Đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch biển tại đảo bình ba tỉnh khánh hòa - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN HOÀNG HƯNG

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ DU LỊCH BIỂN
TẠI ĐẢO BÌNH BA – TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2015
i


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN HOÀNG HƯNG

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ DU LỊCH BIỂN
TẠI ĐẢO BÌNH BA – TỈNH KHÁNH HÒA

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Ngành đào tạo: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60340102
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. TS. Phạm Xuân Thủy
2. ThS. Võ Hải Thủy

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG


ích, những kiến thức cần thiết để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Thật thiếu sót khi không nhắc đến các đáp viên, những người đã nhiệt tình tham
gia cuộc khảo sát của tôi. Xin gửi lời cảm ơn đến các du khách từng du lịch tại Bình
Ba đã giúp tôi hoàn thành cuộc khảo sát. Xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến toàn thể
người dân trên đảo Bình Ba cùng Ủy ban nhân dân xã Cam Bình đã giúp đỡ tôi rất
nhiều trong chuyến đi khảo sát thực tế phục vụ cho đề tài.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Hoàng Hưng

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC..................................................................................................................iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT................................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG .................................................................................................vii
DANH MỤC HÌNH..................................................................................................viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN..........................................................................................ix
MỞ ĐẦU..................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài...........................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu .........................................................................................3

1.3. Mô hình nghiên cứu chất lượng điểm đến du lịch ................................................23
1.3.1. Mô hình SERVQUAL...............................................................................23
1.3.2. Mô hình SERVPERF ................................................................................24
1.3.3. Mô hình về mối quan hệ nhân quả giữa sự cảm nhận chất lượng với sự hài
lòng của khách hàng ..................................................................................................27
1.3.4. Mô hình đánh giá chất lượng điểm đến Nerja, Tây Ban Nha .....................27
1.3.5. Mô hình nghiên cứu đề nghị......................................................................29
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................................................... 32
2.1. Quy trình thực hiện nghiên cứu ...........................................................................32
2.2. Xử lý và phân tích dữ liệu ...................................................................................35
2.2.1. Thống kê mô tả .........................................................................................35
2.2.2. Kiểm định thang đo...................................................................................35
2.2.3. Phân tích nhân tố ......................................................................................36
2.2.4. Phân tích hồi quy tương quan....................................................................38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................... 41
3.1. Thực trạng phát triển du lịch tại đảo Bình Ba ......................................................41
3.1.1. Giới thiệu khái quát về đảo Bình Ba ..........................................................41
3.1.2. Tình hình phát triển du lịch tại đảo Bình Ba ..............................................42
3.1.2.1. Số lượng khách ......................................................................................................42
3.1.2.2. Cơ sở kinh doanh du lịch......................................................................................43
3.1.3. Những tác động của việc phát triển du lịch đảo Bình Ba............................44
3.1.3.1. Tác động của việc phát triển du lịch đến kinh tế của đảo Bình Ba.................45
3.1.3.2. Tác động của việc phát triển du lịch đến văn hóa, xã hội tại đảo Bình Ba ....46
3.1.3.3. Tác động của việc phát triển du lịch đến môi trường của đảo Bình Ba.........46
3.2. Kết quả khảo sát khách du lịch............................................................................47
3.2.1. Thông tin nhân khẩu học ...........................................................................47
3.2.2. Những yếu tố khách quan tâm khi lựa chọn điểm du lịch trong nước.........50
3.2.3. Kênh thông tin tiếp cận và lý do du khách lựa chọn Bình Ba .....................51
iv


PHỤ LỤC

v


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVHTTDL: Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
EFA (Exploration Factor Analysis): Phân tích nhân tố khám phá
SPSS (Statistical Package for Social Sciences): Phần mềm xử lý số liệu thống kê dùng
trong các ngành khoa học xã hội

