƣ cũ) từ ngày 13 đến 22 tháng 10 năm 1975. Kết quả cuộc hội thảo
này là đƣa ra hiến chƣơng Bêôgrat, trong đó đƣa ra các nguyên tắc và các hƣớng
dẫn cho chƣơng trình GDMT toàn cầu. Theo sau hội thảo Bêôgrat, hàng loạt các
cuộc hội thảo vùng đƣợc diễn ra ở Brazavil (châu Phi), Băng Cốc
(châu Á), Cô - Oét (các nƣớc Ả Rập), Bôgôta (châu Mĩ Latinh và vùng biển
Caribê), Henxinki (châu Âu). Ở châu Á một cuộc hội thảo cũng đƣợc tổ chức tại
3
Băng Cốc vào tháng 11 năm 1976. Ở đây, những ngƣời tham gia hội thảo đã
đƣa ra 15 khuyến nghị tập trung vào bốn lĩnh vực sau:
+ Chƣơng trình GDMT
+ Bồi dƣỡng nguồn lực
+ GDMT phi chính quy
+ Soạn thảo tài liệu, xây dựng các phƣơng tiện giảng dạy GDMT.
Tiếp theo hội nghị các khu vực, từ ngày 14 đến 26 tháng 10 năm 1977,
một hội nghị quốc tế về GDMT đƣợc tổ chức tại Tbilisi (Cộng hòa Grudia),
gồm 66 đại biểu của 66 nƣớc thành viên của UNESCO. Hội nghị này là đỉnh
3.2. Việt Nam
Vấn đề GDMT đã và đang thu hút đƣợc sự quan tâm đông đảo của các
nhà giáo dục. Đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này, ví dụ nhƣ:
Cuốn sách "Giáo dục môi trƣờng qua môn Địa lí", của nhóm tác giả
Nguyễn Phi Hạnh - Nguyễn Thị Thu Hằng, NXB Đại học Sƣ Phạm - 2004, đã
đề cập tới những vấn đề cơ bản của GDMT qua môn Địa lí. Nội dung cuốn sách
trình bày những nhận thức cơ bản về môi trƣờng, bao gồm các khái niệm, các cơ
sở lí luận của việc BVMT và GDMT. Trình bày tình hình khai thác, sử dụng các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, hiện trạng môi trƣờng trên thế giới và ở nƣớc ta.
Phần này cung cấp một số tƣ liệu cần thiết về môi trƣờng có thể vận dụng vào
việc giảng dạy phần kiến thức môi trƣờng có liên quan với nội dung các bài học
địa lí. Khái quát những nét chung nhất về GDMT trên thế giới và ở Việt Nam,
sau đó trình bày về GDMT qua môn Địa lí ở nhà trƣờng. Cuốn sách cho chúng
ta những hiểu biết khái quát về cơ sở của việc BVMT, hiện trạng môi trƣờng
trên thế giới, ở nƣớc ta và các phƣơng pháp GDMT.
Tác giả Đặng Văn Đức - Nguyễn Thị Thu Hằng, “Thiết kế các môđun khai
thác nội dung giáo dục môi trƣờng trong sách giáo khoa Địa lí bậc Trung học”,
NXB Đại học Sƣ Phạm - 2006, nghiên cứu về việc thiết kế những bài học khai
thác nội dung GDMT trong sách giáo khoa (SGK) Địa lí phổ thông.
Ngoài ra còn có các bài viết trong tạp chí chuyên ngành, tạp chí nghiên cứu
giáo dục, tạp chí thông tin khoa học giáo dục cũng đã đề cập đến vấn đề GDMT.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã đề cập đến hầu hết những khía cạnh
của vấn đề GDMT nhƣng chƣa trình bày cụ thể về tích hợp GDMT trong dạy học Địa
lí lớp 10. Nội dung chƣơng trình Địa lí lớp 10 là Địa lí đại cƣơng, các kiến thức cơ
bản về tự nhiên và kinh tế - xã hội thế giới. Từ các kiến thức Địa lí có tính chất
5
nền tảng đó, dễ dàng GDMT cho học sinh mối quan hệ giữa môi trƣờng và các hoạt
hình ảnh minh hoạ cho các loại tài nguyên thiên nhiên, hiện trạng môi trƣờng…
mà đôi khi dùng lời nói khó có thể diễn tả đƣợc.
