đổi mới thiết kế bài học ngữ văn
lớp 10 THPT theo hớng tích hợp
Phần một
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
1.1. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế tri thức và sự phát
triển nh vũ bão của khoa học - công nghệ, trong ngành giáo dục, đào tạo cũng
đang diễn ra cuộc cách mạng về PPDH (phơng pháp dạy học). Bản chất của cuộc
cách mạng này là phải chuyển từ phơng pháp truyền tin sang phơng pháp tổ chức,
điều khiển để ngời học học tự mình tìm tòi, phát hiện và chiếm lĩnh nội dung học
vấn bằng chính hành động và thao tác của họ. Nói chữ A Đixtecvec (1790 - 1966)
thì ngời thày giáo không phải chỉ "Mang trí thức đến với học sinh" mà quan
trọng hơn là phải "Dạy họ cách tìm ra chân lý"; phải tăng cờng tổ chức hoạt
động tự học, tự nghiên cứu, "Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học", tự
nghiên cứu, hớng dẫn hình thành kỹ năng tự học nh T.Maki đã nhấn mạnh: "Nhà
giáo, trớc hết không phải là ngời cung cấp thông tin mà là ngời hớng đắc lực cho
học sinh tự mình học tập tích cực Họ phải nhờng quyền cung cấp tri thức cho
sách vở, t liệu và cuộc sống", thay vào đó giáo viên phải là cố vấn, là "Trọng tài
khoa học". Muốn vậy, trớc hết cần phải đổi mới cách dạy, cách học theo phơng h-
ớng hiện đại hoá về nội dung, phơng pháp và phơng tiện dạy học. Nói nh Thủ tớng
Phạm Văn Đồng thì "Dứt khoát chúng ta phải có cách dạy khác". (Dạy văn là
một quá trình phát triển toàn diện 1973).
1.2. Trong cuốn "Văn học giáo dục thế kỷ XXI" (của giáo s Phan Trọng
Luận - NXBGD năm 2002 trang 85), giáo s (GS) đã khẳng định về việc "Đổi mới
PPDH TPVC" là "Nhất thiết chúng ta phải đi tiếp không phải chỉ vì đó là con đ-
ờng đang đi của các nớc tiên tiến mà còn là đòi hỏi cấp thiết hàng mấy chục năm
1
của đời sống s phạm nớc ta".
1.3. Hiện nay đổi mới PPDH nhằm "Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh bồi dỡng phơng pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận
dụng vào thực tiễn. Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập
khăn, gây nên sự nhàm chán cho học sinh, làm cho học sinh tiếp thu một cách thụ
động, không phát huy đợc vai trò cha thể sáng tạo, HS không có khả năng t duy
tổng hợp. Bên cạnh đó, nhiều khi GV hiểu về tích hợp một cách lệch lạc nên trong
giờ dạy TPVH ngời dạy lại lấn sân sang kiến thức tiếng Việt một cách quá đà làm
cho giờ dạy học TPVH trở thành giờ phân tích từ ngữ, ngữ pháp một cách khô
cứng. Ngợc lại cũng có khi giáo viên dạy tiếng Việt lại lấy quá nhiều ngữ liệu từ
văn mà không có sự chọn lọc để lựa ra những giữ liệu thật tiêu biểu, hơn nữa GV
lại sa vào phân tích chất văn hơn là một giờ dạy - học tiếng Việt. Những hiện tợng
này đều cha thể hiện đợc yêu cầu đổi mới của PPDH mới theo hớng tích hợp.
1.5. Năm học 2006 - 2007 SGK Ngữ văn 10 mới chính thức sẽ đợc đa vào
dạy học đại trà trên toàn quốc sau ba năm thí điểm. Để đáp ứng các yêu cầu về đổi
mới PPDH theo hớng tích hợp thì thiết kế bài học cũng là một phơng diện quan
trọng có ý nghĩa quyết định chất lợng dạy học ngữ văn.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài "Đổi mới
thiết kế giờ học Ngữ văn lớp 10 theo hớng tích hợp" với mong muốn ít nhiều góp
phần đáp ứng những yêu cầu căn bản nhất của nội dung và phơng pháp xây dựng
thiết kế bài học Ngữ văn lớp 10 theo hớng tích hợp. Thiết nghĩ đó cũng là ý nghĩa thực
tiễn của đề tài.
