ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------
MA THỊ QUẾ
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG MỐI HẠI GỖ
TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀ TRUYỀN THÔNGTHÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
Chuyên ngành
Khoa
Khóa học
: Chính quy
: Nông lâm kết hợp
: Lâm nghiệp
: 2011 - 2015
Thái Nguyên - 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------
MA THỊ QUẾ
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG MỐI HẠI GỖ
Thái Nguyên, ngày
tháng
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
Ngƣời viết cam đoan
trước hội đồng khoa học
(Ký, ghi rõ họ và tên)
(Ký, ghi rõ họ và tên)
ThS. Nguyễn Thị Tuyên
Ma Thị Quế
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
Đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu
(Ký, ghi rõ họ và tên)
năm
i
LỜI CẢM ƠN
Bốn năm học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã dần kết
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
Bảng 4.1. Lịch sử phòng trừ mối cho các công trình xây dựng tại 24
1
trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Thái
Nguyên
2
3
Bảng 4.2. Lịch sử phòng trừ mối cho các cấu kiện bằng gỗ trong 26
các công trình xây dựng tại trường
Bảng 4.3. Thực trạng mối xuất hiện và phá hại gỗ trong các công 28
trình xây dựng tại trường
Bảng 4.4. Thực trạng công tác kiểm tra phòng trừ mối cho các 39
4
5
8
4
Hình 2.4. Mối cánh
9
5
Hình 2.5. Mối lính
9
6
Hình 2.6. Mối thợ
10
7
Hình 4.1. Mối hại gỗ tại trường Công nghệ Thông tin và Truyền
thông Thái Nguyên
24
8
Hình 4.7. Mối hại gỗ tại khung cửa
34
14
Hình 4.8. Hình ảnh đường mui do mối đắp
35
15
Hình 4.9. Mối đất tại khuôn viên kí túc xá
35
Hình 4.10. Mọt, xén tóc hại gỗ trong các công trình xây dựng tại
trường
Hình 4.11. Mối tại vị trí bị mục
36
19
Hình 4.12. Mối gỗ khô hại gỗ trong công trình xây dựng tại trường
Hình 4.13. Diệt tổ mối
37
43
16
17
18
37
iv
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ................................................................................................................... i
Danh mục các bảng .....................................................................................................ii
Danh mục các hình .................................................................................................... iii
Phần 1. MỞ ĐẦU ................................................................................................. 1
1.1. Đặt vấn đề .................................................................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài ............................................................................... 2
1.3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài ....................................................................................... 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................................... 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu ........................................................... 3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ................................................................................ 3
Phần 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................................... 4
2.1. Đặc điểm sinh học của mối hại gỗ .......................................................................... 4
2.1.1. Tổ mối .......................................................................................................... 4
2.1.2. Thức ăn của mối ........................................................................................... 6
2.1.3. Hình thái và chức năng các dạng mối .......................................................... 7
2.1.4. Sự chia đàn và hình thành tổ mối ..............................................................10
2.1.5. Cách thức xâm nhập của mối vào công trình .............................................11
2.1.6. Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái đến mối........................................12
2.2. Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam ................................................ 14
5.2. Đề nghị ....................................................................................................................... 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Mối là một loài côn trùng đa hình thái thuộc bộ cánh đều, sống kín đáo trong
đất và trong các giá thể bằng gỗ. So với nhiều loại côn trùng khác mối có đời sống
mang tính chất xã hội cao. Chúng giữ vai trò quan trọng trong chu trình chuyển hóa
vật chất các hệ sinh thái tự nhiên. Mối sống tập trung và tự hình thành một quần thể
từ rất sớm. Đàn mối chỉ tồn tại khi có đủ các thành phần đẳng cấp, nghĩa là mỗi
nhóm cá thể thực hiện các chức năng riêng biệt. Với sức ăn lớn, số lượng các thành
viên đông và hoạt động ở nhiều độ cao khác nhau chúng thực sự là mối nguy hại rất
đáng quan tâm. Bên cạnh đó với đặc tính làm tổ và hoạt động tinh vi cùng khả năng
phân giải các sản phẩm có nguồn gốc từ xenlulo mối được xem là một trong những
côn trùng gây hại đáng kể (Vũ Quang Mạnh và cs, 1993) [5].
