Tư tưởng hồ chí minh về cán bộ và công tác cán bộ những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới - Pdf 38

Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

Lớp TCLL CT-HC

A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thế giới đã xẩy ra biết bao nhiêu những biến động
to lớn trên rất nhiều phương diện, nhưng công cuộc đổi mới ở Việt Nam vẫn
giành được những thành tựu quan trọng, được bạn bè thế giới khâm phục.Trong
xu thế toàn cầu hóa hiện nay, sự nghiệp đổi mới của nước ta đang đứng trước
những thời cơ và thách thức mới, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo, phán đoán xử lý
kịp thời mới giữ vững ổn định chính trị và tiếp tục phát triển kinh tế.
Để đáp ứng và giải quyết được những yêu cầu, nhiệm vụ đó, điều đầu tiên
và cấp thiết nhất đối với Đảng ta là phải có được một đội ngũ cán bộ vừa “hồng”
vừa” chuyên” từ Trung ương đến cơ sở. Bởi vì như Lênin người thày của giai
cấp vô sản đã từng nói: “Trong lịch sử chưa có giai cấp nào giành được quyền
thống trị,nếu có đào tạo được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trij,
những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”. Chủ
tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định:
Cán bộ là gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại cũng
do đội ngũ cán bộ tốt hay kém, có cán bộ tốt việc gì cũng xong. Vì thế hơn lúc
nào hết, chúng ta phải trở lại nghiên cứu một cách thấu đáo Tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bô để vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng hiện nay.
Đó cũng là quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong giai đoạn cách mạng mới
thời kỳ “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Cán bộ là khâu quyết định sự thành bai
của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu
then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã
dầy công đào tạo,huấn luyện, xây dựng được đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường,
hoàn thành xuất nhiệm vụ qua các giai đoạn cách mạng.
Để lãnh đạo thực hiện thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vận dụng
tư tưởng Hồ Chí minh về cán bộ và công tác cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo


2


Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

Lớp TCLL CT-HC

B. NỘI DUNG
Chương I
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ
1- Một số vấn đề chung về tư tưởng Hồ Chí Minh
Xã hội Việt Nam thế kỷ XIX đến khi thực dân Pháp xâm lược là xã hội
phong kiến với nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu với chính sách đối
nội đối ngoại bảo thủ, trì trệ. Do đó chế độ phong kiến Việt Nam không tạo
dựng được tiềm lực vật chất và tinh thần để bảo vệ Tổ Quốc, khi thực dân Pháp
xâm lược, triều đình nhà Nguyễn đã cam chịu đầu hàng để giữ lấy ngai vàng và
lợi ích của hoàng tộc.
Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1985) đến cuối thế kỷ XIX, phong trào
đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp nổ ra ở nhiều nơi và lan rộng trong cả
nước. Các cuộc nổi dậy đó đã được thúc đẩy bởi tinh thần yêu nước nhiệt thành
và chí căm thù giặc sâu sắc, song cuối cùng đều bị thất bại vì chưa có một
đường lối kháng chiến đúng đắn.
Bước sang thế kỷ XX, sau cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp,
xã hội Việt Nam có sự chuyển biến và phân hoá giai cấp, hình thành giai cấp
công nhân, tầng lớp tư sản và xuất hiện các phong trào Đông Du, Đông Kinh
Nghĩa Thục, Duy Tân… song các phòng trào này cũng chỉ kéo dài được một
thời gian ngắn rồi lần lượt bị dập tắt.
Khi Nguyễn Tất Thành đã trưởng thành, phong trào cứu nước đang ở
trong thời kỳ khó khăn nhất, đen tối như không có đường ra. Người thanh niên

nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành từ những nguồn gốc đó”.
Thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ đầu những năm 40 của thế kỷ
XX cho đến nay là những minh chứng hùng hồn về tầm vóc vĩ đại của tư tưởng
Hồ Chí Minh; đó là thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nhà
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đầu tiên ở Châu Á, cuộc kháng chiến đánh
đuổi thực dân Pháp , đế quốc Mỹ và những thắng lợi trong công cuộc đổi mới
đều được bắt nguồn từ tư tưởng Hồ Chí Minh đó là tư tưởng về độc lập tự chủ,
tự lực tự cường; về đại đoàn kết dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về
chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; về Đảng
cộng sản Việt Nam, về nhà nước của dân do dân vì dân; về đại đoàn kết, về kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, về chiến tranh nhân dân và quốc
phòng toàn dân, về đạo đức, tư tưởng nhân văn, tư tưởng về văn hoá, về phương
pháp cách mạng…v.v.
Để thực hiện được các nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, đưa cách mạng
thành công thì vai trò của cán bộ và công tác cán bộ có tính quyết định. Vì vậy,
với Hồ Chí Minh cán bộ và công tác cán bộ luôn luôn giữ vị trí hàng đầu và
được Người thể hiện rất rõ dàng, sâu sắc.
2- Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ
2.1- Về vị trí cán bộ và công tác cán bộ
1

Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội – 2000, tập 2, tr.268
Sđd tập 2, tr.268

3

4


Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

rằng cán bộ có vị trí quyết định trong mọi nhiệm vụ bởi chính sách đúng đắn có
thể không thu được kết quả nếu cán bộ làm sai, cán bộ yếu kém. Người nói “Khi
đã có chính sách đúng, thì sự thành công và thất bại của chính sách đó là do cách
tổ chức công việc, do nơi lựa chọn cán bộ, do nơi kiểm tra. Nếu ba điểm ấy sơ
sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”.
- Cần coi trọng công tác cán bộ. Muốn tổ chức công việc tốt, yêu cầu
người cán bộ phải có tài, có đức, song việc lựa chọn và bố trí, sử dụng phải hợp
lý, đúng người, đúng việc. Nếu không rất có thể hỏng việc mà không phải do
5


Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

Lớp TCLL CT-HC

năng lực của cán bộ. Hồ Chí Minh luôn cho rằng trong dân ta không thiếu người
tài, có đức để làm cán bộ, vấn đề còn lại là phải biết phát hiện, bồi dưỡng và tin
tưởng ở họ.
Về công tác cán bộ, Hồ Chí Minh nêu ra các vấn đề lớn và các vấn đề đó
có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đó là:
“Hiểu biết cán bộ
Khéo dùng cán bộ
Cất nhắc cán bộ
Thương yêu cán bộ
Phê bình cán bộ”
- Về hiểu biết cán bộ. Theo Hồ Chí Minh trước khi cất nhắc cán bộ, phải
nhận xét rõ ràng. Không chỉ xem xét về công tác của họ mà còn xem xét cả sinh
hoạt, chẳng những xem xét về cách viết, cách nói của họ mà còn xem xét việc
làm của họ có đúng với lời nói không, phải biết ưu điểm của họ và cũng phải
biết khuyết điểm 2của họ.(4)

tắc xây dựng Đảng ta, chúng ta không sợ sai lầm, khuyết điểm. Điều quan trọng
là những người lãnh đạo phải biết cách giúp đỡ cán bộ sửa chữa những sai lầm,
khuyết điểm của họ. Sửa chữa sai lầm, khuyết điểm, trước hết người cán bộ có
sai lầm phải tự kiểm điểm và tiếp thu phê bình của các đồng chí để nhận ra
khuyết điểm của mình và tự giác sửa chữa. Mặt khác các cán bộ lãnh đạo phải
có trách nhiệm phê bình và giúp đỡ để cảm hóa cán bộ của mình sửa chữa
khuyết điểm. Song, không phải tuyệt nhiên không dùng hình thức xử phạt, xử
phạt là biện pháp giúp những cán bộ cố ý phá hoại nhận ra sai lầm của họ. Như
vậy, phê bình đúng, chẳng những không làm giảm uy tín của cán bộ, cuả Đảng
mà còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, đúng đắn hơn, nhờ đó mà uy tín và
thể diện càng được tăng lên.
Để có cán bộ tốt, đáp ứng được phong trào, nhiệm vụ cách mạng, phải coi
trọng công tác cán bộ. Người coi công tác cán bộ cũng như việc đào tạo nhân tài
là trọng yếu và rất cần thiết. Người nói: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi
ích trăm năm thì phải trồng người”.
Theo Hồ Chí Minh, cán bộ luôn gắn với tổ chức, chất lượng cán bộ là
kết quả tổng hợp của tất cả các khâu đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, đánh
giá, sử dụng, đề bạt, kiểm tra, giám sát, phê bình… và sự nỗ lực phấn đấu
của từng người.
Muốn có cán bộ tốt thì phải có tổ chức vững mạnh, nếu tổ chức nơi nào trì
trệ, bảo thủ thì cán bộ nơi đó không thể năng động, sáng tạo. Ở đâu mà nội bộ
lục đục, bè cánh thì hoạt động của cán bộ nơi ấy là lo củng cố địa vị, phe cánh
chứ không phải lo cho công việc chung.
Bác Hồ đã chỉ ra rằng, cán bộ năng lực kém, động cơ có tính chất cục bộ
thì thường hay kéo bè kéo cánh, bà con bạn hữu mình không tài năng gì cũng
kéo vào chức này chức nọ, người có đức có tài nhưng không vừa lòng mình thì
đẩy ra ngoài.
Điều nguy hại hơn trong công tác cán bộ là thói tư túng và mù quáng.
Trong những trường hợp đó thì không theo tiêu chuẩn “đức”,“ tài” mà chỉ cần
người lãnh đạo cấp trên hoặc người làm công tác cán bộ ưa, lọt mắt.

