Công tác xã hội nhóm với nạn nhân bom mìn
(Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong,
tỉnh Quảng Trị)
Hồ Sỹ Thái
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ. Công tác xã hội; Mã số: 60 90 01 01
Nghd: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
Năm bảo vệ: 2014
Keywords: Công tác xã hội; Nạn nhân; Bom mìn; Quảng Trị
Contents:
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Chiến tranh đi qua đã để lại hậu quả nghiêm trọng đối với mảnh đất và con người Việt
Nam, đặc biệt là dải đất miền Trung. Nhiều di chứng của chiến tranh cho đến nay vẫn chưa được
khắc phục triệt để. Trong đó, bom mìn còn sót lại đã và đang trở thành vấn đề nghiêm trọng, cản
trở sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa tính mạng người dân cũng như gây ra nhiều hậu quả về
môi trường và xã hội.
Huyện Triệu Phong là một trong những địa phương gánh chịu hậu quả chiến tranh khốc liệt
nhất của tỉnh Quảng Trị - chiến địa của những trận đánh ác liệt trong lịch sử (1954 - 1975). Đây
từng là địa bàn có các căn cứ quân sự lớn của Mỹ ngụy như sân bay Ái Tử, quân cảng Cửa Việt,
căn cứ Phượng Hoàng và nhiều vị trí phòng thủ trọng yếu khác.
Là vành đai bảo vệ thị xã Quảng Trị - thị xã tỉnh lỵ thời ngụy quyền Sài Gòn, là nơi từng
diễn ra những cuộc tranh chấp quyết liệt giữa hai bên nên nơi đây phải hứng chịu một khối lượng
lớn bom mìn. Hàng trăm ngàn tấn bom, đạn các loại đã trút xuống mảnh đất này. Các căn cứ
quân sự, đồn bốt của quân đội Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn được bố trí dày đặc, ẩn chứa xung
quanh là những bãi mìn sát thương. Mảnh đất này như oằn mình lên vì những vết sẹo bom mìn
cày xới.
cứu“CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh
Quảng Trị)” làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành CTXH của mình.
Thực hiện nghiên cứu này, bản thân tôi mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé cùng
với các cấp, ban ngành, đoàn thể, các tổ chức trong nỗ lực chung phòng tránh và giảm thiểu hậu
quả chiến tranh, đặc biệt là hậu quả của bom mìn còn sót lại; thông qua các hoạt động CTXH
nhóm được đề xuất nhằm tạo môi trường sinh hoạt cho các nạn nhân, chia sẻ những kiến thức,
kinh nghiệm, kỹ năng trong nhóm, hỗ trợ nạn nhân vượt qua những khó khăn về mặt tâm lý. Từ
đó, giúp các nạn nhân tự vươn lên trong cuộc sống, nâng cao chất lượng đời sống người dân, góp
phần vào sự phát triển kinh tế xã hội huyện Triệu Phong nói riêng và tỉnh Quảng Trị nói chung.
2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Bom mìn còn sót lại và tai nạn bom mìn sau chiến tranh là vấn đề được các cấp chính
quyền, ban ngành, đoàn thể, đơn vị quân đội, nhân dân địa phương cũng như các tổ chức Phi
chính phủ trong và ngoài nước hoạt động trong lĩnh vực này đặc biệt quan tâm.
Những năm qua, đã và đang có nhiều kế hoạch, chương trình, dự án được tiến hành tại tỉnh
Quảng Trị nói chung, huyện Triệu Phong nói riêng về thống kê, khảo sát thực trạng bom mìn sau
chiến tranh, tai nạn bom mìn và hỗ trợ nạn nhân… Đi kèm theo đó là những bài viết, nghiên cứu,
báo cáo được thực hiện một cách cụ thể, chi tiết về các vấn đề liên quan.
2.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Vấn đề bom mìn và hậu quả của nó trong các ấn phẩm nước ngoài trước đây chủ yếu là hồi
ký về những ngày tháng ở chiến trường của các cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam.
