y
o
c u -tr a c k
.c
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MÃ NGỌC THỂ
THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN DÂN TỘC THIỂU SỐ
VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2016
.d o
m
o
w
w
w
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
Mã số: 62 31 04 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS TRẦN THỊ MINH ĐỨC
HÀ NỘI - 2016
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
LỜI CẢM ƠN
Để có kết quả như ngày hôm nay, với sự kính trọng đặc biệt, tôi xin chân
thành cảm ơn GS. TS. Trần Thị Minh Đức đã đồng ý nhận lời làm người hướng dẫn
khoa học cho tôi mặc dù tôi chưa làm được những điều tốt nhất khiến cô cảm thấy
hài lòng, nhưng GS. TS. Trần Thị Minh Đức đã vẫn vui lòng hướng dẫn và gợi ý
cho tôi những ý tưởng trong quá trình lựa chọn các vấn đề nghiên cứu, tạo điều
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng số liệu
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số lượng
SV
Sinh viên
SV DTTS
Sinh viên dân tộc thiểu số
TB
Trung bình
TBC
Trung bình chung
TƯ
Thích ứng
.d o
m
o
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
Bảng 4.2: Mức độ thích ứng về nhận thức của SV qua các mặt biểu hiện ..........73
Bảng 4.3: Nhận thức của sinh viên về phương pháp giảng dạy không có sự tham
gia ..............................................................................................................................74
Bảng 4.4: Nhận thức của SV về phương pháp giảng dạy có sự tham gia ................75
Bảng 4.5: Thái độ của sinh viên tham gia vào các hoạt động học tập ..................77
Bảng 4.6: Những biểu hiện thái độ của SV tham gia hoạt động học tập.............78
Bảng 4.7: Đánh giá về sự thành thạo các kĩ năng trong quá trình học tập..........84
Bảng 4.8: Xoay thành phần các nhân tố về thích ứng hành vi .............................84
Bảng 4.9: Đánh giá về sự thành thạo các kĩ năng trong quá trình học tập.........85
Bảng 4.10: Sự thích ứng của sinh viên biểu hiện qua nhóm hành vi ...................87
Bảng 4.11: Một số yếu tố có liên quan đến hành vi học tập ở sinh viên ...............89
Bảng 4.12: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt nhận thức .....................92
Bảng 4.13: Thích ứng của SV DTTS qua mặt thái độ (xét theo năm học)................95
Bảng 4.14: Biểu hiện thái độ tương tác của SV trong hoạt động học tập ............97
Bảng 4.15: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt thái độ (xét theo năm học).........98
Bảng 4.16: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt hành vi..........................99
Bảng 4.17: Biểu hiện của nhóm hành vi giao tiếp, ra quyết định và tư duy
tích cực ...................................................................................................................100
Bảng 4.18: Biểu hiện của nhóm hành vi ứng phó và tự kiềm chế ......................101
Bảng 4.19: Sự thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua nhóm hành vi ................102
Bảng 4.20: Thích ứng nhận thức của sinh viên xét theo nhóm dân tộc .............107
Bảng 4.21: Sự thích ứng của các nhóm SV DTTS thể hiện qua mặt thái độ .........108
Bảng 4.22: Thích ứng của SV DTTS biểu hiện qua mặt hành vi .............................110
.d o
m
o
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
DTTS.......................................................................................................... 127
.d o
m
w
o
o
c u -tr a c k
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Thích ứng là phản ứng của con người trước những khó khăn trong cuộc
sống. Con người luôn phải thích ứng với những yếu tố mới xuất hiện, những khó
khăn, biến cố có thể xảy ra trong các mối quan hệ mới, môi trường sống mới, cuộc
sống mới bắt buộc họ phải có khả năng bắt nhịp, ứng phó bằng cách tạo ra những
hành vi hợp lý, sáng tạo ra những phương thức sống mới để đáp lại những thay đổi
nhanh chóng của môi trường. Thích ứng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát
triển của mỗi cá nhân. Nhiều công trình nghiên cứu trước cho thấy, khả năng thích
ứng có vai trò quan trọng giúp tăng năng suất lao động, tạo ra tính hiệu quả trong
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
bao giờ cũng có gắn với yếu tố giao tiếp. Nó là một trong những điều kiện để sinh
viên thích ứng nhanh, hòa nhập tốt với môi trường sống. Các nghiên cứu cũng giúp
cho chúng tôi những ý tưởng trong việc làm rõ thực trạng và đưa ra các biện pháp
cụ thể tác động nâng cao mức độ thích ứng học tập cho SV DTTS.
