I ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin kinh tế thuộc cơ sở hạ tầng còn
nhà nước, pháp luật thuộc kiến trúc thượng tầng vì thế cho nên kinh tế có vai trò
quyết định đến các vấn đề của nhà nước, xã hội như việc ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật, chính sách,sự phát triển của xã hội...vì vậy muốn cho các hoạt
động đó trở nên thuận lợi thì nước ta phải có một nền kinh tế phát triển theo chiều
hướng tích cực và bền vững mà muốn có nền kinh tế phát triển bền vững thì nhà
nước ta phải có một hệ thống các quy định về chính sách phát triển kinh tế hợp lí.
Trong những năm qua nhà nước ta đã chú trọng về vấn đề ban hành các quy định
về kinh tế trong đó có các quy định về các thành phần kinh tế và các chính sách
phát triển đối với từng loại thành phần kinh tế.
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Khái niệm
Chế độ kinh tế là hệ thống các nguyên tắc, những quy định điều chỉnh
những quan hệ trong lĩnh vực kinh tế nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị,
kinh tế-xã hội nhất định;nó thể hiện trình độ phát triển của một xã hội, bản chất của
nhà nước,của chế độ xã hội
Thành phần kinh tế là một kiểu quan hệ kinh tế được hình thành trên cơ sở
hình thức sở hữu nào đó, là một bộ phận của một kết cấu kinh tế-xã hội.
2 Mục đích phát triển kinh tế của nước ta hiện nay
Mục đích phát triển kinh tế của nhà nước do bản chất của nhà nước quyết
định. Đối với Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam,mọi chính sách và
biện pháp phát triển kinh tế của nhà nước đều nhằm phục vụ cho lợi ích của nhân
dân lao động. Ngay từ hiến pháp năm 1959 nhà nước đã xác định mục đích chính
sách kinh tế của nhà nước là không ngừng phát triển sức sản xuất nhằm nâng cao
đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân (Điều 9 Hiến pháp 1992). Đến hiến
pháp 1980 tại Điều 15 đã xác định “thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất
1
và văn hóa ngày càng tăng của xã hội”. Hiến pháp 1992 trên cơ sở kế thừa những
khuynh hướng cần tránh là duy trì và phát triển nền kinh tến nhà nước một cách
tràn lan hoặc là coi nhẹ kinh tế nhà nước. Mặt khác, nhà nước chủ trương chấn
chỉnh và tổ chức lại sản xuất kinh doanh trong khu vực kinh tế nhà nước. Đối với
những xí nghiệp lam ăn thua lỗ phải chuyển hóa hình thức sở hữu để sử dụng có
hiệu quả tư liệu sản xuất như chuyển thành xí nghiệp cổ phần hoặc cho đấu thầu,
cho thuê. Nhà nước cũng chủ trương để các cơ sở kinh tế quốc doanh được quyền
tự chủ trong sản xuất,kinh doanh để phát huy tính năng động và hiệu quả của các
đơn vị kinh tế. Nhà nước còn trao quyền sử dụng, trách nhiệm bảo toàn và phát
triển vốn sản xuất kinh doanh cho các đơn vị nhằm bảo đảm quyền quản lí của nhà
nước với tư cách la người chủ sở hữu, vừa bảo đảm quyền tự chủ của xí nghiệp
quốc doanh trong hoạt động để xí nghiệp hoat động có hiệu quả hơn, có lợi cho
nhà nước, cho tập thể xí nghiệp và cho nhà nước, cho tập thể xí nghiệp và cho mỗi
người lao động.
Ví dụ:8 tập đoàn kinh tế cùng với 96 công ty, công ty lớn của nhà nước sở
hữu gần 400.000 tỷ đồng chiếm hầu hết vốn của nhà nước có tại các doanh nghiệp.
Các tập đoàn và các công ty đang nắm giữ 72% tài sản cố định của quốc gia,
khoảng 65% tổng tín dụng ngân hàng trong nước và tổng vốn vay nước ngoài. Tỷ
suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu của các đơn vị là 17%-28,8%. Cuối 2007 tổng vốn
của chủ sở hữu của các tập đoàn và tổng công ty tăng 18%. Nhưng thành phần kinh
tế nhà nước cần khắc phục tình trang nợ nước ngoài, có một số xí nghiệp công
nghệ còn lạc hậu cần phải đầu tư để thay đổi máy móc thiết bị tư đó thì kinh tế nhà
nước mới có thể giữ được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế quốc dân.
bThành phần kinh tế tập thể
Thành phần kinh tế tập thể là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc
dân. Ở nước ta kinh tế tập thể đươc hình thành từ sau khi hòa binh lặp lại ở miền
Bắc. Ngày 30/12/1955, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 649 về việc ban hành
3
bản Quy chế tổ chức hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tiêu thụ, năm 1959 Nhà
quá trình sản xuất,phân phối và tiêu thụ sản phẩm của xã hội...