Trong cuốn hồi ký xuất bản tại Mỹ vào năm 1991 “The Vietnam Wars 1945 – 1990” của
tác giả Marilyn B.Young – một cựu binh từng tham gia nhiều chiến dịch ở Quảng Trị đã mô tả
về những trận đánh ác liệt như chiến dịch Lam Sơn 719, Dốc Miếu, Ái Tử, La Vang… Trong đó,
ông dành nhiều trang viết để tái hiện lại hình ảnh sân bay quân sự Ái Tử - nơi mà ông đã có thời
gian dài ở đây trong khoảng những năm 1967 – 1973 “…sân bay Ái Tử với hàng rào thép gai
kiên cố và những bãi mìn sát thương phân bố dày đặc phía bên trong và bên ngoài hàng rào
nhằm chống sự xâm nhập của Bắc Việt…” [72, tr43]. Hay những chi tiết kể về nỗi ám ảnh của
quân viễn chinh Mỹ đóng ở sân bay Ái Tử khi hàng ngày phải đối mặt với hiểm họa bom mìn do
Cuốn sách The Impact of Landmines on children in Quang Tri Province, Central VietNam
của Jim Monan công bố năm 1996 đã phân tích những tác động của vấn đề bom mìn đối với đối
tượng là trẻ em. Phần đầu cuốn sách là những dòng hồi ức về vùng đất đầy bom mìn, vũ khí, sự
giao tranh mà tác giả đã có khoảng thời gian dài được chứng kiến. Qua việc mô tả lại sự ác liệt
trong thời kỳ chiến tranh tại Quảng Trị, tác giả một lần nữa khẳng định tính chất nguy hiểm và
ảnh hưởng lâu dài của chiến tranh đối với người dân sống tại vùng đất này. Với đối tượng trẻ em,
tác giả đưa ra những câu chuyện về các trường hợp các em nhỏ bị trúng bom, dẫm phải mìn hay
bị trúng đạn khi đi di tản trong thời kỳ chiến tranh diễn ra. Mặc dù không thống kê chính xác số
trẻ em bị chết trong chiến tranh do bom mìn nhưng theo tác giả thì “…con số đó thực sự là một
con số khiến chúng ta phải suy ngẫm và tự vấn bản thân…” [70, tr57]. Tác giả cũng bày tỏ sự
quan ngại khi chiến tranh đã kết thúc nhưng tình trạng trẻ em bị tai nạn bom mìn không giảm,
đặc biệt là các em bị tai nạn do đùa nghịch với các loại bom mìn còn sót lại. Qua việc phân tích
những ảnh hưởng của bom mìn đối với trẻ em, tác giả cho rằng vấn đề này cũng mang tính cấp
bách giống như vấn đề dinh dưỡng cho trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em… và cần có sự hỗ trợ của
các tổ chức quốc tế trong việc giảm thiểu, đẩy lùi hiểm họa này, mang lại cuộc sống an toàn cho
các em nhỏ.
Năm 2003, tại Mỹ, Quỹ tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ và dự án Renew phối hợp xuất bản
cuốn sách A mine action program in Quang Tri Province, Viet Nam [73]. Đây là cuốn sách giới
thiệu toàn bộ dự án Renew về khắc phục hậu quả bom mìn ở tỉnh Quảng Trị. Cuốn sách đã phân
tích khá chi tiết thực trạng bom mìn sau chiến tranh tại địa phương, hậu quả của tai nạn bom mìn
đối với người dân và sự phát triển kinh tế xã hội. Đặc biệt, cuốn sách cũng lần lượt giới thiệu các
vùng đất mà dự án Renew đang triển khai dự án, trong đó có địa bàn huyện Triệu Phong. Tuy
nhiên, những số liệu thống kê, phân tích, mô tả thực trạng bom mìn được đề cập trong cuốn sách
này chủ yếu là các số liệu định lượng, được thu thập và xử lý thông qua đội ngũ cán bộ dự án tại
các địa bàn mà chưa có những nghiên cứu định tính, những phỏng vấn dành riêng cho người dân,
nạn nhân, gia đình nạn nhân… để thấy được mức độ tác động của vấn đề đến người dân sống tại
đó như thế nào hay nguyện vọng, mong muốn của họ ra sao…
Như vậy, những bài viết, nghiên cứu được thực hiện ở nước ngoài về vấn đề bom mìn, hậu
Renew phối hợp với Sở Y tế tỉnh Quảng Trị thực hiện.