Đối tượng gây hại của chúng rất đa dạng từ cây cối, các công trình xây dựng,
đê đập đến những vật dụng như cánh cửa, bàn ghế, sách vở, vải, len dạ…. Mối là
sinh vật hoạt động mau lẹ có thể phá hủy bất cứ chỗ nào mà chúng đến nếu chúng ta
không có biện pháp phòng ngừa kịp thời và đúng cách. Tất cả các công trình xây
dựng đang có nguy cơ tiềm ẩn về sự phá hoại của loài mối, hàng năm con người
phải bỏ ra một lượng kinh phí khổng lồ để duy trì sửa chữa các khiếm khuyết mà
mối gây ra. Khi công trình bị mối xâm nhập thì không chỉ các vật liệu gỗ, giấy tờ tài
liệu trong các công trình bị hủy hoại mà ngay cả kiến trúc công trình cũng bị xuống
cấp do việc làm tổ và đi tìm thức ăn của mối. Ở mối có một tuyến dịch tiết ra từ
hạch trán có thể làm vủn vữa xây tường vì thế chúng đi xuyên từ phòng này sang
phòng khác từ tầng trên xuống tầng dưới để kiếm thức ăn. Loài mối sống ẩn dật mà
để có những dẫn liệu cụ thể cho việc đề xuất các giải pháp phòng trừ mối chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng mối tại trường Đại học Công
nghệ Thông tin và Truyền thông Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu thực trạng mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại trường
Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Thái Nguyên, từ đó làm cơ sở cho
việc đề xuất các giải pháp và lập kế hoạch phòng trừ.
3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Đánh giá được tình hình mối hại gỗ trong các công trình xây dựng tại
trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông Thái Nguyên.
- Đề xuất được các giải pháp và lập kế hoạch phòng trừ tại trường Đại học
Công nghệ Thông tin và Truyền thông Thái Nguyên.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
- Giúp sinh viên rèn luyện các kĩ năng nghiên cứu đề tài, làm quen với các
phương pháp khoa học như quan sát, thực hành, phân tích và tổng hợp tài liệu. Phát
huy tinh thần độc lập sáng tạo trong học tập và nghiển cứu khoa học.
- Củng cố và hệ thống lại các kiến thức đã học trước đó, biết cách vận dụng
sáng tạo vào cuộc sống.
- Thông qua tìm hiểu thực tế về mối và các biện pháp phòng trừ, ghi chép
đầy đủ sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các sinh viên khóa sau và những đối
tượng quan tâm.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn
Việc thực hiện đề tài sẽ khoanh vùng hoạt động, đánh giá được mức độ xâm
hại của mối gây ra đối với các công trình xây dựng thuộc khu vực nghiên cứu. Phát
hiện nhanh chóng nơi trú ẩn của mối để đưa ra các biện pháp diệt trừ cũng như thực
hiện phòng trừ với những nơi có khả năng bị mối tấn công. Từ đó góp phần khắc
trắng nhỏ bằng hạt tấm đó là nấm Basidiomycetes.
- Ở gần đáy tổ có một khối đất mịn to bằng 2 cái đĩa úp lại. Trong rỗng có
vách dày đến 1cm đó là “Hoàng cung” nơi mối chúa và mối vua ở.
5
- Trong tổ mối còn có những phòng cỏ chứa rác và những khoang bằng
phẳng là nơi để mối con dến nhận thức ăn do mối thợ mang đến.
- Ngoài tổ chính một số loài mối còn có tổ phụ. Tổ phụ thường là trạm trung
chuyển giữa tổ chính với nguồn thức ăn hoặc dùng để điều hòa nhiệt độ, khi gặp
điều kiện bất lợi mối thường đi chuyển từ tổ chính đến tổ phụ (Đặng Kim Tuyến,
2008) [10].
- Các loại mối khác nhau thì cấu tạo tổ có khác nhau. Về phương diện chống
mối (diệt mối), chúng ta cần quan tâm đến vị trí tổ, có thể chia làm hai dạng.
+ Tổ mối chỉ ở trong gỗ
Hình 2.1. Tổ mối ở trong gỗ
Ở nước ta, loài mối thường gặp là loài “mối gỗ khô” (cryptotermes
domesticus). Tổ chỉ là các hang rỗng, chúng đục dích dắc trong gỗ, chúng ở đâu
thường đùn một phần phân ra ngoài, rơi xuống như đống cát nhỏ xíu. Căn cứ vào
đặc điểm này có thể phát hiện ra chúng. Tuy chúng ở trong gỗ song cũng đục vào
sách vở, quần áo để nơi kế cận tổ. Loài này mỗi tổ khoảng ba bốn trăm con, chỉ cần
phát hiện tổ và dùng xi lanh tiêm thuốc BQG-1 trực tiếp vào tổ là diệt được.