vi


DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Số lượng khách và doanh thu du lịch tại Bình Ba từ 2012 đến tháng 9/2015...... 42
Bảng 3.2: Số lượng cơ sở dịch vụ du lịch tại đảo Bình Ba..........................................43
Bảng 3.3: Tác động của việc phát triển du lịch Bình Ba đến Kinh tế..........................45
Bảng 3.4: Tác động của việc phát triển du lịch Bình Ba đến văn hóa, xã hội..............46
Bảng 3.5: Tác động của việc phát triển du lịch Bình Ba đến môi trường ....................47
Bảng 3.6: Cơ cấu mẫu theo giới tính ..........................................................................47
Bảng 3.7: Cơ cấu mẫu theo trình độ học vấn..............................................................48
Bảng 3.8: Cơ cấu mẫu theo nghề nghiệp ....................................................................49
Bảng 3.9: Cơ cấu mẫu theo thu nhập bình quân hàng tháng .......................................49
Bảng 3.10: Những yếu tố khách quan tâm khi lựa chọn điểm du lịch trong nước .......50
Bảng 3.11: Kênh thông tin tiếp cận và lý do du khách lựa chọn Bình Ba ...................51
Bảng 3.12: Hình thức du lịch, thời gian lưu trú và mức chi tiêu tại Bình Ba...............52
Bảng 3.13: Mức độ hài lòng của khách về Bình Ba....................................................53
Bảng 3.14: Điểm đánh giá trung bình về khả năng tiếp cận........................................54

Hình 3.3 : Nhà hàng nổi và món tôm hùm đặc sản Bình Ba ........................................................44
Hình 3.4: Cơ cấu mẫu theo độ tuổi................................................................................................48
Hình 3.5: Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ du lịch tại đảo Bình Ba.......................65
Hình 3.6: Mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ cảm nhận của du khách đối với Bình Ba.........69

viii


TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Hòa cùng công cuộc phát triển kinh tế của đất nước, nền kinh tế du lịch Khánh
Hòa đang ngày một khởi sắc. Kể từ năm 2011, trong địa bàn tỉnh nổi bật lên địa danh
đảo Bình Ba được rất nhiều du khách biết đến. Bình Ba là một đảo nhỏ diện tích trên 3
km² thuộc xã Cam Bình, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Bình Ba được du
khách biết đến với vẻ đẹp hoang sơ, các bãi tắm đẹp cùng sự phong phú của các loại
hải sản. Đảo có ba bãi biển đẹp nhất là bãi Chướng, bãi Nồm và bãi Nhà Cũ. Tại đây
còn rất nhiều di tích chiến tranh có từ trước 1975. Số lượt du khách đến đảo Bình Ba
tăng theo từng năm. Cụ thể, theo số liệu thống kê thu thập từ Ủy ban nhân dân xã Cam
Bình thì số lượt khách đến Bình Ba năm 2012 khoảng 25.000 người. Tuy nhiên đến
năm 2015, thống kê số lượt khách của 9 tháng đầu năm đã đạt khoảng 55.000 lượt
khách. Lượng du khách tăng lên nhanh khiến cho đa số người dân Bình Ba chuyển
hướng kinh tế từ đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản sang kinh doanh du lịch. Hoạt động
kinh doanh du lịch tại Bình Ba hiện nay chủ yếu theo hình thức tự phát, chưa có quy
hoạch tổng thể từ chính quyền. Việc phát triển du lịch như trên sẽ gây ra nhiều tác
động đến kinh tế, văn hóa – xã hội và môi trường trên đảo. Vì vậy, việc nghiên cứu,
đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch biển tại đảo Bình Ba là hành động cần thiết phải
làm nhằm đánh giá thực trạng du lịch đảo Bình Ba, từ đó đưa ra những giải pháp góp
phần khắc phục những hạn chế, giúp du lịch Bình Ba phát triển bền vững hơn.
Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng dịch vụ du lịch biển
tại Bình Ba thời gian qua, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các dịch vụ