2. Lịch sử vấn đề.
2.1. Về vấn đề tích hợp.
2.1.1. Về dạy học theo hớng tích hợp đã có một số công trình nghiên cứu đ-
ợc công bố. Trong đó nổi bật là cuốn sách "Khoa s phạm trích lập hay làm thế nào
để phát triển các năng lực ở nhà trờng" của tác giả Xavier Roegiers - Phó Giám
đốc văn phòng Công nghệ Giáo dục và Đào tạo (của nớc nào, hoặc tổ chức nào?)
(BIEF) (NXBGD 1996 do Đào trọng Quang và Nguyễn Ngọc Nhị dịch). Đây là
3
cuốn sách có giá trị lý luận cao giúp ta hiểu đợc nội dung và bản chất của tích hợp
và cho thấy những ảnh hởng của khoa s phạm tích hợp đối với chơng trình SGK
cũng nh kiến thức mà HS lĩnh hội đợc.
Hiện nay cuốn sách trên đã trở thành nguồn tài liệu quý giá đối với việc đổi
biên soạn chơng trình SGK Ngữ văn THCS cũng có nhiều đóng góp đáng ghi
nhận. Trong cuốn "Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS "NXBGD
2002, tác giả có một hệ thống bài viết về quan điểm tích cực và việc dạy học văn
theo hớng tích hợp, giúp ngời đọc hiểu rõ "Việc lấy tên chung của cuốn sách là
Ngữ văn không chỉ đơn thuần là dồn ba phân môn lại thành một cuốn sách theo
kiểu gộp lại (Combination) mà chúng đợc xây dựng theo tinh thần tích hợp
(Integration)".
Trong bài viết "Dạy học môn Ngữ văn theo nguyên tắc tích hợp", tác giả chỉ
ra biểu hiện của tích hợp là "Trong cuốn sách cả ba phân môn văn, tiếng Việt, Tập
làm văn cùng dựa trên một văn bản chung để khai thác, hình thành, rèn luyện các
kiến thức và kỹ năng của mỗi phân môn". Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra u điểm của
nguyên tắc dạy học tích hợp, tích hợp thể hiện trong việc xây dựng cấu trúc SGK,
trong quá trình tổ chức giờ dạy học, thay đổi cách soạn giáo án, cách kiểm tra
đánh giá chất lợng học tập của học sinh.
2.1.4. Ngời tâm huyết với vấn đề đọc hiểu và vấn đề tích hợp là GS - TS.
Nguyễn Thanh Hùng. Trong bài "Tích hợp trong dạy học Ngữ văn" đăng trên tạp
chí "Nghiên cứu giáo dục" (số 6, tháng 3 năm 2006), tác giả đã chỉ ra bản chất của
tích hợp là "Phơng hớng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất các quá trình
học tập của nhiều môn học cũng nh các phân môn Văn, Tiếng Việt, làm văn
trong một môn nh Ngữ văn". Trên cơ sở phân tích t tởng tích hợp tác giả chỉ ra ý
nghĩa của tích hợp: "Tích hợp trong nhà trờng sẽ giúp học sinh học tập thông
minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phơng pháp của khối lợng tri
thức toàn diện, hài hoà (Harnonie) và hợp lý (Algebra) trong tình huống khác
nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại".