6
+ Tổ mối có liên hệ đến đất và nguồn nƣớc
Hình 2.2. Tổ mối đất
phá hoại. Trên đường đến nguồn thức ăn, mối có thể đục qua nhiều loại vật liệu
khác như xốp cách âm, cao su, đồng thời mang theo đất và độ ẩm làm nhiều máy
móc bị hư hỏng theo.
Các loại mối khác nhau thường ăn chất xơ của gỗ ở trạng thái khác nhau.
Mối nhà thích ăn gỗ thông màu trắng, trám trắng… còn tốt nguyên; một số loại mối
đất lại ăn những loại gỗ đã hơi bị mục. Với kỹ thuật nhử mối để tiêu diệt cần quan
sát và lựa chọn loại mồi thích hợp và tác động thêm các chất dinh dưỡng như nước
đường, nước cháo hoặc các chất dẫn dụ khác.
2.1.3. Hình thái và chức năng các dạng mối
Mối là côn trùng đa hình thái, mỗi một tổ mối tự hình thành một quần thể,
đầu tiên là từ một đôi mối cánh (sau này gọi là mối vua và mối chúa nguyên thuỷ)
chúng bắt đầu giao phối và đẻ trứng, sau đó nở thành mối non, từ mối non sau phân
hoá thành hai loại hình lớn là loại hình sinh sản và loại hình không sinh sản. Ở hai
loại hình này có thể phân chia thành nhiều đẳng cấp.
* Loại hình sinh sản hay còn gọi là mối sinh sản
Đối với loại hình này thân hình tương đối lớn, nhất là mối chúa có phần bụng
cực kỳ to, cơ thể chúng có cơ quan sinh sản phát dục hoàn chỉnh, nên trong quần thể
mối chúa có chức năng giao phối và đẻ trứng, về nguồn gốc và hình thái trong loại
hình này không giống nhau có thể chia thành 3 đẳng cấp như sau:
- Mối vua, mối chúa: Mỗi tổ mối thường có 1 mối vua và 1 mối chúa, thực hiện
chức năng sinh sản. Mối chúa có đầu nhỏ nhưng bụng to, có khi dài tới 12 - 15cm
và bộ phận sinh dục rất phát triển. Chúng có thể sống được tới 10 năm, thời gian
8
đầu chỉ đẻ ít trứng nhưng 4 - 5 năm, khi mà bộ phận sinh dục trưởng thành rồi thì
chúng có thể đẻ tới 8.000 - 10.000 trứng mỗi ngày.
Hình 2.3. Mối chúa
Hình 2.4. Mối cánh
* Loại hình không sinh sản
- Mối lính: Hầu hết chủng loại mối đều có mối lính. Mối lính có chức năng
bảo vệ quần thể mối. Do chuyển hoá bộ phận miệng hàm trên rất phát triển dùng để
bảo vệ nên mối lính mất đi chức năng tự lấy thức ăn cho mình, để tồn tại mối thợ
phải mớm thức ăn cho mối lính.
Hình 2.5. Mối lính
10
Trong xã hội loài mối có 3 loại mối lính:
+ Loại hàm trên phát triển to nhỏ không đồng đều dùng để cắn kẻ thù như
giống Macrotermes.
+ Loại mũi voi thì hàm trên tiêu giảm, nhưng chán lại kéo dài thành vòi và có
tuyến phun nọc độc có tính axit mà kiến rất sợ như giống Nasutitermes.
+ Loại vừa có hàm trên phát triển vừa có tuyến phun nọc độc nên chúng tấn
công kẻ thù và bảo vệ tổ tốt hơn như giống Coptotermes.
- Mối thợ
Hình 2.6. Mối thợ
Mối thợ là đẳng cấp chiếm đông nhất trong loại hình không sinh sản của quần
thể mối. Mối thợ chia ra làm mối đực và mối cái nhưng cơ quan sinh sản phát dục
không hoàn chỉnh, do vậy chúng không đẻ được. Mối thợ đảm nhận nhiệm vụ kiếm
thức ăn, xây tổ, làm đường mui, mớn thức ăn cho mối vua, mối chúa, mối lính,
chăm sóc mối non, vận chuyển trứng mối để duy trì sinh sống của quần thể mối.
2.1.4. Sự chia đàn và hình thành tổ mối
ẩm thực hiện nhiều nhất vì thế tốc độ phát tán của chúng rất lớn.