Cũng trong năm 2002, Renew phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Triệu Phong và Đại
học Huế tiến hành nghiên cứu “Báo cáo khảo sát ảnh hưởng bom mìn ở huyện Triệu Phong, tỉnh
Quảng Trị” [65] nhằm đánh giá ảnh hưởng của nó đối với đời sống người dân và tình hình kinh
tế xã hội của huyện Triệu Phong .
Tiếp theo các nghiên cứu đã thực hiện, tháng 9/2006, Văn phòng điều phối dự án Renew
phối hợp với Sở Ngoại vụ, Sở Y tế tỉnh Quảng Trị thực hiện “Nghiên cứu tình hình nạn nhân
bom mìn và nhận thức về hiểm họa bom mìn sau chiến tranh tại tỉnh Quảng Trị, Việt Nam” [62].
Tuy nhiên, nhìn chung, các nghiên cứu trên mới chỉ dừng lại ở tính chất những điều tra xã
hội học. Kết quả nghiên cứu định lượng mới đưa ra số liệu thống kê số lượng bom mìn còn sót
lại; số lượng nạn nhân đồng thời nêu lên nguyên nhân, hậu quả của thực trạng đó.
Trong “Tham luận về vai trò lực lượng quân sự địa phương trong việc hợp tác với các tổ
chức quốc tế thực hiện các hoạt động dò tìm, xử lý bom mìn, vật nổ nhân đạo” của Bộ Chỉ huy
Quân sự tỉnh Quảng Trị năm 2005 tại Hội nghị tổng kết 5 năm công tác khắc phục hậu quả bom
mìn và hỗ trợ nạn nhân đã tiếp tục khẳng định “Triệu Phong là một trong những địa bàn trọng
điểm của các dự án rà phá bom mìn, phục hồi đất đai và hỗ trợ nạn nhân bởi vì tính chất và mức
độ ô nhiễm bom mìn của địa phương trầm trọng so với những địa bàn khác trong toàn tỉnh. Do
đó, mức độ ảnh hưởng của vấn đề đối với các nạn nhân cũng tăng lên” [4, tr15]. Bài viết đã
nhấn mạnh tầm quan trọng của các hoạt động GDPTBM cho nạn nhân như tuyên truyền, tập
huấn, trang bị những kỹ năng cơ bản cho người dân, cán bộ địa phương khi gặp bom mìn, khi
cứu chữa người bị tai nạn bom mìn. Tuy nhiên, những hoạt động trên mới chỉ dừng lại ở tính
chất định hướng, hướng dẫn phải làm như thế nào chứ chưa đi sâu phân tích hiệu quả, hạn chế
của từng hoạt động hoặc dự trù quy mô triển khai của hoạt động, chưa có sự chú ý đối với những
hoạt động GDPTBM đặc thù dành cho nhóm đối tượng như người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ…
Sau đó, Văn phòng điều phối dự án Renew tiếp tục phối hợp cùng với chính quyền ba tỉnh
Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế và Trung tâm Khoa học xã hội nhân văn Huế thực hiện
“Nghiên cứu về Nghề rà tìm và buôn bán phế liệu ở Quảng Trị, Quảng Bình và Thừa Thiên
Huế”, nghiên cứu hoàn thành tháng 7/2008 [64]. Nghiên cứu tập trung vào việc nêu lên tác hại
Do đó, luận văn tốt nghiệp với đề tài “CTXH nhóm với nạn nhân bom mìn (Nghiên cứu
trường hợp tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị)” hoàn toàn không phải là một “phát kiến”,
một chủ đề mới trong hoạt động thực tiễn cũng như trong khoa học nghiên cứu. Thế nhưng cái
