VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MÃ NGỌC THỂ
THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ
VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MÃ NGỌC THỂ
THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ
VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
Chuyên ngành: Tâm lý học chuyên ngành
Mã số: 62 31 04 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS TRẦN THỊ MINH ĐỨC
đỡ tôi những lúc khó khăn. Xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới tập thể cán bộ, giảng
viên của Học viện Khoa học Xã hội.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, Ban giám hiệu trường Đại
học Tân Trào đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận án của mình.
Sau cùng, tôi đặc biệt cảm ơn những người thân trong gia đình đã động viên,
quan tâm, dành thời gian để tôi hoàn thiện luận án này.
Trong thời gian làm luận án, do kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều nên luận
án của tôi còn mắc nhiều lỗi và cần được góp ý, chỉnh sửa để bản luận án ngày
hoàn thiện hơn. Kính mong quý Thầy, Cô giáo và quý bạn đồng nghiệp, những ai
quan tâm đến đề tài nghiên cứu này đóng ý kiến, để tôi có thể chỉnh sửa, hoàn thiện
luận án này được tốt hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tuyên Quang – Hà Nội, tháng…..năm 2016
Mã Ngọc Thể
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÍCH ỨNG CỦA SINH
VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP ........................................ 8
1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước .....................................................................8
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước....................................................................15
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC
THIỂU SỐ VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP ..............................................................26
2.1. Một số khái niệm cơ sở ......................................................................................26
Dân tộc thiểu số
ĐH, CĐ
Đại học, cao đẳng
ĐTB
Điểm trung bình
ĐLC
Độ lệch chuẩn
HĐHT
Hoạt động học tập
MĐTƯ
Mức độ thích ứng
SL
Số lượng
SV
Sinh viên
Bảng 4.8: Xoay thành phần các nhân tố về thích ứng hành vi .............................84
Bảng 4.9: Đánh giá về sự thành thạo các kĩ năng trong quá trình học tập.........85
Bảng 4.10: Sự thích ứng của sinh viên biểu hiện qua nhóm hành vi ...................87
Bảng 4.11: Một số yếu tố có liên quan đến hành vi học tập ở sinh viên ...............89
Bảng 4.12: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt nhận thức .....................92
Bảng 4.13: Thích ứng của SV DTTS qua mặt thái độ (xét theo năm học)................95
Bảng 4.14: Biểu hiện thái độ tương tác của SV trong hoạt động học tập ............97
Bảng 4.15: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt thái độ (xét theo năm học).........98
Bảng 4.16: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt hành vi..........................99
Bảng 4.17: Biểu hiện của nhóm hành vi giao tiếp, ra quyết định và tư duy
tích cực ...................................................................................................................100
Bảng 4.18: Biểu hiện của nhóm hành vi ứng phó và tự kiềm chế ......................101
Bảng 4.19: Sự thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua nhóm hành vi ................102
Bảng 4.20: Thích ứng nhận thức của sinh viên xét theo nhóm dân tộc .............107
Bảng 4.21: Sự thích ứng của các nhóm SV DTTS thể hiện qua mặt thái độ .........108
Bảng 4.22: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt hành vi .............................110
Bảng 4.23: Sự khác biệt giữa ba mặt thích ứng học tập của các nhóm SV dân tộc..111
Bảng 4.24: Mối tương quan của các mặt thích ứng với từng năm học ......112
Bảng 4.25: Sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng ......................113
Bảng 4.26: Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến thích ứng của SV DTTS ........116