6
4.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sƣ phạm tại một số trƣờng THPT nhằm kiểm chứng
và đánh giá tính khả thi của việc tích hợp nội dung GDMT qua môn Địa lí lớp
10.
5. Dự kiến đóng góp của đề tài
Đề tài hoàn thành là một tƣ liệu giúp học sinh có thêm hiểu biết về ý nghĩa,
tính cấp thiết, thực tế của vấn đề GDMT. Giúp giáo viên có đƣợc phƣơng pháp
và hình thức tích hợp GDMT trong dạy học Địa lí.
Đây cũng là nguồn tài liệu bổ ích cho những ai quan tâm đến công tác
GDMT vì một hành tinh xanh và mục tiêu phát triển bền vững đang là mối quan
tâm của toàn nhân loại.
6. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục các tài liệu tham khảo và kết luận,
nội dung đề tài gồm có 3 chƣơng:
Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của tích hợp giáo dục môi trƣờng qua
dạy học Địa Lí 10 THPT
Chƣơng 2. Tích hợp giáo dục môi trƣờng trong dạy học địa lí lớp 10 THPT
Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm
7
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chƣơng 1
- Môi trƣờng nhân tạo bao gồm các yếu tố vật lí, sinh học, xã hội do con
ngƣời tạo nên và chịu sự chi phối của con ngƣời. Con ngƣời đã cải tạo làm thay
đổi, hoặc tạo ra các đối tƣợng mới nhƣ làng mạc, các hệ thống thủy lợi phục vụ
cho nông nghiệp và sinh hoạt…
- Môi trƣờng xã hội là tổng thể các quan hệ giữa ngƣời và ngƣời, thuận lợi
hay gây trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các các nhân và cộng đồng của
con ngƣời.
Trong khoa học theo nghĩa rộng, môi trƣờng bao gồm các nhân tố tự nhiên
và các nhân tố kinh tế xã hội ảnh hƣởng tới chất lƣợng cuộc sống con ngƣời và
các nguồn tài nguyên cần thiết cho sự sống. Theo nghĩa hẹp, môi trƣờng bao
gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội, trực tiếp liên quan đến cuộc sống con ngƣời
không xem xét đến tài nguyên trong đó.
1.1.1.2. Khái niệm giáo dục môi trường
Có rất nhiều khái niệm về GDMT nhƣ “GDMT là quá trình nhận ra các giá
trị và làm sáng tỏ các quan điểm để phát triển các kĩ năng và thái độ cần thiết,
nhằm hiểu và đánh giá đúng đắn mối tƣơng quan giữa con ngƣời, môi trƣờng
văn hóa và môi trƣờng bao quanh. GDMT cũng đòi hỏi thực hành trong việc
đƣa ra quyết định và tự xây dựng qui tắc hành vi về các vấn đề liên quan đến
chất lƣợng môi trƣờng” (Ủy ban giáo dục của IUCN). Hội nghị quốc tế về
GDMT ở trƣờng học - Pari, UNESCO, 1970).
Trong báo cáo của hội nghị GDMT ở Tbilisi, 1977 cho rằng “GDMT là
một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục. Nó nên đƣợc tập trung vào những
vấn đề thực tiễn và mang tính chất liên thông. Nó nên nhằm vào xây dựng giá
trị, đóng góp vào sự nghiệp phồn vinh của cộng đồng và liên quan đến sự sống
còn của nhân loại. Ảnh hƣởng của nó nên ở thời gian khởi đầu của ngƣời học và
liên quan đến môi trƣờng sống của họ trong hoạt động. Nó nên đƣợc hƣớng dẫn
ở cả các môn học hiện tại và tƣơng lai có liên quan”.
Tuy nhiên trong khuôn khổ của việc GDMT thông qua môn Địa Lí ở nhà
trƣờng có thể hiểu: GDMT là một quá trình nhằm phát triển ở ngƣời học sự hiểu
mặt này thƣờng xuyên tác động và đan xen lẫn nhau trong một hệ thống, đƣợc
gọi là môi trƣờng sống. Cho nên khi con ngƣời làm bất cứ một việc gì đều phải
tính toán đến các mối quan hệ hữu cơ nêu trên. Nói một cách khác, chúng ta phải
10
thƣờng xuyên tích hợp các mặt của cuộc sống với nhau để chúng có thể đi đúng
và phát triển theo quỹ đạo đã đặt ra.