hiệu chỉnh lại trước khi khảo sát chính thức.
Kết quả nghiên cứu: Số mẫu khảo sát hợp lệ được đưa vào nghiên cứu là 160
mẫu, được phân bổ theo các tiêu chí :giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp
và thu nhập bình quân hàng tháng. Tác giả thực hiện khảo sát và thiết lập 42 biến quan
sát liên quan đến chất lượng dịch vụ du lịch biển tại đảo Bình Ba. Kết quả phân tích
nhân tố đã khám phá ra 7 nhóm nhân tố mới, đó là cảnh quan môi trường, chất lượng
dịch vụ mua sắm, chất lượng dịch vụ ăn uống, chất lượng dịch vụ vui chơi giải trí trên
đảo, khả năng tiếp cận đảo Bình Ba, cộng đồng địa phương và khả năng cung ứng của
dịch vụ lưu trú. Kết quả phân tích hồi quy tương quan đã cho thấy các nhóm nhân tố
mới thực sự tác động có ý nghĩa đến chất lượng dịch vụ du lịch biển tại đảo Bình Ba.
Căn cứ vào hệ số β chuẩn hóa của phương trình hồi quy thì 4 nhóm nhân tố có tác
động mạnh mẽ nhất đến chất lượng dịch vụ du lịch đảo Bình Ba, bao gồm: Chất lượng
dịch vụ ăn uống (β = 0,219); Khả năng tiếp cận đảo Bình Ba (β = 0,178) ; Khả năng
cung ứng của dịch vụ lưu trú (β = 0,146) và Cảnh quan môi trường (β = 0,144)
Từ khóa : du lịch Bình Ba, chất lượng dịch vụ du lịch biển, chất lượng dịch vụ cảm
nhận

x


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khánh Hòa là một tỉnh ven biển thuộc miền duyên hải Nam Trung Bộ, được ví
như hình ảnh Việt Nam thu nhỏ với nhiều tài nguyên du lịch phong phú. Theo tinh
thần nghị quyết số 27/2007/NQ-CP ngày 30/5/2007 của Chính phủ nhằm thực hiện
Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về chiến lược
biển Việt Nam đến năm 2020, việc phát triển du lịch biển là nhiệm vụ quan trọng mà
các tỉnh ven biển cần thực hiện, trong đó có Khánh Hòa. Vì vậy Khánh Hòa cần chú ý
và khai thác triệt để hơn nữa các tài nguyên du lịch, đặc biệt là du lịch biển đảo. Ngày
27/08/2013 Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã ban hành Quyết định số 2117/QĐUBND về việc bổ sung chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết hội

hoạch một cách có hệ thống. Đây là điểm hạn chế của hoạt động du lịch tại Bình Ba.
Việc kinh doanh một cách bùng phát khiến chính quyền địa phương khó kiểm soát, từ
đó dẫn đến việc không đảm bảo sức chứa và chất lượng dịch vụ cho du khách vào
những mùa cao điểm. Gần đây nhất, hiện tượng khiến chúng ta phải chú ý đến Bình Ba
là dấu hiệu ô nhiễm môi trường. Đây là nhát dao đâm vào tương lai của người dân
Bình Ba vì người dân Bình Ba chủ yếu sống bằng nghề nuôi trồng và khai thác thủy
hải sản, đặc biệt là tôm hùm – một loại tôm rất nhạy cảm với nguồn nước bị ô nhiễm.
Việc quá chú trọng vào hoạt động du lịch với lợi nhuận trước mắt, người dân Bình Ba
đã và đang dần phá hỏng đi sự phát triển của cả đảo trong tương lai. Nếu hoạt động du
lịch tại Bình Ba không được quan tâm và đầu tư một cách đúng mức dưới sự hợp tác
chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, người dân địa phương, các nhà kinh doanh du lịch
và du khách thì tương lai của người dân Bình Ba đang thực sự bị đe dọa.
Trước những vấn đề đang xảy đến với Bình Ba, cùng với mong muốn nâng cao
chất lượng dịch vụ du lịch cũng như nâng cao đời sống kinh tế của người dân, đóng
góp vào sự phát triển chung của du lịch tỉnh Khánh Hòa, tác giả nhận thấy được sự cần
thiết phải đánh giá đúng thực chất chất lượng dịch vụ du lịch tại Bình Ba, xác định
được các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ du lịch biển tại đảo
Bình Ba. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp giúp du lịch Bình Ba ngày càng phát
triển hơn. Dựa trên những cơ sở trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Đánh giá chất lượng
dịch vụ du lịch biển tại đảo Bình Ba – tỉnh Khánh Hòa”.