Bảng 4.27: Cách ứng phó tích cực của SV với khó khăn trong học tập .............120
Bảng 4.28: Những cách ứng phó tiêu cực của SV với khó khăn học tập ...........121
Bảng 4.29: Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến thích ứng học tập của SV ..........122
Bảng 4.30: Ảnh hưởng của đặc điểm dân tộc đến thích ứng của SV .................126
Bảng 4.31: Mối quan hệ của các yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng của SV
DTTS.......................................................................................................... 127
Đức (2003) [9], Đỗ Thị Thanh Mai (2008) [40], Dương Thị Thoan (2010) [67],
Đặng Thị Lan (2012) [32], Nguyễn Thị Út Sáu (2013) [58], Đặng Thanh Nga (2014)
[50]. Các nghiên cứu này phần lớn tập trung vào sự thích ứng của sinh viên năm thứ
nhất biểu hiện qua sự thích ứng với phương pháp học tập, chương trình đào tạo,
nhận thức, thái độ, hành vi. Các yếu tố chi phối khách quan và chủ quan như chỉ số
sự phát triển thông minh, kiểu tính cách, sức khỏe, nỗ lực cá nhân. Tuy các tác giả
không nghiên cứu trực tiếp về sự thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số nhưng đã
gợi mở cho chúng tôi những ý tưởng, những mặt còn chưa nghiên cứu về thích ứng
học tập. Trong số các công trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có Nguyễn Thị
Hoài (2007) [20], Ngô Giang Nam (2013) [46], Nguyễn Thị Lan Anh (2015) [1], đã
nghiên cứu gần hơn về người dân tộc thiểu số qua các vấn đề kỹ năng giao tiếp, đặc
điểm giao tiếp của sinh viên dân tộc thiểu số, đó là những nghiên cứu hết sức đáng
quý, cung cấp cho chúng tôi nhiều thông tin có liên quan đến thích ứng của sinh
viên dân tộc thiểu số với hoạt động học tập. Bởi vì, hoạt động học tập của sinh viên
1
bao giờ cũng có gắn với yếu tố giao tiếp. Nó là một trong những điều kiện để sinh
viên thích ứng nhanh, hòa nhập tốt với môi trường sống. Các nghiên cứu cũng giúp
cho chúng tôi những ý tưởng trong việc làm rõ thực trạng và đưa ra các biện pháp
cụ thể tác động nâng cao mức độ thích ứng học tập cho SV DTTS.
1.3. Môi trường đại học là môi trường có nhiều khó khăn, luôn tạo ra áp lực
cho SV DTTS. Các em phải trải qua quá trình thích ứng khó khăn do thay đổi môi
trường sống và học tập từ phổ thông đến đại học. Những sinh viên này là nhóm
người thiểu số phải đương đầu với nhiều khó khăn dẫn đến chất lượng học tập giảm
sút. Những biểu hiện của sự khó khăn này được xem như một hệ quả của một sang
chấn, một cú sốc văn hóa mà hầu hết các SV thuộc nhóm thiểu số đều gặp phải. Các
nghiên cứu về thích ứng học tập hiện nay tập trung vào thích ứng của học sinh tiểu
học và sinh viên năm thứ nhất, có rất ít nghiên cứu về SV DTTS. Phần lớn đề tài
pháp giảng dạy của giảng viên, tổ chức nhóm, câu lạc bộ kỹ năng sống cho sinh
viên, tham vấn tâm lý để nâng cao mức độ thích ứng cho SV DTST với hoạt động
học tập.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Biểu hiện và mức độ thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với hoạt
động học tập.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Chúng tôi chú trọng tập trung nghiên cứu thích ứng học tập của SV biểu hiện
qua mặt nhận thức, thái độ và hành vi. Nghiên cứu được tiến hành theo lát cắt
ngang. Chúng tôi khảo sát thực trạng và phân tích nguyên nhân thích ứng (hoặc
không thích ứng) của SV theo năm học về các biểu hiện nhận thức, thái độ và hành
vi để thấy rõ SV có thích ứng với hoạt động học tập hay không. Luận án chỉ tập
trung nghiên cứu trên SV DTTS, không nghiên trên SV dân tộc Kinh nên chúng tôi
không nghiên cứu sự khác biệt giữa thích ứng của SV DTTS và thích ứng của SV
nói chung với hoạt động học tập. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng học
tập của SV DTTS, nhưng trong luận án này, do giới hạn về mặt thời gian nghiên
cứu chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu các đặc điểm cá nhân về tính cách, tính tích
cực hoạt động - giao tiếp, ý chí khắc phục khó khăn, điều kiện sống...là những yếu
tố cơ bản nhất ảnh hưởng đến thích ứng của SV DTTS với hoạt động học tập. Còn
các yếu tố khác chúng tôi sẽ đi sâu vào trong những nghiên cứu tiếp theo.