Trong bài viết này tác giả đã chỉ ra "Cái gốc của quan niệm tích hợp trong
5
dạy học ngữ văn" đồng thời đi phân tích tơng đối kỹ lỡng nội dung và phơng pháp,
cách thức việc học, việc tích hợp trong dạy học Ngữ văn, ở đây tác giả nêu rõ
"Mục đích bao quát của nguyên tắc tích hợp trong chơng trình và SGK Ngữ văn
là điều kiện giáo dục phù hợp, khả thi, phơng pháp dạy và học mới có hiệu quả
những lý luận nhận thức về vai trò chủ thể sáng tạo của học sinh trong giờ học
TPVC theo quan niệm dạy học tích cực (DHTC), GS nêu rõ "Một quan điểm đúng
đắn về chủ thể học sinh đa đến một sự thay đổi khá triệt để về cơ cấu giáo án lên
lớp". Từ quan điểm DHTC coi học sinh là chủ thể sáng tạo trong giờ dạy dẫn đến
việc phải có thiết kế dạy học phù hợp với quan điểm đó. Từ đó GS khẳng định:
"Một giáo án theo quan niệm phát huy tính hài hoà giữa giáo viên và học sinh ở
trên lớp, là một giáo án trong đó vận dụng nhiều phơng pháp và biện pháp rèn
luyện t duy học sinh, song song với quá trình hoàn thành, kiến thức mới là một
giáo án trong đó có đợc sự kết hợp hữu cơ giữa 3 yêu cầu hiểu biết, giáo dục với
rèn luyện để họ tự phát triển".
+ Trong chuyên đề "Đổi mới thiết kế dạy học TPVC" (Văn học giáo dục
thế kỷ XXI), GS đã xác định "Giờ học không phải là vấn đề truyền sáng tạo
(xem lại chữ này) mà để khơi dạy sáng tạo của học sinh. Học sinh không phải là
cái bình chứa mà là ngọn đèn cần đợc thắp sáng ". Dạy văn là sự khơi gợi sáng
tạo chứ không phải là sự nhồi nhét, áp đặt. Do vậy "Cấu trúc giờ dạy phải đợc
thay đổi về căn bản". Đó là tất yếu bởi chỉ có thay đổi mới phù hợp với sự tiếp
cận của học sinh (ý đúng, nhng cần diễn đạt lại), đặc biệt trong sự biến đổi chung
của xã hội ngày nay. Song việc xây dựng thiết kế giờ DHTPVC không đơn giản,
bởi "Mỗi học sinh là một thế giới tinh thần riêng. Mỗi giáo viên là một chủ thể
độc đáo sáng tạo và không thể xóa bỏ hay lên án một khuôn mẫu sơ cứng, để
thay đổi vào đó là một khuôn mẫu khác, cho dù nó đợc gọi là mới". Nh vậy đổi
mới thiết kế dạy học TPVC là một việc không đơn giản và không phải là sự phủ
định phơng pháp cũ mà là sự kế thừa từ phơng pháp truyền thống.
- Trong bản thảo sách giáo viên lớp 10 thí điểm từ năm học 2003-2004, các
tác giả cũng xác định đổi mới thiết kế dạy học nh là một trong những khâu then
7
chốt để đổi mới phơng pháp dạy học theo yêu cầu của chơng trình và sách giáo
khoa THPT mới.
- Trên cơ sở tiếp thu những ngời đi trớc, chúng tôi muốn tìm hiểu và đề
xuất vấn đề cụ thể hơn đó là "Đổi mới thiết kế bài học Ngữ văn lớp 10 THPT
Bớc đầu nghiên cứu lý luận và đề xuất một phơng án xây dựng thiết kế dạy
học Ngữ văn lớp 10 theo hớng tích hợp và phát huy tính tích cực chủ động của
học sinh giờ dạy học Ngữ văn.
8. Giả thuyết khoa học
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về đổi mới thiết kế bài học
Ngữ văn nếu xây dựng đợc thiết kế dạy học Ngữ văn theo hớng tích hợp và phát
huy tinh thần tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả của giờ dạy học Ngữ văn.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chơng:
Chơng I: Một số vấn đề về cơ sở khoa học của việc đổi mới thiết kế dạy
học Ngữ văn ở THPT.
Chơng II: Yêu cầu và nội dung của thiết kế dạy học Ngữ văn lớp 10 theo
chơng trình và SGK mới.
Chơng III: Thiết kế thể nghiệm.