1.1.2. Mục tiêu tích hợp giáo dục môi trường
GDMT nhằm giúp cộng đồng hiểu đƣợc bản chất phức tạp của hệ thống
môi trƣờng thiên nhiên cũng nhƣ nhân tạo để từ đó giúp con ngƣời có những
hành vi đối xử “thân thiện” hơn đối với môi trƣờng.
Mục tiêu của giáo dục bảo vệ môi trƣờng cũng nhằm trang bị cho cộng
đồng những kĩ năng hành động BVMT một cách hiệu quả hơn. Phƣơng pháp
GDMT hiệu quả nhất là giáo dục kiến thức về môi trƣờng trong một môi trƣờng
cụ thể nhằm hƣớng các đối tƣợng giáo dục có hành động BVMT.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc GDMT trong công tác BVMT,
Đảng và Nhà nƣớc đã có những chính sách, những chƣơng trình hành động cụ
thể nhƣ Chỉ thị 36/CT - TƢ ngày 25/6/1998 của bộ chính trị về tăng cƣờng
công tác BVMT trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH - HĐH) đất
nƣớc: “BVMT là một vấn đề sống còn của đất nƣớc, của nhân loại; là nhiệm vụ
có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi
nƣớc, với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế
giới. Đảng và Nhà nƣớc đã có những chủ trƣơng, biện pháp giải quyết các vấn
đề về môi trƣờng. Tuy nhiên, việc BVMT ở nƣớc ta hiện chƣa đáp ứng yêu cầu
của quá trình phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Nhìn chung môi
trƣờng nƣớc ta vẫn tiếp tục bị ô nhiễm và suy thoái, có nơi nghiêm trọng. Ý
thức tự giác bảo vệ và giữ gìn môi trƣờng công cộng chƣa trở thành thói quen
trong cách sống của đại bộ phận dân cƣ”.
đƣợc thực hiện thông qua các chƣơng trình chính khóa và ngoại khóa ở tất cả các
cấp học trong phạm vi cả nƣớc. Do đó, dựa vào mục tiêu, nhiệm vụ của GDMT ở
trƣờng phổ thông, nội dung GDMT gồm những lĩnh vực tri thức sau:
- Những kiến thức về môi trƣờng và các yếu tố của môi trƣờng: Các khái
niệm cơ bản về môi trƣờng (môi trƣờng, ô nhiễm môi trƣờng, các hiện tƣợng
thời tiết nhƣ mƣa axit…). Các khái niệm về yếu tố của môi trƣờng tự nhiên và
nhân tạo, quan hệ giữa môi trƣờng với đời sống con ngƣời.
- Những kiến thức về sự tác động của môi trƣờng đến sinh vật và con
ngƣời: Khái niệm về sự tác động của môi trƣờng đến sự tồn tại và phát triển của
12
động thực vật và con ngƣời. Khái niệm về sự tác động của môi trƣờng đến các
điều kiện lao động, sản xuất của con ngƣời. Khái niệm về sự tác động của môi
trƣờng đến các điều kiện nghỉ ngơi, giải trí và sức khỏe con ngƣời.
- Những kiến thức về sự tác động của con ngƣời đến môi trƣờng: Khái
niệm về việc khai thác, sử dụng hợp lí các tài nguyên thiên nhiên, việc phục hồi
và làm giàu các tài nguyên thiên nhiên, việc cải tạo môi trƣờng tự nhiên. Các
kiến thức về những vấn đề nổi cộm hiện nay và trong tƣơng lai nhƣ cạn kiệt và
suy thoái tài nguyên thiên nhiên, sự biến đổi của môi trƣờng. Các vấn đề môi
trƣờng (Hiện trạng môi trƣờng, ô nhiễm môi trƣờng, tài nguyên khoáng sản…).