2


2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng dịch vụ du lịch biển tại Bình Ba thời gian
qua, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch tại
đảo Bình Ba – tỉnh Khánh Hòa.
2.2. Mục tiêu cụ thể

 Giới thiệu các mô hình nghiên cứu liên quan đến đánh giá chất lượng dịch vụ
du lịch biển tại Bình Ba.
5.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu phản ánh thực trạng phát triển dịch vụ du lịch biển tại đảo
Bình Ba trong những năm qua, cũng như mức độ tác động của từng tiêu chí đến chất
lượng nhận thức của khách du lịch về đảo Bình Ba. Trên cơ sở này, tác giả đề xuất một
số các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch biển tại đảo Bình Ba.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận văn gồm bốn
chương:
 Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ du lịch
 Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
 Chương 3: Kết quả nghiên cứu
 Chương 4: Kết luận và kiến nghị.

4


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Lý luận chung về du lịch
1.1.1. Khái niệm về du lịch
Cùng với sự phát triển của xã hội, con người càng ngày phải đối mặt nhiều hơn
với những áp lực cuộc sống. Cuộc sống “con trâu đi trước cái cày” đã không còn phù
hợp, thay vào đó là những công việc đòi hỏi tính chuyên môn, sáng tạo và tính chính
xác cao. Điều đó gây ra áp lực cho con người và họ ngày càng có xu hướng muốn
được nghỉ ngơi cũng như hưởng thụ trọn vẹn những ngày nghỉ của mình. Nguyên nhân
này càng khẳng định được sự cần thiết của du lịch đối với cuộc sống. Ngày nay, du
lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát
triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên cho đến

Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005 (ban hành ngày
14/6/2005) thì du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Như vậy, có khá nhiều khái niệm về du lịch, tuy nhiên, trong phạm vi đề tài này,
nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng khái niệm của Luật du lịch Việt Nam năm 2005 để làm
cơ sở phân tích các nội dung trong phạm vi nghiên cứu của đề tài.
1.1.2. Sản phẩm du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới cũng như ở
Việt Nam. Du lịch chính là một ngành kinh tế dịch vụ và sản phẩm du lịch có thể được
hiểu là sản phẩm dịch vụ. Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du
khách, được tạo nên bởi sự kết hợp của việc khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với
việc sử dụng các nguồn lực: cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, vùng
hay một quốc gia nào đó (Đính & Hòa, 2008).
Theo Điều 4, Chương I, Luật du lịch Việt Nam năm 2005 (ban hành ngày
14/6/2005), sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của
khách du lịch trong chuyến đi du lịch.
Sản phẩm đặc trưng của du lịch là các chương trình du lịch. Nội dung chủ yếu
của nó là sự liên kết những di tích lịch sử, di tích văn hóa và cảnh quan thiên nhiên nổi
tiếng cùng với cơ sở vật chất - kỹ thuật như cơ sở lưu trú, ăn uống, vận chuyển.
Sản phẩm du lịch mang một phần lớn yếu tố vô hình trong cấu tạo của nó nên sản
phẩm du lịch không mang tính cụ thể rõ ràng, không tồn tại dưới dạng vật chất. Điều
này là do bởi trong một sản phẩm du lịch thì yếu tố dịch vụ thường chiếm từ 80% 90% giá trị, còn hàng hóa chỉ chiếm một tỉ trọng thấp. Xét trên quá trình sử dụng sản
phẩm của khách du lịch thì sản phẩm du lịch là tổng hợp của những thành phần cơ bản
6


sau: dịch vụ vận chuyển; dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống; dịch vụ tham quan, giải trí;
hàng hoá tiêu dùng và đồ lưu niệm; và các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch.
Sản phẩm du lịch không thể di chuyển được bởi vì sản phẩm du lịch thường gắn