Phần II: Nội dung
9
Chơng 1
một số vấn đề về Cơ sở khoa học
của việc thiết kế bài học ngữ văn 10 THPT
theo hớng tích hợp
1. Một số vấn đề chung về quan điểm tích hợp
1.1 Một số quan điểm về tích hợp
Bất kỳ một quam điểm mới mẻ nào khi ra đời cũng có nhiều ý kiến khác
nhau. Quan điểm tích hợp cũng là một trờng hợp nằm trong số đó. Trớc khi đi vào
quan điểm tích hợp, chúng tôi xin điểm ra bốn quan điểm khác nhau về môn học của
D' Hainaut (3, T46) đó là:
Quan điểm "Trong nội bộ môn học, trong đó chúng ta u tiên các nội dung của
môn học, quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ.
Quan điểm "Đa môn", quan điểm này đề nghị những tình huống, những đề
bằng những ứng dụng chung cho nhiều bộ môn, đợc trình bày khi có điều kiện
trong các mô đun (đơn nguyên) tích hợp, hoặc bằng sự phối hợp các quá trình học
tập của nhiều bộ môn, sự phối hợp này thực hiện bằng cách theo đuổi mục tiêu
tích hợp duy nhất, hoặc thực hiện bằng cách triển khai nhiều bộ môn có nội dung
gần nhau trên cơ sở tơng tác liên tục, nhng mỗi bộ môn vẫn giữ những mục tiêu
riêng của mình.
Nh chúng ta đã biết việc dạy học tách biệt các phân môn ràng rẽ tách biệt
tồn tại trong thời gian dài vừa qua dù nó cũng có u thế riêng song không tách khỏi
sự trùng lặp, d thừa kiến thức một cách không cần thiết, mất nhiều thời gian của cả
ngời học và ngời dạy mà lợng kiến thức thu đợc của học sinh lại không cao. Hiện
nay cách dạy học theo quan điểm này không còn phù hợp, với sự bùng nổ thông
tin nh hiện nay nếu dạy theo cách dạy học cũ thì sẽ trở thành lạc hậu. Vì thế giáo
11
dục hiện đại đã có một cái nhìn mới vợt cái nhìn bộ môn ở một khía cạnh mới hơn
đó là tích hợp.
1.1.2 Cũng trong cuốn "Khoa s phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển
các năng lực ở nhà trờng" tác giả Xivier Roegiers đa ra định nghĩa về khoa sự
phân tích hợp nh sau: "KSPTH là một quan niệm về quá trình học tập góp phần
hình thành ở HS những năng lực rõ ràng, có dự tính trớc những điều cần thiết cho
học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tơng lai, hoặc nhằm hoà nhập
học sinh vào cuộc sống lao động. Nh vậy, KSPTH tìm cách làm cho quá trình học
tập có ý nghĩa.
Ngoài những quá trình học tập đơn lẻ cần thiết cho các năng lực đó KSPTH
dự định những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp
những kiến thức, những kỹ năng và những động tác đã lĩnh hội một cách rời rạc.
KSPTH sàng lọc cẩn thận những thông tin có ích để hình thành các năng lực
và mục tiêu tích hợp.
1.1.3 Quan điểm của SGK Ngữ văn THCS:
Trong SGV Ngữ văn 6 - tập 1 - NXB GD, HN, 2003, do GS. Những Khắc
Phi tổng chủ biên có nêu: Tích hợp là "Một phơng hớng nhằm phối hợp một cách
tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá trị của các tri thức công cụ thuộc từng
phân môn trên cơ sở một (hoặc một số) văn bản có vai trò là kiến thức nguồn".
- Trong báo cáo khoa học "Tích hợp trong dạy học Ngữ văn bậc THCS".
TS. Nguyễn Văn Đờng lại cho rằng: "Tích hợp (Intergation) không phải là
tổ hợp (combinaison) càng không phải là sự ghép nối hay phép cộng đơn giản.
Tích hợp đợc biểu hiện ở các cấp độ khác nhau trên các bình diện khác nhau".