có chính quyền, thì cán bộ, đảng viên nắm giữ các chức vụ trong bộ máy Nhà
Nước, có trong tay quyền lực thì rất dễ trở thành quan liêu, hách dịch, xa rời
quần chúng, lợi dụng chức quyền để vun vén lợi ích cá nhân, làm ngơ trước
sự nghèo khổ của nhân dân. Hồ Chí Minh luôn ý thức sâu sắc điều này,
Người lo điều này hơn là lo cán bộ kém năng lực. Hồ Chí Minh đã cảnh cáo
“những người trong các công sở đều có nhiều hoặc ít quyền hành. Nếu không
giữ đúng cần, kiệm, liệm, chính thì dễ trở lên hủ bại, biến thành sâu mọt của
dân”. Người viết:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa thì không thành trời
Thiếu một phương thì không thành đất
8


Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

Lớp TCLL CT-HC

Thiếu một đức thì không thành người”
Người đã giải thích Cần, Kiệm, Liêm ,Chính rất cô đọng, rõ ràng:
- Cần là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai
- Kiệm là tiết kiệm không xa xỉ, không hoang phí…
- Liêm là trong sạch, không tham lam, không ham địa vị, không ham tiền
tài, không ham người tâng bốc mình, vì vậy mà quang minh chính đại, không
bao giờ hủ hoá.
- Chính là thắng thắn, đúng đắn. Để chính thì phải chớ tự kiêu, tự ái, chớ
nịnh hót người trên, chớ xem khinh người dưới”.
Theo Hồ Chí Minh, đạo đức phải tự rèn luyện một cách kiên trì, bền bỉ

“Ai cũng cần tắm rửa cho mình mẩy sạch sẽ, thì ai cũng cần tự phê bình cho tư
tưởng và hành động đúng đắn” “tự phê bình là thật thà nhận, công khai nhận
trước mặt mọi người những khuyết điểm của mình để tìm cách sửa chữa”.
Nói tóm lại, Hồ Chí Minh coi các đức tính, khiêm tốn, ham học hỏi,
không giấu dốt, thường xuyên tự phê bình, không chủ quan tự mãn, gặp thất bại
không nản chí… là những phẩm chất thuộc tiêu chuẩn hàng đầu của người cán
bộ. Hồ Chí Minh cho rằng những người sau đây có thể coi là đạt những yêu cầu,
tiêu chuẩn của người cán bộ:
a- Những người đã tỏ ra trung thành và hăng hái trong công việc, trong
lúc đấu tranh.
b- Những người liên lạc mật thiết với dân chúng, luôn luôn chú ý đến lợi
ích của dân chúng, như thế, thì dân chúng mới tin cậy cán bộ và nhận cán bộ là
người lãnh đạo của họ.
c- Những người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn
cảnh khó khăn.
Ai sợ phụ trách và không có sáng kiến thì không phải là người lãnh đạo.
Người lãnh đạo đúng đắn cần phải: khi thất bại không hoang mang, khi
thắng lợi không kiêu ngạo. Khi thi hành các nghị quyết kiên quyết, gan góc,
không sợ khó khăn.
d- Những người luôn giữ kỷ luật.
2.3- Phát hiện, lựa chọn, đánh giá, sử dụng và cất nhắc cán bộ:
Sinh thời Hồ Chí Minh đặt niềm tin rất cao vào quần chúng, việc phát
hiện, lựa chọn nhân tài không được phân biệt người trong Đảng hay ngoài
Đảng, vấn đề họ phải có tài thật sự. Người cho rằng cần thông qua thực tiễn
cách mạng để lựa chọn cán bộ: Khi “ Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra
rất nhiều nhân tài ngoài Đảng, chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ.
Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ,
gần gũi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu
nước” “phải trọng nhân tài”.
10