2.1.5. Cách thức xâm nhập của mối vào công trình
Mối xâm nhập vào các công trình chủ yếu theo 3 con đường:
+ Xâm nhập từ dưới đất lên và từ các vùng lân cận vào công trình. Đây là
cách xâm nhập phổ biến nhất và hay gặp nhất. Theo cách xâm nhập này, mối sẽ từ
các tổ mối có sẵn dưới nền công trình hoặc từ các khu vực lân xung quanh xâm
12
nhập vào công trình thông quan các hệ thống đường đất (đường mui) liên tục nối từ
tổ mối đến nơi có nguồn thức ăn.
+ Xâm nhập bằng đường không: Tức là khi mối trưởng thành (khoảng 3,5 –
4 năm tuổi), chúng được mọc cánh và bay ra ngoài tổ (còn gọi là hiện tưỡng vũ hóa,
thường xuất hiện khi trời mưa, sắp mưa hoặc giông bão). Sau khi rụng cánh, một
trong số cặp mối đó sẽ kết hợp thành đôi với nhau và chui vào những nơi kín đáo
như khuôn, khe cửa, khu vực ẩm thấp ở trên các tầng để thiết lập tổ mối mới.
+ Xâm nhập qua đường lây nhiễm: Tức là mối xâm nhập vào các công trình
qua việc vận chuyển các đồ dùng đã bị nhiễm mối như: Bàn ghế, giường, tủ, khung
khuôn cửa… từ nơi này đến nơi khác của con người. Thường thì xâm nhập theo
đường này ít gặp trong cuộc sống.
2.1.6. Ảnh hƣởng của một số yếu tố sinh thái đến mối
* Nhiệt độ
Sự trao đổi nhiệt độ được coi là quá trình năng lượng chủ yếu và trước tiên
trong quan hệ giữa cơ thể và môi trường. Vì mối là động vật có thân nhiệt không ổn
định nên mọi thay đổi của nhiệt độ môi trường sống dù cao hay thấp cũng đều làm
cho nhiệt độ cơ thể mối bị biến đổi. Nhiệt độ thích hợp nhất cho loài mối hoạt động
là từ 20 – 30oC. Khi nhiệt độ môi trường quá cao (>35oC) hoặc quá thấp (
đất sét, đất ngập nước theo mùa không thích hợp với mối. Phần lớn các chất khoáng
ở trong đất đều được mối sử dụng để xây tổ. Nhưng thực tế cho thấy khi bón phân
đạm hoặc lân cho cây trồng thường làm mối chết hàng loạt. Ngược lại bón phân
chuồng lại có tác dụng thu hút mối. Mỗi loài mối yêu cầu một phạm vi nhất định
của đất để sống.
* Thức ăn
Mối là loại côn trùng đa thực nhưng thức ăn của mối chủ yếu là gỗ và tre nứa
nên chúng tập trung phần lớn ở trong rừng. Sở dĩ mối tiêu hóa được là do có các vi
sinh vật cộng sinh sống ở trong ruột mối. Các vi sinh vật này tiết ra men phân giải
cenlulose để cung cấp chất dinh dưỡng cho mối và bản thân nó. Có loài mối không
14
có vi sinh vật cộng sinh nên chúng thường ăn gỗ đã bị nấm phân giải một phần. Để
đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng mối đi kiếm ăn suốt ngày đêm, tuy vậy cường độ hoạt
động về mùa hè mạnh hơn về mùa đông, ban đêm mạnh hơn ban ngày. Một số mối
còn tự cấy nấm để cung cấp đạm và vitamin (Đặng Kim Tuyến, 2008) [10].
* Thiên địch
Mối là một món ngon cho các động vật khác như: chim, cóc nhái, thằn lằn,
kiến…. Mối cũng bị nhiều loài sinh vật khác kí sinh như tuyến trùng, vi khuẩn và
nấm làm cho tổ mối diệt vong. Ngoài ra tổ mối có điều kiện khí hậu tương đối ổn
định và có nhiều sản phẩm trao đổi chất đã thu hút nhiều động vật khác đến sinh
sống như ruồi, gián…
* Các yếu tố khác
Quan hệ quần thể: Sự bất hòa cạnh tranh hỗn loạn giữa các cá thể mối xảy ra
giữa mối thợ, mối lính với mối chúa và ngược lại.