Với các quan điểm, các khái niệm về tích hợp nêu trên chúng ta thấy tuy có
quan điểm các giả thể hiện các cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau những trong
các quan điểm đều thể hiện nội dung, bản chất của tích hợp qua các từ, cụm từ:
Phối hợp, chỉnh thể thống nhất, nhất thể, hợp nhất, hoà trộn Các quan điểm
13
trên đều nêu lên đợc vấn đề trọng tâm, cốt lõi của tích hợp và đều có điểm chung
hợp nhất trong tinh thần tích hợp là làm sao để có thể gắn kết các môn học với
nhau, thể hiện rõ đợc mối liên hệ, tác động lần nhau, tránh việc dạy một cách biệt
lập riêng rẽ giữa các môn học. Trong Ngữ văn thì đó là sự gắn kết giữa ba phân
môn Văn - Tiếng việt - Làm văn nh nó vốn có cũng nh làm rõ mối liên hệ giữa
Ngữ văn với các bộ môn gần gũi, có liên quan nh môn sử, địa, triết học, tâm lí
Với tinh thần học hỏi, tiếp thu, kế thừa các quan điểm của ngời đi trớc, tác
giả luận văn mạnh dạn bày tỏ cách hiểu của mình về vấn đề này nh sau: Tích hợp
là sự hợp nhất, liên kết giữa các phân môn trong bộ môn, giữa các bộ môn có liên
quan, giữa các phân môn, bộ môn có quan hệ hỗ trợ nhau tạo thành một thể thống
nhất nhằm tránh tình trạng dạy học tách biệt, riêng rẽ giữa các phân môn trong bộ
môn. Qua đó rèn luyện kỹ năng liên môn, xuyên môn để ngời học phát huy khả
năng t duy sáng tạo, t duy tổng hợp, để vận dụng vào thực tiễn ở những mức độ,
bình diện khác nhau.
1.2 Bản chất của quan điểm dạy học theo h ớng tích hợp.
Tích hợp các môn học không chỉ nhằm rút gọn thời lợng trình bày tri thức
của nhiều môn học, mối quan trọng hơn là hớng dẫn cho học sinh cách thức vận
dụng tổng hợp các tri thức học tập vào thực tiễn cuộc sống. SPTH với sự kế thừa và
phát triển những thành tựu mà các lý thuyết về quá trình học tập và các trào lu s
ờng".
Mục tiêu riêng lẻ: (Hay mục tiêu học tập) là mục tiêu đợc tạo nên khi tác
dụng một kỹ năng cơ bản nên một nội dung học tập trong một hoặc nhiều tình
huống có ý nghĩa. Mỗi mục tiêu riêng lẻ có thể là mục tiêu nhỏ hơn của một bài
học hoặc chi tiết hoá thành các mục tiêu nhỏ hơn của nhiều bài học. Một năng lực
sẽ đợc hình thành khi các kỹ năng cơ bản đợc vận dụng vào một tình huống tích
hợp. ở mỗi môn học, trong một năm học, các năng lực cần hình thành cho học sinh
tạo nên các.
15
Mục tiêu tích hợp trong SGK, các năng lực đề cập trong SGK dẫn đến hình
thành một năng lực, tích hợp khi kết thúc một năm học gọi là mục tiêu tích hợp
của năm học. Điều đó làm cho quá trình học tập trong năm học có tính mục đích
rõ rệt.
Vấn đề thứ 3: Vai trò của môn học và tơng tác giữa các môn học. SPTH đa
ra 4 quan điểm.
- Quan điểm "Trong nội bộ môn học - Duy trì các môn học riêng rẽ.
- Quan điểm "Đa môn", đề xuất những "Tình huống", những "đề tài" có thể
đợc nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau, cách riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở
một thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tài.
- Quan điểm "liên môn", chủ trơng đề xuất những tình huống chỉ có thể tiếp
cận một cách hợp lý qua sự soi sáng của nhiều môn học, sự liên kết các môn học
làm cho chúng tích hợp với nhau để giải quyết một tình huống cho trớc.
- Quan điểm "Xuyên môn", chủ yếu phát triển những kỹ năng mà học sinh
có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong tất cả các tình huống (tìm, xử lý,
nêu một giả thuyết, thông báo thông tin). Những kỹ năng này gọi là kỹ năng
xuyên môn.