3.2.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Khách thể là SV DTTS thuộc các dân tộc điển hình như Tày, H’Mông - Dao
và dân tộc khác đang học từ năm I đến năm III.
3.2.3. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành ở trường Đại học Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang.
3
hành vi làm thuật ngữ đại diện. Bản thân nhiều hành vi đồng nhất sẽ tạo ra hành
động, nhiều hành động đồng nhất sẽ tạo ra hoạt động học tập ở SV DTTS.
- Nguyên tắc phát triển: Con người sẽ không thể tồn tại, phát triển được nếu
không có hoạt động - giao tiếp với thế giới xung quanh, với cộng đồng người. Các
4
quan hệ xã hội không phải là cái gì trừu tượng, xa lạ, mà do chính con người tạo ra,
khi con người có nhận thức tốt, có thái độ đúng đắn và có hành vi tương ứng sẽ tạo
ra được sự phát triển trong tâm lý và ý thức ở bản thân. Trong nghiên cứu này xem
xét sự thích ứng học tập của SV DTTS không phải là một hiện tượng tâm lý tĩnh,
mà luôn thay đổi dưới sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, những
SV có sự chủ động tích cực, có ý chí khắc phục khó khăn càng cao thì mức độ thích
ứng của các em càng cao. Thích ứng cũng là một điều kiện, một phẩm chất tâm lý
quan trọng giúp SV DTTS đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống, và tạo được
những khả năng để phát triển trong tương lai.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu; Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;
Phương pháp quan sát; Phương pháp phỏng vấn sâu; Phương pháp nghiên cứu
sản phẩm của hoạt động; Phương pháp tham vấn tâm lý; Phương pháp thống kê
toán học. Mục đích và cách thức sử dụng được trình bày chi tiết trong Chương 3.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1. Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã khái quát được những vấn đề lý luận cơ bản về sự thích ứng,
thích ứng với hoạt động học tập, sinh viên dân tộc thiểu số, khái niệm thích ứng của
SV DTTS với hoạt động học tập; Xác định biểu hiện thích ứng qua ba mặt: nhận
thức, thái độ và hành vi; các tiêu chí đánh giá thích ứng; các yếu tố ảnh hưởng đến
sự thích ứng.
- Chương 2: Cơ sở lý luận về thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với
hoạt động học tập.
- Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn thích ứng của sinh viên dân tộc
thiểu số với hoạt động học tập.
- Kết luận.
- Danh mục công trình đã công bố của tác giả.
- Danh mục tài liệu tham khảo.
- Phụ lục.
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ THÍCH ỨNG
CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Thông qua phân tích các tài liệu nghiên cứu của nước ngoài, phần này luận
án tập trung làm rõ ba hướng nghiên cứu về thích ứng, đó là hướng nghiên cứu về
thích ứng chung, thích ứng với hoạt động học tập của học sinh, sinh viên và thích
ứng với môi trường đại học.
1.1.1. Hướng nghiên cứu về thích ứng chung
Loài người trải qua hàng triệu năm tiến hóa, biến đổi để trở thành con
người hiện đại, thông minh và có tổ chức cao. Những biến đổi đó phần lớn do con
người biết thích nghi với môi trường sống, cải tổ bản thân để có thể tồn tại và phát
triển được. Trong bản thể con người có hai vấn đề đảm bảo sự tồn tại và phát
triển, đó là thích nghi về mặt sinh học và thích ứng về mặt tâm lý xã hội. Cho nên,
trước tiên cần khẳng định sự thích nghi đã đem lại cho con người một sức sống
trường tồn. Khoa học sinh vật học đã chúng minh điều đó qua thuyết tiến hoá và
tạo ra những ảnh hưởng đến tâm lý học một thời gian dài, đem lại những dữ kiện
giải quyết sự xung khắc giữa cái Nó và cái Siêu Tôi. Theo S.Freud, cái Tôi có
nguyên tắc là thích ứng với thực tế; cái Tôi phục vụ cho cái Nó, cái siêu tôi và
môi trường bên ngoài.[dẫn theo 14]
Như vậy, cả J. Piaget và S. Freud đều quan tâm đến trạng thái “cân bằng” và
“mất cân bằng” khi bàn về quá trình thích ứng của con người với môi trường xã hội.