Các chất hóa học: Mối mẫn cảm với các chất hóa học khi ăn phải sẽ bị ngộ
độc nếu nặng có thể dẫn đến chết. Ví dụ như DDT…
2.2. Tình hình mối hại gỗ trên thế giới và Việt Nam
Mối là nhóm côn trùng có “tính xã hội cao” cao. Xuất hiện trên trái đất cách
Những năm gần đây, ở các tỉnh đã phải chi một khoảng tiền khá lớn cho việc
phòng trừ mối mọt, bảo quản và giữ gìn tài sản Nhà nước, từ những công trình cơ sở
như trường học, bệnh viện, khu làm việc… đến các công trình kiên cố to đẹp như
Ngân hàng Nhà nước, Kho tiền, Văn phòng Tỉnh uỷ, phòng lưu trữ hồ sơ UBND
tỉnh, phòng lưu trữ hồ sơ Sở Công an, các trạm viba thông tin liên lạc… đã bị mối
mọt tấn công. Đó là chưa kể các tổn thất do mối mọt ở nhà ở và các công trình khác
của nhân dân.
2.3. Tình hình nghiên cứu mối hại gỗ trên thế giới và ở Việt Nam
2.3.1. Tình hình nghiên cứu về mối hại gỗ trên thế giới
Trên thế giới việc nghiên cứu bộ cánh đều đã được tiến hành từ lâu.
Smaethman 1781 công bố công trình nghiên cứu phân loại mối. Linnacus vào năm
1785 đã sắp xếp mối vào lớp phụ không cánh (Apterygota) thuộc giống Termes.
Holmgreen người đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đặt nền móng cho phân loại
16
học về mối. Trên cơ sở này các nhà phân loại học như Light, 1921;Grasse, 1949…
đã hiệu đính và xác lập bộ cánh đều tương đối ổn định.
Snyder, 1949 đã xuất bản cuốn sách danh mục về mối trên thế giới, ông đã lập
được một danh sách các loài thuộc 5 họ, trong đó có họ Termitinae. Ông có đưa ra
những mô tả sơ bộ về hình thái loài M.pakistanicus là cơ sở để nhận biết loài này
trong tự nhiên.
Trong các công trình nghiên cứu về khu hệ mối các tác giả đã thành lập
nhiều khoá định loại các taxon trong bộ cánh đều, như khoá định loại của Ahmad
(1955) khi nghiên cứu mối ở Thái Lan, của Roonwal (1962) khi nghiên cứu mối ở
Ấn Độ… Các khoá định loại của các tác giả đã đặt tên, vẽ và mô tả chi tiết đặc điểm
cấu tạo hình thái đầu, hàm, môi, râu và các tấm lưng ngực của mối lính lớn của
loài Microtermes pakistanicus… nhưng các đặc điểm về cấu trúc tổ, đặc điểm phân
bố và phân hoá các đẳng cấp của loài lúc đó chưa có tác giả nào đề cập.
Đến năm 1965, Ahmad bổ sung thêm vào khoá định loại năm 1955 của mình các
những kinh nghiệm về phòng chống mối và đặc điểm sinh thái sinh học của một số
loài gây hại chính. Những dẫn liệu về cấu trúc tổ mối loài M. pakistanicus trong các
nghiên cứu của Vũ Văn Tuyển cho rằng loài có cấu trúc tổ nổi giống với cấu trúc tổ
của một số loài thuộc giống Macrotermes.
Công trình nghiên cứu đáng chú ý nhất là của Nguyễn Đức Khảm, 1975 về
mối miền bắc Việt Nam, tác giả mô tả về tập tính, cấu trúc tổ, vùng phân bố của 61
loài mối ở miền bắc, trong đó loài mối M. pakistanicusđược bổ sung thêm các dẫn
liệu về thời kì giao hoan của mối cánh, đặc điểm xây dựng tổ và vai trò của các
đẳng cấp trong tổ mối.
Những nghiên cứu về khu hệ mối, sinh học, sinh thái diệt mối cũng bắt đầu
được các cơ quan nghiên cứu khoa học chú ý như các trường đại học, viện nghiên
cứu của nhà nước, trong đó Trung tâm nghiên cứu phòng trừ mối - Viện Khoa Học
Thuỷ Lợi đã có được những kết quả nghiên cứu đáng khích lệ.
Công trình được nghiên cứu gần đây như: Nghiên cứu đặc điểm sinh học,
sinh thái của các loài mối hại cây (2007) đã đưa ra những dẫn liệu mới về cấu trúc
tổng quan và chi tiết của tổ mối, tập tính kiếm ăn và xây dựng tổ của loài mối M.
Pakistanicus làm cơ sở cho việc phòng trừ giảm thiểu tác hại do chúng gây ra cho