Hiện nay, kinh tế tập thể phần lớn tồn tại dưới hình thức hợp tác xã nông
nghiệp. Mấy năm nay năng suất của các hợp tác xã nông nghiệp tăng nhanh là nhờ
có chính sách và các biện pháp hỗ trợ khuyến nông: cho vay vốn hỗ trợ, đua khoa
học-kĩ thuật vào nông nghiệp.Theo thống kê của Liên minh hợp tác xã Viêt Nam
2001:nước ta có 1400 hợp tác xã, liên hợp tác xã giá trị sản xuất của khu vực này
đạt trên 41 tỷ đồng chiếm 9%GDP của cả nước chiếm 11% so với 2000/240000 cơ
sở kinh tế, hợp tác xã giản đơn thì đóng góp trên 20%. Trong những năm tiếp theo,
nước ta cần đẩy mạnh việc thành lập các hợp tác xã thương mại, tăng cương các
hợp tác xã trong các ngành nghề khác như thủ công truyền thống... Nhà nước cần
tạo ra môi trương hoạt đông thuận lợi hơn nữa cho kinh tế tập thể phát triển. Một
số hợp tác xã hoạt động chưa có hiệu quả thi phải khắc phục, chấn chỉnh cách điều
hành hoạt động, phương pháp quản lí.
c Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân
Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân là kinh tế của những người
không phải là cán bộ, công nhân, viên chức nhà nước tại chức hoặc xã viên hợp tác
xã, có vốn, tư liệu sản xuất, kĩ thuật chuyên môn và sức lao động đứng ra sản xuất
kinh doanh dưới các hình thức hộ cá thể, hộ tiểu thủ công nghiệp, xưởng, cửa
hàng, xí nghiệp tư nhân.
Trước đây, thành phần kinh tế này chưa được đánh giá đúng mức, từ Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng và Nhà nước ta đã thay đổi chính sách đối với
kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Điều 16 Hiến pháp 1992 “giải
phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế”.
Nhà nước thừa nhận sự tồn tại lâu dài của nền kinh tế cá thể,tiểu chủ, kinh tế tư
bản tư nhân trong nền kinh tế quốc dân. Nhà nước khuyến khích những mặt tích
cực, hạn chế những mặt tiêu cực của kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư
5
nhân. Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, công nhận và bảo vệ quyền sở hữu,
phần kinh tế này ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân vì
vậy được nhà nước khuyến khích phát triển tại Điều 25 Hiến pháp năm 1992 qui
định: “Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công
nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế” và tạo ra
môi trường pháp lí thuận lợi hơn. Ngày 12/11/1996, Quốc Hội khóa IX đã sửa đổi
Luật đầu tư đồng thời thông qua Luật khuyến khích đầu tư trong nước. Tại điều 1
Luật khuyến khích đầu tư đã nêu “nhà nước bảo hộ và khuyến khích tổ chức,công
dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu
dài ở Việt Nam đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế-xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo
quy định của pháp luật Việt Nam”
e Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Quốc Hội khóa X tại kì họp thứ 10 đã
xác định một thành phần kinh tế mới – kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.Ngày
12/11/1992 Quốc hội đã thông qua Luật mới về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Theo Điều 2 “ việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc
bất kì tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”.
Cho phép đầu tư vào Việt Nam trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân,
khuyến khích đầu tư vào các địa bàn trọng điểm. Điều 24 Hiến pháp 1992 “nhà
nước thống nhất quản lí và mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các
hình thức quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức quốc tế trên nguyên tắc
tôn trọng độc lập, chủ quyền và cùng có lợi, bảo vệ thúc đẩy sản xuất trong nước”.
Nhà nước ta còn thông qua Luật đầu tư chung cho các loại hình doanh nghiệp, đối
xử bình đẳng giữa các quốc gia, hoàn toàn xóa bỏ phân biệt về giá, lệ phí đối với
nhà đầu tư nước ngoài. Tiếp tục cải cách hành chính nhà nước, các nhà đầu tư nước
ngoài đều được mua cổ phiếu nhà nước. Ký hiệp ước song phương về khuyến
khích bảo hộ, đầu tư với 50 quốc gia và vùng lãnh thổ,gia nhập và hoạt động tích
7
cực trong WTO. Chuyển đổi một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoài sang lao động
nhà nước, pháp luật thuộc kiến trúc thượng tầng vì thế cho nên kinh tế có vai trò
quyết định đến các vấn đề của nhà nước, xã hội như việc ban hành các văn bản
quy phạm pháp luật, chính sách,sự phát triển của xã hội...vì vậy muốn cho các hoạt
động đó trở nên thuận lợi thì nước ta phải có một nền kinh tế phát triển theo chiều
hướng tích cực và bền vững mà muốn có nền kinh tế phát triển bền vững thì nhà
nước ta phải có một hệ thống các quy định về chính sách phát triển kinh tế hợp lí.
Trong những năm qua nhà nước ta đã chú trọng về vấn đề ban hành các quy định
về kinh tế trong đó có các quy định về các thành phần kinh tế và các chính sách
phát triển đối với từng loại thành phần kinh tế.
9