mới của luận văn chính là việc cùng một lúc lột tả hai vấn đề đó là thực trạng bom mìn, tai nạn
bom mìn, công tác khắc phục hậu quả bom mìn, nạn nhân bom mìn và nhận thức của họ đối với
vấn đề bom mìn như thế nào?; đồng thời đề xuất các hoạt động CTXH nhóm nhằm thông qua đó
trị liệu về tâm lý cung cấp các kiến thức cơ bản về bom mìn, hình thành kỹ năng phòng tránh tai
nạn bom mìn, tạo môi trường nhóm để các nạn nhân và gia đình có thể chia sẻ những vấn đề khó
khăn gặp phải sau tai nạn, những mong muốn, nhu cầu hiện tại và hỗ trợ họ vươn lên trong cuộc
sống.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần giảm thiểu hậu quả tai nạn
bom mìn đối với người dân địa phương, hướng họ đến một cuộc sống an toàn, tốt đẹp.
3.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu
3.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu đã vận dụng một số lý thuyết Xã hội học và CTXH như: thuyết nhu cầu, thuyết
vai trò, thuyết trao đổi xã hội… để xác định nhu cầu của nhóm; vị trí, vai trò của các nhóm viên.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc bổ sung và phát triển hệ thống các lý luận, phương
pháp trong nghiên cứu về các vấn đề liên quan như CTXH, CTXH nhóm, nhu cầu, vai trò của
nhóm xã hội…
Đề tài góp phần làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu đi sau.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng thể về thực trạng bom mìn còn sót lại, nạn nhân bom mìn,
tai nạn bom mìn sau chiến tranh tại địa phương. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các hoạt động CTXH
nhóm với nạn nhân nhằm mục tiêu hỗ trợ về tâm lý và trao truyền cho họ những kiến thức, kinh
nghiệm, kỹ năng để phòng tránh tai nạn lặp lại đối với bản thân, gia đình và cộng đồng.
Đối với bản thân nhà nghiên cứu, qua quá trình tìm hiểu thực tế đã có cơ hội áp dụng
những lý thuyết và phương pháp đã được học vào thực tiễn cuộc sống. Từ đó, giúp nhà nghiên
cứu nắm vững kiến thức, rèn luyện kỹ năng và có thêm nhiều kinh nghiệm trong những nghiên
Chấn thương
thương tật
hai chân
đa phần
Mất một,
hai tay hoặc
hỏng mắt
Chấn thương
tâm lý
Số lượng
(người)
7
64
4
15
Gia đình nạn nhân bom mìn.
Cán bộ chính quyền, ban ngành, đoàn thể địa phương.
Phương pháp phân tích tài liệu
Để có số liệu cụ thể, chính xác về các vấn đề liên quan, nhà nghiên cứu đã tìm hiểu một số tài
liệu về vấn đề bom mìn của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước; đặc biệt là của Văn phòng
điều phối dự án Renew tỉnh Quảng Trị; báo cáo tình hình kinh tế xã hội hàng năm của huyện và
các xã, thị trấn; báo cáo tổng kết hoạt động hàng năm của các cơ quan, đoàn thể huyện Triệu
Phong… và các tài liệu liên quan khác (xem phần Danh mục tài liệu tham khảo).
8.2.