Hiện nay, nhu cầu của xã hội đòi hỏi chúng ta phải hớng tới quan điểm liên
môn và xuyên môn: Cần phải tích hợp các môn học.
1.3 ý nghĩa, tác dụng của quan điểm tích hợp trong dạy học nói chung
và dạy học tác phẩm văn chơng nói riêng.
phát triển khoa học, SGK của một số nớc tiên tiến đã đợc biên soạn theo phơng
châm là viết sách để học sinh tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua sự hớng
dẫn của giáo viên. Học SGK để học cách học để tự hoàn toàn khác với lối học
SGK truyền thụ thông tin tri thức một cách thụ động. Điều này đòi hỏi "Ngời soạn
sách phải luôn có ý thức thờng trực trên từng trang viết" để "SGK không chỉ là
nguồn cung cấp thông tin mà còn là một phơng tiện tự phát triển của học sinh
17
trong quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin. SGK cũng không phải là t liệu, một văn
khoa học để thầy giáo làm công cụ thông tin một chiều cho học sinh mà là một
công cụ để thầy giáo tổ chức hoạt động, học tập của học sinh một cách chủ động,
một cách sáng tạo đúng với tinh thần "Học sinh là trung tâm" nhằm kích thích tác
động làm biến đổi thái độ, động cơ học tập của các em, giúp các em phát huy vai
trò chủ động tích cực và tìm tòi sáng tạo trong học tập. "Cách nhận thức mới về
mục tiêu đào tạo, mục tiêu biên soạn chơng trình nh trên nhất định đòi hỏi ngời
biên soạn SGK phải thay đổi một cách cơ bản phơng thức biên soạn để thoát
khỏi tình trạng nhồi nhét chồng chất kiến thức d thừa nh hiện nay". {10, 209}.
"Một tiết học làm văn của ta có khi cung cấp non 10 trang chữ lý thuyết nặng nề
cho một tiết học nghị luận trong khi đó một định nghĩa về nghị luận của pháp chỉ
có 4 - 5 dòng với nội dung cô đọng, xúc đích, sinh động kèm theo một hệ thống
bài tập đa dạng, gây hứng thú cho học sinh" {10, 209}, viết SGK một cách êm
đềm về kiến thức với những con số đợc thống kê trong bài viết tác giả khẳng định
"Không bao giờ nhà trờng có thể bắt kịp tốc độ phát triển thông tin hiện đại" và
"Bài toán để gỡ ra khởi nghịch lý muôn thủa này là một mặt tăng cờng tỉ lệ tri thức
khái quát bản thể nhng quan trọng hơn là vũ trang cho ngời học tri thức về phơng
pháp xử lý thông tin để họ có tiềm lực, tự bổ sung tri thức trên con đờng học vấn
vô tận của mình {10, 210}.
Nhận thức đúng đắn nh trên SGK mới của chúng ta đã thay đổi một cách
triệt để về việc lựa chọn kiến thức một cách tinh giản, cấu tạo nội dung SGK đã
làm cho học sinh thực sự hoạt động trên một hệ thống bài tập để từ đó nắm vững
nội dung thông tin.
nớc tiên tiến thực thi có kết qủa". Chúng ta càng vận dụng quan điểm tích hợp
triệt để bao nhiêu, càng hạn chế đợc những tồn tại trên bấy nhiêu.
1.3.1.2 Vai trò của việc dạy học tích hợp trong việc rèn luyện t duy sáng
tạo cho học sinh.
Nghị quyết Đại hội Đảng toan quốc lần thứ IX đã khẳng định: "Đổi mớiph-
ơng pháp dạy và học, phát huy t duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của ngời học,
19
coi trọng thực hành, thực nghiệm, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học
chay". Để nâng cao chất lợng giáo dục. Cải tiến nội dung có ý nghĩa quan trọng
hàng đầu, tuy nhiên cải tiến nội dung chính là cải tiến sự lựa chọn các chất liệu rút
ra từ các thành tựu đã có của nền khoa học, của văn minh văn hoá nhân loại. Nh
vậy, cải tiến nội dung chính là cải tiến sự lựa chọn, sắp xếp nội dung sao cho phù
hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trờng, hay là phù hợp với "Đơn đặt hàng" của xã
hội. Về thực chất đó cũng thuộc phạm trù phơng pháp.