- Những kĩ năng học tập và BVMT: Những kĩ năng học tập nhƣ thu thập số
liệu, làm thí nghiệm. Các biện pháp giáo dục môi trƣờng ở bậc phổ thông, ý thức
BVMT. Một số chủ đề ngoại khóa nhƣ ô nhiễm môi trƣờng, dân số, các nhu cầu
của con ngƣời.
Đối với giáo dục trung học cơ sở và THPT: Trang bị những kiến thức về
sinh thái học, mối quan hệ giữa con ngƣời với thiên nhiên, trang bị và phát triển
kĩ năng bảo vệ và gìn giữ môi trƣờng, biết ứng xử tích cực với môi trƣờng sống
sẽ nuôi dƣỡng, nâng cao ý thức và tinh thần trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng của
chính họ, tạo nên những động cơ mạnh mẽ, những cam kết vững chắc hƣớng về
về một môi trƣờng trong lành và phát triển trong tƣơng lai. Bởi vì, mỗi cá nhân
nếu đều có ý thức đóng góp những hành động dù nhỏ nhƣng tích cực cũng sẽ
góp phần tạo nên những thay đổi lớn tốt đẹp hơn cho môi trƣờng.
Mục đích cuối cùng của GDMT là tiến tới xã hội hóa các vấn đề môi
trƣờng, nghĩa là tạo ra các công dân có nhận thức, có trách nhiệm với môi
trƣờng, biết sống vì môi trƣờng.
Một khi các vấn đề môi trƣờng đã đƣợc xã hội hóa thì những lợi ích kinh
tế cho cộng đồng ngày một gia tăng và đặc biệt hiệu lực quản lí nhà nƣớc tăng
nhƣng gánh nặng chi phí sẽ giảm. Do đó, những kết quả nghiên cứu về môi
trƣờng và các phƣơng pháp khắc phục ở nhiều quốc gia trên thế giới đã đi đến
kết luận chung là: không có giải pháp nào kinh tế và hiệu quả bằng việc đầu tƣ
vào con ngƣời thông qua công tác GDMT.
1.2.2. Thực trạng tích hợp giáo dục môi trường ở Việt Nam
GDMT đã đƣợc đề cập trong chƣơng trình nhà trƣờng từ những năm 60 của
thế kỉ XX. Việc GDMT đã đƣợc tích hợp vào toàn bộ hệ thống giáo dục ở tất cả
các cấp từ tiểu học đến trung học phổ thông ở nhiều nƣớc trên thế giới trong đó
14
có Việt Nam. GDMT ở nƣớc ta đƣợc lồng ghép vào môn Địa lí từ năm 1981
cùng với việc thực hiện chƣơng trình cải cách giáo dục và chia thành các cấp
học và đƣợc tích hợp vào nhiều môn học khác nhau trong đó chủ yếu là ở hai
cấp THCS và THPT.
GDMT ở bậc phổ thông: Xuất hiện từ những năm 1960 nhƣng mức độ còn rất
hạn chế. Từ đầu thập kỉ 80 đến nay nội dung GDMT đã đƣợc tích hợp vào chƣơng
trình giảng dạy các môn có nhiều khả năng tích hợp GDMT nhƣ Địa lí, Sinh học,
Giáo dục công dân… Ở cấp học này, nội dung giáo dục phải đƣợc coi là nội dung
các hiện tƣợng, sự vật địa lí và tác động qua lại giữa chúng; một số quy luật phát
triển của môi trƣờng tự nhiên trên Trái Đất, dân cƣ và các hoạt động của con
ngƣời trên Trái Đất, mối quan hệ giữa dân cƣ, hoạt động sản xuất và môi
trƣờng, sự cần thiết phải khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi
trƣờng nhằm phát triển bền vững. Từ đó góp phần bồi dƣỡng cho học sinh tình
yêu thiên nhiên thông qua việc ứng xử thích hợp với tự nhiên.