Cả hai ông thống nhất: cân bằng của con người được xem xét từ hai khía cạnh, đó
là cân bằng với môi trường bên ngoài và cân bằng với cái bên trong của bản thân.
Do đó mỗi thay đổi bên trong hay thay đổi của môi trường sẽ dẫn tới sự mất cân
bằng. Đây là đóng góp to lớn của hai ông trong nghiên cứu về thích ứng của con
người. Theo chúng tôi, điểm hạn chế trong lý luận của J. Piaget và S. Freud chính là
xem sự thích ứng của con người như là sự thích ứng thuần tuý sinh học: con người
thụ động trong quá trình thích ứng với môi trường, chịu sự điều khiển hầu như hoàn
toàn bởi các quy luật sinh học.
8
Thực tế hàng ngày cho thấy, các sinh vật phản ứng với môi trường dựa
theo các phản xạ vô điều kiện và có điều kiện. Chính vì vậy, I.P. Pavlov (1890)
cho rằng, bản chất sự thích ứng của sinh vật với môi trường là sự tập thành, hay
học được các phản xạ có điều kiện- các phản xạ chỉ có thể được hình thành nhờ
sự lặp đi lặp lại các kích thích và các phản ứng có điều kiện.[ dẫn theo 14].
Với quan niệm rằng bản chất của sự kém thích ứng (hay không thích ứng) là
không học được, hoặc hành vi học được không đáp ứng được yêu cầu của môi
trường, J.Watson (1913) cho rằng, mọi hành vi ứng xử của con người được hình
thành thông qua quá trình học tập và tập nhiễm, là quá trình mà cá nhân học được
những hành vi mới cho phép nó giải quyết những yêu cầu đòi hỏi của cuộc
sống.[108].
Theo Tremblay (1992), sự thích ứng bên trong chính là sự thoải mái, dễ chịu
khi con người được “tự do” bộc lộ bản thân mình; còn sự thích ứng bên ngoài là khi
mối quan hệ giao tiếp với bạn bè hoặc bạn khác giới sẽ thúc đẩy tính tích cực hoạt
động - giao tiếp và đạt kết quả học tập tốt hơn so với những sinh viên không có mối
quan hệ bạn bè khác giới. Những kết quả trên giúp chúng ta nhận thấy rằng nếu sinh
viên phát huy được tính tích cực, hoạt động - giao tiếp sẽ làm tăng khả năng thích
ứng với hoạt động học tập của sinh viên. Rõ ràng giao tiếp có vai trò là điều kiện để
tâm lý con người hình thành, phát triển. Giao tiếp cũng tạo ra nhu cầu, động cơ học
tập tích cực giúp sinh viên đạt kết quả học tập ngày càng cao hơn trước.
Trong tác phẩm “Thích ứng và sức khỏe tâm lý” Abe Arkoff (1968) đã công
bố kết quả nghiên cứu về thích ứng tâm lý, bao gồm cả sự thích ứng học tập của học
sinh và sinh viên. Theo tác giả, sự thích ứng nói chung của con người bao gồm các
chỉ số: Hạnh phúc, sự hài lòng, lòng tự trọng, sự phát triển cá nhân, sự hội nhập cá
nhân, khả năng tiếp xúc với môi trường, sự độc lập với môi trường. [86]. Như vậy,
tác giả đã chỉ ra các chỉ số cụ thể cho thấy con người muốn thích ứng được với cuộc
sống, cần thiết phải có được một số phẩm chất và năng lực ở bản thân có liên qua
đến nhận thức (hạnh phúc, lòng tự trọng ), thái độ (hài lòng, sự phát triển cá nhân)
và có những hành vi - hành động (sự độc lập, khả tiếp xúc với môi trường). Quan
điểm này đã đem đến cho chúng tôi những gợi ý khi xem xét sự thích ứng của sinh
viên DTTS với hoạt động học tập ở phần xây dựng những biểu hiện của khía cạnh
biểu hiện của sự thích ứng.