1.3. Môi trường đại học là môi trường có nhiều khó khăn, luôn tạo ra áp lực
2
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
Khách thể là SV DTTS thuộc các dân tộc điển hình như Tày, H’Mông - Dao
và dân tộc khác đang học từ năm I đến năm III.
3.2.3. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành ở trường Đại học Tân Trào, tỉnh Tuyên Quang.
3
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
- Nguyên tắc hệ thống: Chúng tôi xem xét sự thích ứng của SV DTTS có sự
thống nhất với nhau biểu hiện qua ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi trong các
mối quan hệ tác động qua lại. Trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ hành
vi đồng nhất với thuật ngữ hành động. Vì trong cấu trúc của hoạt động, hành động
được coi là đơn vị nhỏ hơn hoạt động, hành vi ở một nghĩa nào đó được coi là hành
động, đơn vị nhỏ nhất của hoạt động. Cho nên, khi nghiên cứu hành vi thích ứng
của SV DTTS với hoạt động học tập, chúng tôi thống nhất chọn đơn vị nhỏ nhất là
hành vi làm thuật ngữ đại diện. Bản thân nhiều hành vi đồng nhất sẽ tạo ra hành
động, nhiều hành động đồng nhất sẽ tạo ra hoạt động học tập ở SV DTTS.
- Nguyên tắc phát triển: Con người sẽ không thể tồn tại, phát triển được nếu
không có hoạt động - giao tiếp với thế giới xung quanh, với cộng đồng người. Các
4
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1. Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã khái quát được những vấn đề lý luận cơ bản về sự thích ứng,
thích ứng với hoạt động học tập, sinh viên dân tộc thiểu số, khái niệm thích ứng của
SV DTTS với hoạt động học tập; Xác định biểu hiện thích ứng qua ba mặt: nhận
thức, thái độ và hành vi; các tiêu chí đánh giá thích ứng; các yếu tố ảnh hưởng đến
sự thích ứng.
5.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án đã làm sáng tỏ thực trạng thích ứng của SV
DTTS với hoạt động học tập biểu hiện qua ba mặt nhận thức, thái độ và hành vi.
Nghiên cứu cho thấy, mức độ thích ứng học tập của SV DTTS ngày càng được nâng
cao theo thời gian học tập ở mỗi năm học về sau. Luận án chỉ ra các yếu tố chủ
quan (Tính cách cá nhân, Tính tích cực hoạt động và giao tiếp, Ý chí khắc phục khó
khăn) và các yếu tố khách quan (Phương pháp giảng dạy của giảng viên, Các đặc
điểm học tập, Điều kiện sống) ảnh hưởng đến sự không thích ứng của SV DTTS.
5
.d o
m
o
w
w
w
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
động giúp cho sinh viên dân tộc thiểu số thích ứng với hoạt động học tập ngày
một cao hơn.
7. Cơ cấu của luận án
Luận án bao gồm các phần và các chương như sau:
- Mở đầu.
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về thích ứng của sinh viên dân
tộc thiểu số với hoạt động học tập.
- Chương 2: Cơ sở lý luận về thích ứng của sinh viên dân tộc thiểu số với
hoạt động học tập.
- Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn thích ứng của sinh viên dân tộc
thiểu số với hoạt động học tập.
- Kết luận.
- Danh mục công trình đã công bố của tác giả.
- Danh mục tài liệu tham khảo.
- Phụ lục.
6
.d o
m
o
w
w
w
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
người hiện đại, thông minh và có tổ chức cao. Những biến đổi đó phần lớn do con
người biết thích nghi với môi trường sống, cải tổ bản thân để có thể tồn tại và phát
triển được. Trong bản thể con người có hai vấn đề đảm bảo sự tồn tại và phát
triển, đó là thích nghi về mặt sinh học và thích ứng về mặt tâm lý xã hội. Cho nên,
trước tiên cần khẳng định sự thích nghi đã đem lại cho con người một sức sống
trường tồn. Khoa học sinh vật học đã chúng minh điều đó qua thuyết tiến hoá và
tạo ra những ảnh hưởng đến tâm lý học một thời gian dài, đem lại những dữ kiện
sống góp phần cho tâm lý học khẳng định vai trò sự thích ứng tâm lý xã hội của
con người là một phần không thể thiếu trong sự phát triển của cá nhân và xã hội
loài người.