như thế nào, lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù có công
tác kém một chút cũng là cán bộ tốt”
Hồ Chí Minh cũng đặt ra yêu cầu với công tác đánh giá cán bộ, Người
đòi hỏi muốn biết đúng về người khác thì trước hết phải “tự biết mình”, “đã
không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái
ở người ta thì trước phải biết đúng sự phải trái của mình.
Nếu không biết sự phải trái của mình, thì chắc không thể nhận rõ
người cán bộ tốt hay xấu”

11


Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

Lớp TCLL CT-HC

Khi nhận xét đánh giá cán bộ, đánh giá người khác, Người đánh giá
thường hay phạm những chứng bệnh sau:
“1.Tự cao tự đại
2. Ưa người ta nịnh mình
3. Do lòng yêu ghét của mình mà đối với người
4. Đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lấp vào tất cả mọi
người khác nhau”.
Nếu như ai bị mắc “một trong bốn bệnh đó thì cũng như mắt đã mang
kính có màu, không bao giờ thấy rõ cái mặt thật của những cái mình trông”.
Hồ Chí Minh cho rằng đánh giá cán bộ phải dựa trên quan điểm
“động”, quan điểm phát triển, vì “Trong thế giới cái gì cũng biến hoá. Vì
vậy cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến
hoá…Một người cán bộ khi trước có sai lầm, không phải vì thế, mà sai lầm
mãi. Cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm, nhưng chắc gì sau này không

gì, sở trường và năng lực như thế nào để bố trí, sử dụng cho đúng. Làm như
vậy là sử dụng đúng người đúng việc. Rõ ràng việc bố trí sắp xếp cán bộ phụ
thuộc vào sự công tâm và sáng suốt của của cơ quan tổ chức và người làm
công tác cán bộ. Như vậy, việc bố trí cán bộ ở cơ quan, tổ chức cần được lựa
chọn kỹ lưỡng. Tránh tình trạng sai chồng lên sai. Điều rất quan trọng nữa là
“khi cân nhắc cán bộ, phải xem kết quả học tập cũng như kết quả công tác
khác mà định”.
Về phương pháp, cách thức cất nhắc, Hồ Chí Minh đã chỉ ra cất nhắc
cán bộ không nên làm như “giã gạo” nghĩa là trước khi cất nhắc không xem
xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ
lúc họ khá lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên hạ xuống ba lần như thế
là hỏng cả đời… Hồ Chí Minh chỉ rõ “sau khi cất nhắc phải giúp đỡ họ,
khuyên gắng họ, vun trồng lòng tự tin, tự trọng của họ”.
Mục đích lựa chọn, đánh giá, cất nhắc cán bộ là để dùng cán bộ sao
cho hiệu quả nhất. Hồ Chí Minh cho rằng, đối với mỗi con người: “ không
có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay. Vì vậy chúng ta phải khéo dùng người,
sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưu điểm của họ. Thường chúng
ta không biết tuỳ tài mà dùng người, thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì
bảo đi rèn dao. Thành thử hai người đều lúng túng. Nếu biết tuỳ tài mà dùng
người, thì hai người đều thành công”. Là người có lòng bao dung, độ lượng,
Hồ Chí Minh nhắc nhở chúng ta, trước hết là những người và cơ quan làm
công tác tổ chức cán bộ “ Người ở đời, ai cũng có chỗ tốt và chỗ xấu. ta phải
khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ”.
Hơn thế nữa, biết dùng người đúng sở trường của họ, đúng tài của họ,
đúng lúc đúng chỗ, tức biết kheo dùng người thì phải “tài nhỏ có thể hoá ra
tài to” nhưng nếu không khéo dùng người thì “tài to cũng hoá ra tài nhỏ”.
Là một nhà tổ chức tài giỏi, sát thực tế, Hồ Chí Minh nhận thấy
nhiều cán bộ lãnh đạo có quyền hành về vấn đề này thường dễ mắc vào các
bệnh sau:
13