Trong nhà trờng Phổ thông chơng trình đợc xây dựng trên quan điểm giáo
dục tích hợp trớc hết dựa trên quan điểm giáo dục nhằm vào việc phát triển năng
lực ngời học. Xuất phát điểm của vấn đề là do cuộc sống đặt ra, yêu cầu ngời học
có đủ khả năng vận dụng kiến thức một cách sáng tạo, tổng hợp để giải quyết.
Tính sáng tạo là phẩm chất đặc biệt của con ngời. Nó xuất phát từ nhu cầu
đợc đổi mới, đợc phát triển của con ngời. Nó là một quá trình bất tận, không bao
giờ kết thúc và trở thành nhu cầu, động lực của sự sáng tạo. Tính sáng tạo không
chỉ dành riêng cho nhóm cá nhân nào mà là của mọi ngời. Tuy rằng ở mỗi ngời,
nó thể hiện ở một mức độ khác nhau. Song tính sáng tạo không phải ngẫu nhiên
mà có, nó chỉ có ý nghĩa thực sự khi nó là sản phẩm của quá trình t duy sáng tạo.
Sự sáng tạo chỉ có đợc khi bản thân con ngời có sự đầu t thích đang về trí tuệ, công
sức
Muốn có một ý tởng sáng tạo, con ngời phải trải qua một quá trình t duy và
muốn ý tởng đó trở thành hiện thực chỉ t duy thôi không cha đủ mà phải có t duy
sáng tạo. Tác giả Card Roger cho rằng: "Cái chính yếu của sự sáng tạo là sự mới
mẻ của nó, và bởi thế chúng ta không có trên tiêu chuẩn qua đó để xét đoán nó.
chung đáp ứng đợc yêu cầu cái mới của thời đại, của ngời học, khắc phục đợc lối
dạy học "Thôi miên", "Ban phát kiến thức" và thói quen học vẹt, học sáo.
Nói nh GS Nguyễn Thanh Hùng: "Tích hợp trong nhà trờng sẽ giúp học
sinh học tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng và phơng pháp
của khối lợng tri thức toàn diện, hài hoà (Harmonie) và hợp lí (Algebra) trong
giải quyết những tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại" {4,
21
9}.
1.3.1.3 Vai trò của dạy tích hợp trong việc rèn luyện t duy tổng hợp cho
học sinh.
Trong nhà trờng của chúng ta lâu nay vẫn dạy học, theo hớng tách bạch,
biệt lập các phân môn và không có sự liên kết, kết hợp giữa các môn học có liên
quan với nhau. Vì thế mà trong khi học sinh có thói quen tiếp cận kiến thức với
nhau khi vận dụng vào một tình huống cụ thể trong thực tiễn. Trong khi đó thời
đại mà chúng ta đang sống là thời đại của sự "Đa môn", "Liên môn" và "Xuyên
môn", các môn học ngày có sự thâm nhập vào nhau. Nếp cũ lối mòn trong quan
niệm dạy học biệt lập giữa các môn học, các phân môn dẫn đến việc dạy học văn
của chúng ta còn quá khép kín, các giáo s Mỹ đã từng phê phán lối dạy văn nhiều
năm chịu ảnh hởng sai lầm của trờng phái phê bình mới khiến cho việc học bị
khép kín. "Văn bản là đối tợng độc nhất cho sự khám phá của giáo viên. Những
yếu tố ngoài tác phẩm, nhất là việc phản ứng và nhu cầu ngời học. Học sinh bị
bỏ qua, văn bản nh vậy chỉ là một văn bản chất" {13, 30} cũng vấn đề này GS.