Khái niệm nền tảng của thuyết tiến hoá là khái niệm thích nghi (thích ứng
sinh học) của sinh vật. Jean Lamarck (1809) hiểu bản chất sự thích nghi của sinh
vật với môi trường là sự di truyền các đặc tính tập thành; từ sự quan sát các hoá
thạch, ông đã kết luận rằng các thay đổi của môi trường là nguyên nhân làm cho có
sự thay đổi về cấu trúc nơi các loài thực vật, động vật và khả năng thích nghi được
phát triển trong đời sống của một sinh vật thì được truyền lại cho con cái của sinh
vật ấy.[97].
7
.d o
m
o
w
w
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
trường thì mọi cơ thể đều có một xu thế bẩm sinh để thích ứng với môi trường. Mỗi
thay đổi bên trong của bản thân hay môi trường sẽ dẫn tới tình trạng mất cân bằng.
Khi đồng hoá và điều ứng cân đối với nhau, không cái nào ngự trị cái nào thì đạt
được sự cân bằng (sự thích ứng).[dẫn theo 15].
Theo S. Freud, hành vi sống của con người chủ yếu được thúc đẩy bởi bản
năng (cái Nó), mà bản năng này lại luôn bị chèn ép và cấm đoán bởi những
chuẩn mực, quy tắc xã hội (cái Siêu Tôi). Cái Tôi là cái “thực tại” luôn tìm cách
giải quyết sự xung khắc giữa cái Nó và cái Siêu Tôi. Theo S.Freud, cái Tôi có
nguyên tắc là thích ứng với thực tế; cái Tôi phục vụ cho cái Nó, cái siêu tôi và
môi trường bên ngoài.[dẫn theo 14]
Như vậy, cả J. Piaget và S. Freud đều quan tâm đến trạng thái “cân bằng” và
“mất cân bằng” khi bàn về quá trình thích ứng của con người với môi trường xã hội.
Cả hai ông thống nhất: cân bằng của con người được xem xét từ hai khía cạnh, đó
là cân bằng với môi trường bên ngoài và cân bằng với cái bên trong của bản thân.
Do đó mỗi thay đổi bên trong hay thay đổi của môi trường sẽ dẫn tới sự mất cân
bằng. Đây là đóng góp to lớn của hai ông trong nghiên cứu về thích ứng của con
người. Theo chúng tôi, điểm hạn chế trong lý luận của J. Piaget và S. Freud chính là
xem sự thích ứng của con người như là sự thích ứng thuần tuý sinh học: con người
thụ động trong quá trình thích ứng với môi trường, chịu sự điều khiển hầu như hoàn
toàn bởi các quy luật sinh học.
8
.d o
m
o
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
không học được, hoặc hành vi học được không đáp ứng được yêu cầu của môi
trường, J.Watson (1913) cho rằng, mọi hành vi ứng xử của con người được hình
thành thông qua quá trình học tập và tập nhiễm, là quá trình mà cá nhân học được
những hành vi mới cho phép nó giải quyết những yêu cầu đòi hỏi của cuộc
sống.[108].
Theo Tremblay (1992), sự thích ứng bên trong chính là sự thoải mái, dễ chịu
khi con người được “tự do” bộc lộ bản thân mình; còn sự thích ứng bên ngoài là khi
các cá nhân đáp ứng được các yêu cầu, chuẩn mực xã hội, hoà nhập được với người
xung quanh và môi trường xã hội.[106].