1.1.3. Các loại hình du lịch
1.1.3.1. Khái niệm loại hình du lịch
Con người đưa ra quyết định thông qua rất nhiều yếu tố: nhu cầu, động cơ, thị
hiếu, tình cảm, v.v… Những yếu tố này không cố định mà thường xuyên thay đổi theo
thời gian. Do đó, việc phân loại thành các loại hình du lịch dựa theo đặc điểm, sở
thích, nhu cầu của du khách là rất cần thiết. Nó giúp cho các nhà quản lý vĩ mô cũng
như các nhà quản trị doanh nghiệp có thể đưa ra được những chính sách và định hướng
phù hợp cho từng thời kỳ phát triển của ngành du lịch.
Theo tác giả Nguyễn Bá Lâm thì việc xác định các loại hình du lịch thường căn
cứ vào nhu cầu của thị trường và trên cơ sở của tài nguyên du lịch có khả năng khai
thác và các điều kiện phát triển du lịch. Mục đích của việc xác định các loại hình du
lịch nhằm vào việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia, của địa
phương và định hướng chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp du lịch (Nguyễn
Bá Lâm, 2007).
Theo tác giả Trương Sĩ Quý thì loại hình du lịch được hiểu là một tập hợp các
sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu
cầu, động cơ du lịch tương tự, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì
chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc được xếp chung
theo một mức giá bán nào đó (Hồ Kì Minh & Trương Sỹ Quý, 2012).
1.1.3.2. Các loại hình du lịch
Việc phân loại các loại hình du lịch căn cứ vào những tiêu thức cơ bản sau:
a. Căn cứ vào phạm vi địa lý lãnh thổ
 Du lịch nội địa: là khách du lịch thực hiện chuyến đi du lịch trong phạm vi
quốc gia của mình. Ví dụ: người Việt Nam đi du lịch trong các điểm du lịch ở trong
nước như: Hạ Long, Nha Trang, Mũi Né, v.v… Người nước ngoài làm việc tại các tổ
chức quốc tế, cơ quan đại diện của nước ngoài ở Việt Nam đều được tính là khách du
lịch nội địa nếu họ nghỉ qua đêm tại nơi đến du lịch, còn lại là khách tham quan.
 Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của du
khách nằm ở các vùng lãnh thổ quốc gia khác nhau. Có hai loại hình du lịch quốc tế là:
+ Du lịch quốc tế chủ động hay còn gọi là xuất khẩu dịch vụ: là việc đón khách

cuộc sống. Việc hành hương đến địa điểm có ý nghĩa về tâm linh kết hợp với mục đích
du lịch cũng là sự lựa chọn của nhiều du khách.
 Du lịch giải trí: Là loại hình du khách đi du lịch với mục đích chính là giải trí
tại các địa điểm trình chiếu, biểu diễn nghệ thuật (các nhà hát, rạp chiếu phim), các vũ
trường, các casino, v.v…
 Du lịch mạo hiểm: Là loại hình du lịch giành cho những người yêu thích mạo
hiểm, ví dụ: trèo núi cao (Francifang, Everet, v.v…), vượt thác, vượt đại dương, v.v…
9


 Du lịch sinh thái: Là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn
hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững. Khách du
lịch lựa chọn loại hình du lịch này nhằm thưởng thức phong cảnh thiên nhiên đẹp đẽ
và trở về với đời sống tự nhiên hoang dã.
c. Căn cứ việc sử dụng các phương tiện vận chuyển khách du lịch.
 Căn cứ việc sử dụng phương tiện vận chuyển khách du lịch tới điểm du lịch:
+ Du lịch bằng hàng không.
+ Du lịch bằng đường bộ.
+ Du lịch bằng đường sắt.
+ Du lịch bằng tàu biển.
+ Du lịch bằng tàu thuỷ.
 Căn cứ vào việc khách du lịch sử dụng phương tiện vận chuyển tại điểm đến
du lịch thì có ô tô, xe kéo bằng động vật, xe điện, cáp treo, v.v…
d. Căn cứ theo hình thức tổ chức chuyến đi:
 Du lịch theo đoàn: Các thành viên tham dự đi theo đoàn và thường theo một
chương trình đã được dự trù trước. Du lịch theo đoàn có thể thông qua các tổ chức du
lịch như: các doanh nghiệp lữ hành, các cơ sở lưu trú; hoặc có thể tự tổ chức mà không
thông qua các đơn vị kinh doanh du lịch.
 Du lịch cá nhân: Cá nhân có thể thông qua các tổ chức kinh doanh du lịch để
thực hiện chuyến hành trình hoặc cũng có thể đi tự do.