Trong công tác cán bộ, Hồ Chí Minh rất coi trọng công tác huấn
luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; nếu như “cán bộ là gốc của mọi công việc
thì “huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, Hồ Chí Minh khẳng
định “ Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây
cối quý báu. Phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích
cho công việc chung của chúng ta”.
Trong công tác huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, có lúc Hồ Chí
Minh đã phê bình chương trình, nội dung huấn luyện là mênh mông, không
14


Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

Lớp TCLL CT-HC

thiết thực, học rồi không dùng được. Các chương trình đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ phải phù hợp với thực tiễn, lý luận phải bám sát đời sống và cập nhật
có tác dụng
Huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng là khâu có ý nghĩa quyết định đến
trình độ và chất lượng của cán bộ. Hồ Chí Minh chỉ thị học lý luận phải gắn
với thực tiễn, tránh đào tạo chung chung, học thuộc lòng. Thực tiễn không
ngừng biến đổi, do vậy lý luận cũng phải được bổ sung, phát triển, vì thế cán
bộ phải không ngừng học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ, thực hiện tốt
nhiệm vụ được giao.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã chỉ
ra những cái được, cái chưa được, đồng thời chỉ ra những phương châm,
phương pháp để khắc phục những hạn chế trong huấn luyện, đạo tạo, bồi
dưỡng cán bộ như:
- Huấn luyện lý luận phải gắn với thực tiễn. Theo đó lý luận phải phục
vụ thực tiễn, sau huấn luyện người cán bộ phải có trình độ cao hơn để giải

Trong thực tiễn công tác cán bộ, tất yếu phải coi trọng công tác kiểm
tra và quản lý cán bộ.
Kiểm tra là để phát huy ưu điểm, ngăn ngừa khuyết điểm và ngăn chặn
kẻ xấu chui vào bộ máy. Đó chính là công việc của người phụ trách và cơ
quan làm công tác cán bộ, Hồ Chí Minh nói: “Phải thường xuyên kiểm tra để
giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm. Giao
công việc mà không kiểm tra, đến lúc thất bại mới chú ý đến. Thế là không
biết yêu dấu cán bộ”.
Trong quản lý cán bộ phải thực hiện tốt: chế độ tự phê bình và phê
bình; chế độ khen thưởng và kỷ luật. Trong bài “ Tự phê bình” đăng báo
Nhân dân ngày 20 tháng 5 năm 1951, mở đầu bài báo, Người viết:
“Dao có mài, mới sắc
Vàng có thui, mới trong
Nước có lọc, mới sạch
Người có tự phê bình, mới tiến bộ. Đảng cũng thế”
Đó là sự cần thiết của chế độ tự phê bình và phê bình.
Hồ Chí Minh đã đề cao nguyên tắc tự phê bình, phê bình, khuyến khích
cấp dưới phê bình cấp trên, cấp trên phê bình, nhận xét phải công bằng, yêu
thương cán bộ, không thành kiến, trù dập, thưởng phạt phải công minh. Trong
thực tế, Người chú ý khen thưởng nhiều mà cũng xử nghiêm những ai có tội
lỗi. Tuy nhiên, Người cũng nhắc nhở đừng lạm dụng thưởng, phạt, bởi vì
thưởng, phạt tràn lan, không đúng lúc, đúng chỗ, thiếu chính xác, thiếu công
bằng thì cũng không có tác dụng tích cực.
Việc kiểm tra, quản lý cán bộ còn có nhiệm vụ ngăn ngừa, chống lại
những tệ nạn tham nhũng, quan liêu rất dễ xảy ra trong cán bộ khi có chức,
có quyền.
16


Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

Về công tác kiểm tra, quản lý và chính sách đối với cán bộ, Hồ Chí
Minh, không chỉ nêu những nguyên tắc, quan điểm, tư tưởng chung mà Người
còn rất chú ý đến phương pháp, cách thức, biện pháp một cách cặn kẽ, cụ thể:
a- Chỉ đạo: thả cho họ làm, thả cho họ phụ trách, dù sai lầm chút ít
cũng không sợ.