Căn cứ vào vị trí và mục tiêu của môn học, có thể thấy môn Địa lí lớp 10
trong nhà trƣờng phổ thông có nhiều lợi thuận lợi cho việc dạy tích hợp giáo dục
BVMT. Vì môn Địa lí trang bị cho học sinh những kiến thức tổng hợp về Địa lí
tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội mà từng thành phần hoặc tổng hợp thể tự
nhiên hay kinh tế - xã hội đều liên quan hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đến môi
trƣờng và BVMT. Vả lại, chúng ta đang triển khai việc tích hợp giáo dục
BVMT qua môn Địa lí ở trƣờng trung học, nên đã có những tiền đề để khai thác,
phục vụ cho việc GDMT đối với học sinh lớp 10.
Nguyên tắc tính thực tiễn và yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học theo
hƣớng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thực hiện dạy tích hợp GDMT. Việc gắn nội dung của những bài học Địa lí
lớp 10 có khả năng tích hợp GDMT với thực tiễn địa phƣơng giúp cho học sinh
hiểu vấn đề sâu sắc hơn, thấy đƣợc những kiến thức Địa lí là bổ ích, làm cho các
em biết thực tế địa phƣơng, hiểu thêm về quê hƣơng từ đó có đƣợc tâm thế sẵn
sàng tham gia vào các hoạt động BVMT ở địa phƣơng. Trong quá trình học tập,
các em đƣợc suy nghĩ, liên hệ và đôi khi vận dụng sự hiểu biết của mình tự đƣa
ra các giải pháp góp phần giải quyết vấn đề BVMT. Điều đó làm cho việc tích
hợp GDMT trở nên hấp dẫn, sinh động hơn.
Nhìn chung, SGK Địa lí lớp 10 có nhiều thuận lợi để tích hợp GDMT. Do
vậy, giáo viên có thể khai thác để tích hợp GDMT trong quá trình dạy học.
16
khai thác triệt để khi tiến hành tích hợp GDMT vào trong dạy học Địa lí lớp 10.
17
Việc dạy tích hợp GDMT vào trong dạy học Địa lí lớp 10 sẽ góp phần thu hút sự
quan tâm và phát triển hứng thú học tập cho các em đối với bộ môn.
- Đối với học sinh THPT, hoạt động học tập đã trở thành trách nhiệm rõ rệt
thúc đẩy nhanh chóng mọi khả năng trí tuệ ở các em. Đặc điểm nổi bật về sự
phát triển trí tuệ của lứa tuổi này là: Tính chủ động, tính chủ định, tính tích cực,
tính tự giác đƣợc thể hiện rõ rệt ở tất cả các quá trình nhận thức. Năng lực tƣ
duy, năng lực tƣởng tƣợng và các khả năng khác ở học sinh THPT đƣợc hoàn
thiện nhanh chóng và có chất lƣợng cao. Ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ
đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớ lôgic trừu tƣợng, ghi
nhớ có ý nghĩa ngày một rõ rệt.
- Khả năng tƣ duy lí luận, tƣ duy trừu tƣợng bộc lộ khá rõ, học sinh có khả
năng tiếp nhận nguồn tri thức một cách sáng tạo, có thể phân tích, làm sáng tỏ
các vấn đề một cách nhanh chóng. Do đó các em có thể thực hiện các thao tác tƣ
duy phức tạp nhƣ: Phân tích mối quan hệ nhân quả giữa các thành phần tự nhiên
hay mối quan hệ nhân quả giữa tự nhiên với kinh tế - xã hội…
Ở bậc học này các em đã có những kiến thức Địa lí nhất định, một số kĩ
năng đã đƣợc hình thành nhƣ kĩ năng đọc bản đồ, kĩ năng so sánh, kĩ năng phân
tích bảng số liệu… Do đó giáo viên cần nâng cao yêu cầu của câu hỏi, bài tập để
học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức và tự kiểm tra, đánh giá quá trình học tập
của mình.
Tuy nhiên năng lực tƣ duy của các em cũng chƣa thật hoàn thiện nhƣ ngƣời
trƣởng thành, có khi còn vội vàng, thiếu chuẩn xác, do vậy rất cần sự hƣớng dẫn
của giáo viên để giúp các em nhanh chóng hoàn thiện khả năng nhận thức của
mình. Việc giúp các em phát triển khả năng nhận thức là một nhiệm vụ quan trọng
của giáo viên, vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để nâng cao chất lƣợng học tập
của học sinh, điều này đòi hỏi phải đổi mới PPDH nói chung trong đó có