mối quan hệ, thông tin kinh tế, kỹ thuật gắn với mối quan hệ đó trong lĩnh vực du lịch
(Nguyễn Văn Lưu, 2008).
Thị trường du lịch không đồng nhất, mà bao gồm nhiều loại. Trong hoạt động
marketing du lịch của các doanh nghiệp, các nhà kinh tế thường dựa vào một số tiêu
thức thông dụng như địa lý chính trị, không gian của cung - cầu, thực trạng thị trường,
thời gian, loại hình, dịch vụ du lịch, v.v… để phân loại thị trường du lịch.
1.1.5. Khách du lịch
Tại Điều 4, Luật du lịch Việt Nam, 2005 định nghĩa: “Khách du lịch là người đi
du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để
nhận thu nhập ở nơi đến”. Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du
lịch quốc tế, trong đó:
 Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
 Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt
Nam ra nước ngoài du lịch.
Ngoài ra có thể liệt kê một số khái niệm khác về các loại du khách như:
11


 Khách thăm viếng (Visitor) là một người đi tới một nơi – khác với nơi họ
thường trú, với một lý do nào đó (ngoại trừ lý do đến để hành nghề và lĩnh lương từ
nơi đó). Định nghĩa này có thể được áp dụng cho khách quốc tế (international visitor)
và du khách trong nước (domestic visitor).
Khách thăm viếng được chia thành hai loại:
+ Khách du lịch (Tourist) là khách thăm viếng có lưu trú tại một quốc gia hoặc
một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với mục
đích nghĩ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, tôn giáo, thể thao.
+ Khách tham quan (Excursionist) còn gọi là khách thăm viếng 1 ngày (day
visitor), là loại khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào đó dưới 24 giờ và không lưu

vấn du lịch nhằm hưởng hoa hồng. Đối với khách du lịch, đại lý lữ hành như một
người trung gian, thay mặt khách hàng sắp xếp mọi thứ từ vé tàu xe, khách sạn, đồ ăn,
các dịch vụ khác. Có thể coi đại lý lữ hành là một chuyên gia tư vấn về du lịch vì họ
hiểu tường tận các chi tiết vốn có trong du lịch mà khách không thể biết hết được.
Cách phân định như trên chỉ mang tính chất tương đối. Trên thực tế, các công ty
lữ hành du lịch có rất nhiều loại khác nhau, với những hoạt động phong phú, đa dạng,
phức tạp và biến đổi không ngừng theo sự phát triển của hoạt động du lịch.
1.1.6.2. Cơ sở lưu trú
Theo khoản 12, điều 4, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, cơ sở lưu trú du lịch là
cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch vụ khác phục vụ khách lưu trú,
trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu. Qua đó, ta có thể hiểu hoạt động
kinh doanh cơ sở lưu trú là hoạt động kinh doanh các dịch vụ cho thuê buồng ngủ, ăn
uống và các dịch vụ khác của cơ sở lưu trú nhằm thoả mãn các nhu cầu về lưu trú tạm
thời của khách tại các điểm du lịch với mục đích thu lợi nhuận.
Để đáp ứng nhu cầu về lưu trú của khách du lịch, các doanh nghiệp tồn tại dưới
nhiều hình thức, tên gọi khác nhau: Khách sạn; Làng du lịch; Biệt thự du lịch; Căn hộ
du lịch; Bãi cắm trại du lịch; Nhà nghỉ du lịch; Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê;
Các cơ sở lưu trú du lịch khác.
Nhằm phân biệt các loại hình cơ sở lưu trú du lịch, Thông tư 88/2008/TTBVHTTDL đã đưa ra các tiêu chí phân loại như sau:
 Khách sạn (Hotel) là cơ sở lưu trú du lịch, có quy mô từ mười buồng ngủ trở
lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và dịch vụ cần thiết phục vụ
khách lưu trú và sử dụng dịch vụ, bao gồm các loại sau:
+ Khách sạn thành phố (City hotel) là khách sạn được xây dựng tại các đô thị,
chủ yếu phục vụ khách thương gia, khách công vụ, khách tham quan du lịch;

13



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status