Phương pháp phỏng vấn sâu
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhà nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn sâu 17 người,
trong đó: 7 nạn nhân bom mìn; 8 cán bộ chính quyền, ban ngành, đoàn thể cấp huyện (Phó chủ
tịch huyện và cán bộ Phòng Lao động thương binh và xã hội, Phòng Văn hóa thông tin, Phòng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Ban chỉ huy quân sự, Trung
tâm y tế huyện); 2 cán bộ Dự án Renew.
8.3.
Phương pháp phỏng vấn bảng hỏi
Trong nghiên cứu này, nhà nghiên cứu tiến hành phỏng vấn theo bảng hỏi (xem phụ lục 3)
đối với 76 nạn nhân bom mìn được chọn ngẫu nhiên.
Số lượng phỏng vấn
76 nạn nhân (04 nạn nhân/ 01 xã, thị trấn)
25% nạn nhân dưới 15 tuổi.
25% nạn nhân 16 - 30 tuổi.
Cơ cấu độ tuổi
25% nạn nhân 31 - 49 tuổi.
Hồ Chí Minh.
2.
Arms Project (1992), Mìn: một di sản chết người (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều
phối Dự án Renew, Quảng Trị.
3.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1999), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, tập 3,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4.
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Quảng Trị (2005), Tham luận về vai trò lực lượng quân sự địa
phương trong việc hợp tác với các tổ chức quốc tế thực hiện các hoạt động dò tìm, xử lý
bom mìn, vật nổ nhân đạo.
5.
Bộ Giáo dục và đào tạo (2010), Giáo trình Triết học Mác Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
6.
Bộ Lao động thương binh và xã hội (2003), Nghèo đói và bất bình đẳng tại Việt Nam, Nxb
Lao động xã hội, Hà Nội.
7.
Nguyễn Thị Thái Lan (chủ biên) (2012), Giáo trình Công tác xã hội nhóm, Nxb Lao động
xã hội, Hà Nội.
14.
Trần Thanh Loan (2011), Vai trò của công tác xã hội đối với nghề thu gom phế liệu chiến
tranh (Nghiên cứu trường hợp tại huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị , Khóa luận tốt nghiệp,
Trường Đại học Khoa học Huế.
15.
Trần Thị Hải Lý (2007), Báo cáo chia sẻ kinh nghiệm áp dụng chương trình giáo dục
phòng tránh tai nạn bom mìn trong trường tiểu học, Trường tiểu học số 1 Triệu Thượng,
Triệu Phong.
16.
Bùi Thị Xuân Mai (2012), Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Nxb Lao động xã hội, Hà
Nội.
17.
Nguyễn Văn Mạnh (chủ biên) (2007), Công tác xã hội ở miền Trung Việt Nam, Nxb Thuận
Hóa, Huế.
18.
Nhà thiếu nhi huyện Triệu Phong (2004), Báo cáo tổng kết chương trình giáo dục bom mìn
đồng đẳng cho trẻ em huyện Triệu Phong năm 2004.
25.
Phong trào Quốc tế vận động cấm mìn sát thương (2005), Báo cáo giám sát hoạt động bom
mìn năm 2005 (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị.
26.
Lê Văn Phú (2004), Công tác xã hội, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
27.
Ronal B.Frankum Jr và Stephen F.Maxner (2003), Tìm hiểu về cuộc chiến tranh Việt Nam,
Nxb Wiley, USA. (Phiên bản tiếng Việt)
28.
Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Quảng Trị (2006), Tài liệu bồi dưỡng về giáo dục phòng tránh
tai nạn bom mìn và vật liệu chưa nổ.
29.
Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Trị (2012), Các báo cáo liên quan về tình hình hoạt động phòng
chống bom mìn.
30.
Mai Kim Thanh (2010), Nhập môn Công tác xã hội, Nxb Giáo dục, Hà Nội
tránh bom mìn (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị.
37.
Tổ chức Landmine Monitor (2001), Báo cáo về tình hình và hoạt động phòng tránh bom
mìn và vật liệu chưa nổ ở Việt Nam (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án
Renew, Quảng Trị.