10
Trên cơ sở nghiên cứu quá trình hình thành hoạt động học tập của các SV
thuộc khoa Tâm lý học – trường Đại học tổng hợp Matxcova năm 1971, A.I.
Alaudie và A.L. Meseracov đã đi kết luận: Việc thích ứng của SV đại học với hoạt
động học tập thực chất là khả năng tổ chức quá trình nghiên cứu phát triển của
người học, tiếp cận được với hệ thống tri thức và kinh nghiệm xã hội lịch sử. [dẫn
theo 13]. Rõ ràng quan điểm của hai tác giả trên cho thấy, hoạt động học tập của SV
luôn gắn liền với việc làm thế nào để SV tiếp cận được tri thức, kinh nghiệm và
hưởng rõ ràng.
Trong đề tài: “Sự thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập trong nhà
trường sư phạm: những khó khăn, các vấn đề và con đường giải quyết chúng” tác giả
Volgina T.Iu (2007) chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích ứng là: Nguồn gốc
xuất thân, lứa tuổi và giới tính. Volgina T.Iu nghiên cứu theo các hướng: 1. Sự đánh
giá của SV về những kỹ xảo nhận được trong nhà trường đối với nghề nghiệp tương
lai; Sự hiểu biết của SV năm thứ nhất về nghề nghiệp tương lai; 3. Quan niệm của
SV về nghề nghiệp tương lai.[107].
Nghiên cứu về: “Ảnh hưởng của những đặc điểm trí tuệ đến sự thích ứng
với hoạt động học của sinh viên trường đại học kỹ thuật” trên SV năm thứ nhất
các trường đại học kỹ thuật, A.E Piskun (2011) cho rằng, khó khăn trong quá trình
thích ứng của SV với hoạt động học tập không chỉ liên quan đến xúc cảm, tình
cảm hay môi trường giao tiếp mà nó còn liên quan đến những hạn chế trong sự
phát triển trí tuệ, đặc biệt liên quan đến tư duy lôgic, không gian và kỹ thuật.[102].
1.1.3. Hướng nghiên cứu về thích ứng với môi trường đại học
Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng nhất định
nào đó từ môi trường văn hóa mà mình đã gắn bó trong một quãng thời gian nào
đấy. Sự ảnh hưởng của văn hóa dù theo chiều hướng xấu hay tích cực nó cũng tạo
ra những thách thức, các khó khăn để con người phải thích nghi với những biến đổi
của sự phát triển văn hóa. Đặc biệt sự di chuyển từ môi trường sống này sang môi
trường sống khác cũng tạo ra hàng loạt các vấn đề xã hội, các bất đồng và xung đột
văn hóa, từ đó nảy sinh các vấn đề tâm lý do con người không thể thích nghi và
thích ứng kịp với văn hóa nơi mà mình sẽ sống lâu dài. Sự va chạm giữa các nhóm
người di cư từ nhiều vùng miền khác nhau, hoặc sự giao thoa văn hóa cũng tạo ra
những rào cản cho từng cá nhân khi muốn thâm nhập vào một thế giới khác với
12
trước đây đã sống. Có thể nói nghiên cứu thích ứng văn hóa chiếm một mảng lớn
Khi nghiên cứu về việc hòa nhập của SV trong trường đại học, Chenard (1988),
De Ketele (1993) cho rằng cần chú ý đến các kiểu hình văn hóa khác nhau, một số SV có
thể hòa nhập được vào môi trường học tập ở đại học và rất thành công, còn một số khác
thì không. Các lý do dẫn tới sự không hòa nhập được là do yếu tố sự khác biệt về văn
hóa, các yếu tố chủ quan, các quy định và các yếu tố môi trường sống (đô thị hóa, tệ nạn
xã hội, những luật bất thành văn).[dẫn theo 9].
Còn Tremblay (1992) cho rằng, những chuẩn mực xã hội, những khuôn mẫu,
những giá trị, phong tục, những luật bất thành văn hay không đều tạo ra những rào
cản văn hóa nhất định và gây ra những khó khăn tâm lý trong sự thích ứng của con
người, tác giả nhận xét các yếu tố cấu thành nên thích ứng có ảnh hưởng rất lớn đến
sự thích ứng của con người với môi trường văn hóa.[106].