Trong cuốn “Nền sư phạm đại học” tác giả Dupont và Ossandon (1999) đã
tập hợp những chỉ báo về sự thích ứng với hoạt động học tập cho rằng, đối với hoạt
động học tập, cá nhân có nhiều cách hoạt động trí óc cần được xác lập ngay từ bậc
trung học và cần được sử dụng tiếp ở bậc đại học, bở chúng đóng góp cho việc tiếp
cận tri thức một cách năng động.[dẫn theo 44]
Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã đưa ra các khái niệm về thích
nghi sinh học, mối liên quan hoặc chỉ rõ sự khác biệt giữa thích nghi sinh học với
thích ứng tâm lý xã hội. Các tiêu chí có thể xem xét sự thích nghi, thích ứng của cá
nhân với môi trường. Thực tế cho thấy, sự thích ứng có mối liên quan đến khả năng
học tập của con người. Quá trình thích ứng thể hiện ở những phản xạ của con người
khi đáp ứng với môi trường, nếu con người tự do thoải mái thì đáp ứng tốt hoặc qua
học tập, con người có khả năng nhận thức, nắm bắt được các yêu cầu, chuẩn mực
của xã hội thì sẽ nhanh chóng thích nghi và thích ứng. Tuy nhiên, có tác giả vẫn đề
cao vai trò của yếu tố sinh học làm cho tính chủ động tích cực thay đổi của con
9
.d o
m
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
sinh, sinh viên
Nghiên cứu về sự thích ứng với kết quả học tập (xét theo mối quan hệ khác
giới), các nhà tâm lý học người Anh là J. Hopkins, N. Malleson, I. Sarnoff (1957)
đã so sánh mối liên hệ giữa kết quả học tập với quan hệ bạn bè khác giới của sinh
viên nước ngoài học tập ở London, kết quả cho thấy; có (62,7%) sinh viên có bạn
khác giới đạt kết quả học tập tốt, và sinh viên không có bạn khác giới đạt kết quả
học tập kém (68,4%). [95]. Theo các tác giả kết quả này chỉ ra rằng sinh viên có
mối quan hệ giao tiếp với bạn bè hoặc bạn khác giới sẽ thúc đẩy tính tích cực hoạt
động - giao tiếp và đạt kết quả học tập tốt hơn so với những sinh viên không có mối
quan hệ bạn bè khác giới. Những kết quả trên giúp chúng ta nhận thấy rằng nếu sinh
viên phát huy được tính tích cực, hoạt động - giao tiếp sẽ làm tăng khả năng thích
ứng với hoạt động học tập của sinh viên. Rõ ràng giao tiếp có vai trò là điều kiện để
tâm lý con người hình thành, phát triển. Giao tiếp cũng tạo ra nhu cầu, động cơ học
tập tích cực giúp sinh viên đạt kết quả học tập ngày càng cao hơn trước.
Trong tác phẩm “Thích ứng và sức khỏe tâm lý” Abe Arkoff (1968) đã công
bố kết quả nghiên cứu về thích ứng tâm lý, bao gồm cả sự thích ứng học tập của học
sinh và sinh viên. Theo tác giả, sự thích ứng nói chung của con người bao gồm các
chỉ số: Hạnh phúc, sự hài lòng, lòng tự trọng, sự phát triển cá nhân, sự hội nhập cá
nhân, khả năng tiếp xúc với môi trường, sự độc lập với môi trường. [86]. Như vậy,
tác giả đã chỉ ra các chỉ số cụ thể cho thấy con người muốn thích ứng được với cuộc
sống, cần thiết phải có được một số phẩm chất và năng lực ở bản thân có liên qua
đến nhận thức (hạnh phúc, lòng tự trọng ), thái độ (hài lòng, sự phát triển cá nhân)
và có những hành vi - hành động (sự độc lập, khả tiếp xúc với môi trường). Quan
điểm này đã đem đến cho chúng tôi những gợi ý khi xem xét sự thích ứng của sinh
viên DTTS với hoạt động học tập ở phần xây dựng những biểu hiện của khía cạnh
biểu hiện của sự thích ứng.
10
.d o
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
Trên cơ sở nghiên cứu quá trình hình thành hoạt động học tập của các SV
thuộc khoa Tâm lý học – trường Đại học tổng hợp Matxcova năm 1971, A.I.