38.
Tổ chức Những vấn đề phát triển môi trường và kỹ thuật (1994), Một phương pháp tiếp
cận tổng hợp về nghiên cứu, lập kế hoạch và tháo gỡ bom mìn (Phiên bản tiếng Việt), Văn
phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị.
39.
Tổ chức Phong trào Quốc tế chống sử dụng mìn sát thương (2001), Hướng dẫn chung về
điều trị và phục hồi cho nạn nhân - Nhóm công tác về hỗ trợ nạn nhân, Văn phòng Điều
phối Dự án Renew, Quảng Trị.
40.
Tổ chức Y tế thế giới (2001), Chương trình hoạt động phối hợp về y tế cộng đồng đối với
vấn đề mìn sát thương (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng
Trị.
41.
Tổ chức Y tế thế giới, Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (1998), Khuôn khổ chiến lược hỗ trợ
47.
UNICEF (2001), Chương trình hoạt động phòng chống bom mìn nhìn từ khía cạnh phát
triển (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị.
48.
UNICEF (2001), Hội thảo quốc tế về công tác thiết kế các tài liệu, nguồn lực và phương
tiện truyền thông khác phục vụ cho các chương trình giáo dục phòng tránh bom mìn
(Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị.
49.
UNICEF (2001), Những hướng dẫn quốc tế đối với chương trình giáo dục phòng tránh
bom mìn/ vật liệu chưa nổ (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew,
Quảng Trị.
50.
UNICEF (2005), Tiêu chuẩn quốc tế đối với hoạt động giáo dục phòng tránh bom mìn
(Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng Trị.
51.
UNMAS (1998), Hoạt động phòng chống bom mìn và sự phối hợp hành động: Chính sách
của Liên Hợp Quốc (Phiên bản tiếng Việt), Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Quảng
Trị.
52.
58.
Văn phòng Điều phối Dự án Renew (2008), Sổ tay nhận dạng bom mìn và vật nổ.
59.
Văn phòng Điều phối Dự án Renew (2004), Sơ cứu tai nạn bom mìn và các chấn thương
khác tại cộng đồng.
60.
Văn phòng Điều phối Dự án Renew (2005), Sử dụng phương tiện trực quan trong tuyên
truyền giáo dục phòng tránh bom mìn (Sổ tay dành cho các cộng tác viên dự án Renew).
61.
Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Quảng Trị
(2003), Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo dục phòng tránh bom mìn.
62.
Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Sở Ngoại vụ, Sở Y tế tỉnh Quảng Trị (2006), Nghiên
cứu tình hình nạn nhân bom mìn và nhận thức về hiểm họa bom mìn sau chiến tranh tại
tỉnh Quảng Trị, Việt Nam.
63.
Văn phòng Điều phối Dự án Renew, Sở Y tế tỉnh Quảng Trị (2002), Nghiên cứu nhận thức
- thái độ - hành vi về hiểm họa của bom mìn và tai nạn bom mìn sau chiến tranh tại tỉnh
Quảng Trị, Việt Nam.
Davis, P. (1994), War of the Mines, Pluto Press, London, England.
70.
Jim Monan (1996), The Impact of Landmines on children in Quang Tri, Province, Central
VietNam, VVAF, UNICEF, Lucins and Eva East man Fund, USA.
71.
Landmine Monitor (2000), ASEAN and the Banning of Anti - personnel Landmines.
72.
Marilyn B. Young (1991), The Vietnam Wars 1945 - 1990, Harper Perennial, NewYork,
USA.
73.
Project Renew (2003), A mine action program in Quang Tri Province, Viet Nam,USA.
74.
Quang Tri Department of Foreign Affairs, VVMF (2005), Update for Donors and
Supporters Project Renew Quang Tri Province,USA.
75.
Roberts & William J. (1995), After the Guns Fall Silent: The Enduring Legacy of
Landmines, VVAF, Washington D.C, USA.