Với quan niệm, T.G. Stefanenko cho rằng: ‘‘việc tìm kiếm các đặc trưng dân
tộc, trong đó có cả các đặc trưng tâm lý đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn
tới mối quan hệ giữa con người (từ quan hệ giữa các cá nhân đến quan hệ giữa các
quốc gia) thì hoàn toàn cần thiết nghiên cứu khía cạnh tâm lý của yếu tố dân tộc’’.
[dẫn theo 16]. Như vậy, sự thích ứng với môi trường phản ánh những khó khăn tâm
lý mà con người gặp phải khi tham gia vào các mối quan hệ, các đặc trưng tâm lý cá
nhân hay tâm lý dân tộc đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự thích
ứng của cá nhân đó trong môi trường văn hóa mới.
Một số nhà tâm lý đã nghiên cứu sự thích ứng của SV nước ngoài khi
học tập trong môi trường văn hóa mới. Như A. Anumonye (1970) tiến hành
phỏng vấn 150 SV châu Phi học tập ở Anh về những ảnh hưởng của văn hóa
đối với kết quả học tập. Tác giả đã đưa ra hàng loạt những nguyên nhân gây
hẫng hụt đối với SV châu Phi trong môi trường văn hóa mới. Trong nhiều
nguyên nhân, những nguyên nhân về văn hóa chiếm một tỉ lệ lớn. Theo ông,
chính sự không thích ứng với môi trường văn hóa khiến SV châu Phi gặp nhiều
khó khăn trong học tập tại Anh. Và hệ quả của nó là những rắc rối nảy sinh
trong đời sống tâm lý của họ.[85].
số nhà khoa học đang là các nhà giáo ở các cơ sở giáo dục trong cả nước. Có thể
nêu ra đây một số nghiên cứu. Phần dưới đây luận án sẽ trình bày ba hướng nghiên
15
cứu chính là nghiên cứu về thích ứng nghề, thích ứng với hoạt động học tập của học
sinh, sinh viên và thích ứng của học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số.
1.2.1. Hướng nghiên cứu về thích ứng nghề
Với “Nghiên cứu sự thích ứng với học tập và rèn luyện của học viên các
trường sỹ quan quân đội” tác giả Đỗ Mạnh Tôn (1996) đã chỉ ra được cấu trúc ba
thành phần: động cơ học tập và rèn luyện; kỹ năng, kỹ xảo học tập, rèn luyện; thói
quen sinh hoạt, học tập và rèn luyện là các yếu tố giúp cho học viên các trường sỹ
quan quân đội có thể thích ứng tốt với hoạt động học tập. Và cho rằng thích ứng là
một phẩm chất phức hợp và động cơ của nhân cách học viên. [73]
Khi nghiên cứu: “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên trường
Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ Mẫu giáo Trung ương I”, tác giả Nguyễn Thạc (2003)
chỉ ra rằng: SV chưa thích ứng được với việc học là do trình độ học lực, chưa quen
với phương pháp học tập mới, cách giảng dạy của giảng viên và do thay đổi môi
trường học tập. [61]
Trong đề tài: “Phát triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên cao đẳng sư
phạm” tác giả Dương Thị Nga, (2012) đã nhận xét, quá trình thích ứng của SV cao
đẳng sư phạm với nghề dạy học xét đến cùng đó chính là quá trình SV tích cực học
tập, rèn luyện, thay đổi những đặc điểm tâm- sinh lý của bản thân để tiến dần đến sự
phù hợp với nghề dạy học tương lai. [49].
Phân tích sự thích ứng với nghề công tác xã hội cuả SV, tác giả Nguyễn Thị
Hiền (2015), đã nhận xét rằng sự thích ứng đối với việc học nghề là một trong
những tiền đề có tính chất quyết định cho sự thành công của hoạt động cá nhân đối
với nghề nghiệp sau này. Thích ứng với việc học nghề công tác xã hội của SV
không chỉ đơn thuần giúp SV tìm ra phương pháp học tập tốt, thích ứng được với