Alaudie và A.L. Meseracov đã đi kết luận: Việc thích ứng của SV đại học với hoạt
động học tập thực chất là khả năng tổ chức quá trình nghiên cứu phát triển của
người học, tiếp cận được với hệ thống tri thức và kinh nghiệm xã hội lịch sử. [dẫn
theo 13]. Rõ ràng quan điểm của hai tác giả trên cho thấy, hoạt động học tập của SV
luôn gắn liền với việc làm thế nào để SV tiếp cận được tri thức, kinh nghiệm và
phát triển được bản thân trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập trong
trường đại học. Bất cứ SV nào tham gia vào các hoạt động mà không đạt được 3
yếu tố đó, có nghĩa là mục đích, nội dung dạy học không đạt được yêu cầu cơ bản.
Nghiên cứu thích ứng học tập của sinh viên, A.V.Petrovxki và các đồng
nghiệp (1986) quan niệm rằng, thích ứng học tập của SV là một quá trình phức tạp,
diễn ra ở nhiều mặt như: 1/Thích nghi với hệ thống học tập mới; 2/Thích nghi với
chế độ làm việc và nghỉ ngơi; 3/Thích nghi với các mối quan hệ mới.[dẫn theo 14].
Tiếp cận vấn đề thích ứng học tập của SV thông qua hệ thống các tác động
hình thành các kỹ năng học tập ở trường Đại học tại Hoa kỳ, B.P. Allen (1990) đã
chỉ ra rằng điều kiện cơ bản của sự thích ứng học tập của SV là hình thành ở họ các
nhóm kỹ năng:
1/ Sử dụng quỹ thời gian cá nhân;
2/ Kỹ năng hình thành các hành động học tập và phảm chất khác (như tâm
thế, sự lựa chọn các hình thức, nội dung học tập;
3/ Kỹ năng làm chủ các cảm xúc tiêu cực;
4/Kỹ năng chủ động luyện tập và hình thành các thói quen hành vi mang
tính nghề nghiệp.[87].
Như vậy, sự thích ứng (hay không thích ứng của SV được giải thích chủ yếu
do SV có (hay thiếu) một số kỹ năng nào đó, mà ít chú ý đến khía cạnh tổ chức
trong hệ thống giáo dục của trường đại học, cao đẳng.
Nghiên cứu về mối quan hệ bạn bè của trẻ vị thành niên 10-11 tuổi ảnh
hưởng đến thành tích học tập, thái độ và hành vi ứng xử của các em, tác giả
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
.c
P.Zettergren (2003) thuộc Đại học Stockholm Thụy Điển nhận định rằng: Thành
tích học tập và mức độ trí thông minh của các em bị bạn bè hắt hủi là kém hơn so
với các em khác. Như vậy, do những ảnh hưởng của mối quan hệ bạn bè không
được thuận lợi dẫn đến việc thích ứng với hoạt động học tập ở các em bị ảnh
hưởng rõ ràng.
Trong đề tài: “Sự thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập trong nhà
trường sư phạm: những khó khăn, các vấn đề và con đường giải quyết chúng” tác giả
Volgina T.Iu (2007) chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích ứng là: Nguồn gốc
xuất thân, lứa tuổi và giới tính. Volgina T.Iu nghiên cứu theo các hướng: 1. Sự đánh
giá của SV về những kỹ xảo nhận được trong nhà trường đối với nghề nghiệp tương
lai; Sự hiểu biết của SV năm thứ nhất về nghề nghiệp tương lai; 3. Quan niệm của
SV về nghề nghiệp tương lai.[107].
Nghiên cứu về: “Ảnh hưởng của những đặc điểm trí tuệ đến sự thích ứng
với hoạt động học của sinh viên trường đại học kỹ thuật” trên SV năm thứ nhất
các trường đại học kỹ thuật, A.E Piskun (2011) cho rằng, khó khăn trong quá trình
thích ứng của SV với hoạt động học tập không chỉ liên quan đến xúc cảm, tình
cảm hay môi trường giao tiếp mà nó còn liên quan đến những hạn chế trong sự
phát triển trí tuệ, đặc biệt liên quan đến tư duy lôgic, không gian và kỹ thuật.[102].