Nguyễn Thanh Hùng đã từng nói: "Cứ muốn rạch ròi và chia tách, nên mọi
nghiên cứu trở thành những lãnh địa khép kín, đơn tử. Nhìn bức tranh khoa học
chỉ thấy cây mà không thấy rừng và lại càng không thấy sự cộng sinh của mỗi
ngành, mỗi bộ môn khoa học trong trờng tơng tác của nó". {11, 17}
Với yêu cầu mới của xã hội, của thời đại rõ ràng cách thức giáo dục theo h-
ớng tách biệt các bộ môn, phân môn không còn đáp ứng đợc yêu cầu nữa. Ngày
nay, sự gia tăng về số lợng và khả năng dễ tiếp nhận của các thông tin nhờ những
phơng tiện thông tin đại chúng hay mạng internet không những làm cho PPDH
và hớng dẫn ngời học tiếp nhận và chuyển hoá kiến thức từ thể tiềm năng sang
khả năng hiện thực" {12, 21}.
Dạy học theo hớng tích hợp sẽ tạo ra khả năng hình thành và rèn luyện cho
học sinh t duy khái quát tổng hợp, học sinh sẽ nhận thấy những kiến thức lĩnh hội
có liên quan hữu cơ với nhau, và nh vậy thì trình độ t duy của học sinh mới đợc
nâng lên một tầm cao mới, đúng nh nhà giáo Đặng Hiển từng phát hiện ra một
23
điều rằng: "Thế giới hiện thực luôn vận động phát triển mang tính hệ thống và
tính hệ thống cũng là thuộc tính của hoạt động t duy. Tính hệ thống càng lô gíc,
càng chặt chẽ, tiêu chí hệ thống càng khái quát thì độ t duy càng cao" {14, 185}.
Nh trên đã nói, dạy học theo hớng tích hợp không những giải quyết đợc vấn
đề giảm tải cho học sinh, tránh trùng lặp, d thừa kiến thức, tiết kiệm đợc thời gian
đào tạo mà còn rèn luyện cho học sinh khả năng t duy tổng hợp và nh vậy chúng ta
sẽ đào tạo đợc con ngời đã năng, năng động, sáng tạo, những con ngời có thể hiểu
biết và giỏi nhiều lĩnh vực cùng một lúc. Họ có thể chuyên sâu lĩnh vực này nhng
chuyển sang lĩnh vực khác họ vẫn đủ khả năng giải quyết vấn đề có liên quan đến
chuyên môn của mình.
Nh vậy cũng có nghĩa là, dù ở vị trí nào, lĩnh vực nào họ cũng vững vàng,
cũng có những đóng góp, cống hiến nhất định cho đất nớc cho xã hội. Nói nh TS.
Nguyễn Trọng Hoàn: " Những tri thức riêng lẻ, tri thức bộ phận khi dạy học tích
hợp sẽ đợc tiếp cận một cách có định hớng trong mối quan hệ đồng bộ của một
bài học hoàn chỉnh và nhất quán theo đặc trng bộ môn. Nói cách khác, dạy học
theo hớng tích hợp có thể giúp học sinh vừa nắm đợc kiến thức cơ bản, vừa hình
thành đợc các thái độ, năng lực và kỹ năng thực tiễn mà môn học đặt ra" {12,
22}. Đó cũng chính là việc rèn luyện cho học sinh t duy tổng hợp.
1.4 Tinh thần cơ bản về đổi mới môn Ngữ văn THPT.
1.4.1 Đổi mới về quan niệm và tên gọi:
Theo quan điểm và cách gọi cũ, môn văn trong nhà trờng có tên gọi "Giảng
văn", "văn học trích giảng" hay "văn học". Cách gọi này cha khoa học vì tự nó đã
tách văn học ra khỏi Tiếng việt và làm văn. Từ đó dẫn đến việc định hớng nhiệm
ợc. Đặc biệt là kết quả mà học sinh đã đạt đợc từ các cấp học dới (Tiểu học và
THCS) kế thừa và vận dụng có chọn lọc các nguyên tắc xây dựng chơng trình của
các nớc có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực cũng nh trên thế giới. Bên cạnh
việc kế thừa, SGK còn phát triển thêm tri thức mới vừa phải có tính nhật dụng,
25