1.1.3. Hướng nghiên cứu về thích ứng với môi trường đại học
Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng nhất định
nào đó từ môi trường văn hóa mà mình đã gắn bó trong một quãng thời gian nào
đấy. Sự ảnh hưởng của văn hóa dù theo chiều hướng xấu hay tích cực nó cũng tạo
ra những thách thức, các khó khăn để con người phải thích nghi với những biến đổi
của sự phát triển văn hóa. Đặc biệt sự di chuyển từ môi trường sống này sang môi
trường sống khác cũng tạo ra hàng loạt các vấn đề xã hội, các bất đồng và xung đột
văn hóa, từ đó nảy sinh các vấn đề tâm lý do con người không thể thích nghi và
thích ứng kịp với văn hóa nơi mà mình sẽ sống lâu dài. Sự va chạm giữa các nhóm
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
o
c u -tr a c k
.c
trước đây đã sống. Có thể nói nghiên cứu thích ứng văn hóa chiếm một mảng lớn
trong hệ thống các nghiên cứu về thích ứng.
Khái niệm “sốc văn hóa” được Nhà nhân chủng học Mỹ, K. Oberg (1960)
nhắc đến khi ông cho rằng, con người gia nhập vào một nền văn hóa mới kèm theo
những vấn đề về sức khỏe tinh thần, những cảm xúc tiêu cực: cảm giác đánh mất
bạn bè, địa vị, không thoải mái, sự khó khăn trong định hướng giá trị và mâu thuẫn
nội tâm [100]. Điều đó cho thấy, con người khi gia nhập vào môi trường mới khó có
thể hòa nhập, thích ứng một cách dễ dàng với những giá trị khác biệt mà bản thân
gặp phải. Ít nhiều, sự khác biệt tạo ra rào cản làm cho con người khó thích ứng được
nếu như không trải qua một thời gian làm quen, thâm nhập, cải biến bản thân.
Vấn đề sốc văn hóa sau đó được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, chẳng
hạn như: P.S. Adler, E. H. Jacobson, A.C. Garza – Guerrero… và mặc dù, mỗi tác
giả đưa ra những giai đoạn khác nhau của sốc văn hóa nhưng họ đều cho rằng triệu
chứng của sốc văn hóa rất đa dạng: từ sự bất an thường xuyên về chất lượng thực
phẩm, nước uống, điều kiện vệ sinh, sợ tiếp xúc với người khác, mất ngủ, thiếu tự
tin [84], [93].
Từ các nghiên cứu của Zarka (1976) tại Đại học RenĐ – Descartes (Paris),
Sheldon (1982) cho thấy, SV sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi gia nhập môi trường
sống mới ở đại học. Những quy định về học tập, những khác biệt về cách học, sự
thay đổi lối sống sinh hoạt cũng là một trong những tác nhân gây nên sự khó khăn
tâm lý, làm cho SV có thể khó hòa nhập, không thích ứng được với môi trường đại
học. Những SV không thích nghi được quy định, chuẩn mực ở môi trường mới và
không có những thay đổi ở bản thân để thích ứng được với các hoạt động học tập
trong nhà trường sẽ gặp phải khó khăn, đặc biệt có nhiều trường hợp SV không
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
y
o
c u -tr a c k
.c
Khi nghiên cứu về việc hòa nhập của SV trong trường đại học, Chenard (1988),
De Ketele (1993) cho rằng cần chú ý đến các kiểu hình văn hóa khác nhau, một số SV có
thể hòa nhập được vào môi trường học tập ở đại học và rất thành công, còn một số khác
thì không. Các lý do dẫn tới sự không hòa nhập được là do yếu tố sự khác biệt về văn
hóa, các yếu tố chủ quan, các quy định và các yếu tố môi trường sống (đô thị hóa, tệ nạn
xã hội, những luật bất thành văn).[dẫn theo 9].
Còn Tremblay (1992) cho rằng, những chuẩn mực xã hội, những khuôn mẫu,
những giá trị, phong tục, những luật bất thành văn hay không đều tạo ra những rào
cản văn hóa nhất định và gây ra những khó khăn tâm lý trong sự thích ứng của con
người, tác giả nhận xét các yếu tố cấu thành nên thích ứng có ảnh hưởng rất lớn đến
sự thích ứng của con người với môi trường văn hóa.[106].
Với quan niệm, T.G. Stefanenko cho rằng: ‘‘việc tìm kiếm các đặc trưng dân
tộc, trong đó có cả các đặc trưng tâm lý đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn
tới mối quan hệ giữa con người (từ quan hệ giữa các cá nhân đến quan hệ giữa các
quốc gia) thì hoàn toàn cần thiết nghiên cứu khía cạnh tâm lý của yếu tố dân tộc’’.
[dẫn theo 16]. Như vậy, sự thích ứng với môi trường phản ánh những khó khăn tâm
lý mà con người gặp phải khi tham gia vào các mối quan hệ, các đặc trưng tâm lý cá
nhân hay tâm lý dân tộc đóng một vai trò quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến sự thích
ứng của cá nhân đó trong môi trường văn hóa mới.
Một số nhà tâm lý đã nghiên cứu sự thích ứng của SV nước ngoài khi
học tập trong môi trường văn hóa mới. Như A. Anumonye (1970) tiến hành
phỏng vấn 150 SV châu Phi học tập ở Anh về những ảnh hưởng của văn hóa
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
Tóm lại, những nghiên cứu đa dạng trên cho thấy những khía cạnh khác nhau
của đời sống tâm lý con người khi chuyển sang môi trường văn hóa khác với những
chuẩn mực đã có làm cho cá nhân có thể bỏ dở học tập (với sinh viên) hoặc không
hòa nhập được với các phong tục, truyền thống và văn hóa, các rào cản, những
khuôn mẫu hay luật bất thành văn là những nguyên nhân văn hóa khiến cho cá nhân
không thích ứng với môi trường sống mới đã dẫn đến những hậu quả tiêu cực trong
đời sống và hoạt động của con người.
Khái quát các công trình nghiên cứu thích ứng trên thế giới của những nhà
khoa học đã đem đến cho chúng tôi những thông tin quan trọng và bổ ích. Các công
trình nghiên cứu nước ngoài được tiến hành trên SV nước ngoài tới học tập tại các
quốc gia khác. Những SV này có thể được xem là là nhóm SV “thiểu số” tại các
nước bản địa và vì thế có thể có những đặc tính giống với sự mô tả về SV DTTS
(khác về văn hóa, khác về ngôn ngữ, khác về giá trị và chuẩn mực…). Các tác giả
nước ngoài đã nghiên cứu khá nhiều khía cạnh của thích ứng trong học tập, trong đó
luôn đề cập đến vấn đề lý luận chung về thích ứng, kĩ năng giải quyết vấn đề, mối
quan hệ với bạn bè, những khó khăn mà SV sẽ gặp phải trong môi trường giao tiếp
ở đại học, chỉ ra nhiều yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến quá trình
thích ứng của học sinh, SV đồng thời đưa ra các biện pháp giúp học sinh, SV nhanh
chóng thích ứng với môi trường có nhiểu biến động. Các công trình nghiên cứu về
thích ứng của SV nói trên đã gợi ý cho chúng tôi những hướng nghiên cứu thích
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
cứu chính là nghiên cứu về thích ứng nghề, thích ứng với hoạt động học tập của học
sinh, sinh viên và thích ứng của học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số.
1.2.1. Hướng nghiên cứu về thích ứng nghề
Với “Nghiên cứu sự thích ứng với học tập và rèn luyện của học viên các
trường sỹ quan quân đội” tác giả Đỗ Mạnh Tôn (1996) đã chỉ ra được cấu trúc ba
thành phần: động cơ học tập và rèn luyện; kỹ năng, kỹ xảo học tập, rèn luyện; thói
quen sinh hoạt, học tập và rèn luyện là các yếu tố giúp cho học viên các trường sỹ
quan quân đội có thể thích ứng tốt với hoạt động học tập. Và cho rằng thích ứng là
một phẩm chất phức hợp và động cơ của nhân cách học viên. [73]
Khi nghiên cứu: “Sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên trường
Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ Mẫu giáo Trung ương I”, tác giả Nguyễn Thạc (2003)
chỉ ra rằng: SV chưa thích ứng được với việc học là do trình độ học lực, chưa quen
với phương pháp học tập mới, cách giảng dạy của giảng viên và do thay đổi môi
trường học tập. [61]
Trong đề tài: “Phát triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên cao đẳng sư
phạm” tác giả Dương Thị Nga, (2012) đã nhận xét, quá trình thích ứng của SV cao
đẳng sư phạm với nghề dạy học xét đến cùng đó chính là quá trình SV tích cực học
lic
k
to
bu
y
bu
to
k
lic
C
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
er
F-
c u -tr a c k
.c