17


Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

Lớp TCLL CT-HC

b- Nâng cao: luôn tìm cách cho họ học tập thêm lý luận và cách làm
việc, làm cho tư tưởng, năng lực của họ ngày càng tiến bộ.
c- Kiểm tra:…thường xuyên kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa
chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, giao công việc mà không kiểm tra, đến
khi thất bại mới chú ý đến. Thế là không biết yêu dấu cán bộ.
d- Cải tạo: khi họ sai lầm thì dùng cách thuyết phục giúp cho họ
sửa chữa.
đ- Giúp đỡ: phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc. Khi
họ đau ốm phải có thuốc thang. Tuỳ theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết
vấn đề gia đình. Những điều đó rất quan hệ với tinh thần của cán bộ và sự
thân ái đoàn kết trong Đảng”.
Ngoài ra Hồ Chí Minh còn yêu cầu người cán bộ phải thường xuyên cái
tiến phương pháp công tác và lề lối làm việc để nâng cao hiệu quả công tác.
Điều này được thể hiện rõ ràng trong cuốn “Sửa đổi đường lối làm việc” của
Bác Hồ ra đời cách đây đã hơn nửa thế kỷ, nhưng qua thực tiễn của cách
mạng Việt Nam với hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chỗng Mỹ cũng như
qua công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã khẳng định những đóng góp to

lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.
Từ chỗ đánh giá đúng vai trò của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp
cách mạng, khả năng vươn lên của phụ nữ, Bác nói: “ Hiện nay có nhiều phụ
nữ tham gia công tác lãnh đạo ở cơ sở, nhưng không phải ai cũng tự giác nhận
thức được vấn đề này. Ta cũng phải đấu tranh với bản thân mình, để tự cởi
trói và giải phóng cho chính mình, góp phần vào chữa bệnh thành kiến của
người khác. Tốt hơn hết, các cô, nhất là các cô ở huyện phải đấu tranh mạnh.
Vì các cô mà không đấu tranh thì các đồng chí nam có thành kiến với phụ nữ
sẽ không tích cực sửa chữa”. Người luôn kích lệ động viên: “Vậy phụ nữ phải
làm sao cho người ta thấy phụ nữ giỏi, lúc đó cán bộ không cất nhắc, anh chị
em công nhân sẽ cử mình lên”. Người đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ nữ và rất chú ý đến việc mở các lớp bồi dưỡng của địa phương,
cơ sở. Bác nghiêm khắc phê phán các địa phương, cơ sở mở lớp học mà có ít
cán bộ nữ. Bác nói “cán bộ nữ ít như vậy là một thiếu sót, các đồng chí phụ
trách lớp học chưa quan tâm đến việc bồi dưỡng cán bộ nữ. đây cũng là một
thiếu sót chung ở trong Đảng. Nhiều người còn đánh giá không đúng khả
năng của phụ nữ, hay thành kiến hẹp hòi, như vậy là rất sai. Hiện nay có
nhiều phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo ở cơ sở nhiều người rất giỏi”. Hồ
Chí Minh luôn mong muốn có thêm nhiều cán bộ nữ còn vì một lẽ liên quan
đến giới tính, Bác cho rằng chị em cán bộ phụ nữ là những người ít mắc tệ
tham ô, lãng phí, không hay chè chén, ít hống hách mệnh lệnh như một số cán
bộ nam. Trong thực tiễn cách mạng Việt Nam, phụ nữ đã có những đóng góp
to lớn, nhiều chị em đã được phong tặng anh hung lực lượng vũ trang nhân
dân, anh hùng lao động, chiến sỹ thi đua toàn quốc, nghệ sỹ nhân dân, nghệ
sỹ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, nhiều người đạt chức danh giáo
sư, phó giáo sư, là những nhà khoa học đầu ngành v.v… Đây lại là minh
chứng cho sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với công tác cán bộ nữ
của Người.
19


đưa vào diện quy hoạch phải được tiến hành kỹ lưỡng, dân chủ trong nội bộ cấp
uỷ, thường vụ. Ở những mức độ và phạm vi nhất định, có thể dựa vào sự giới
thiệu của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Công tác qui hoạch cần thực hiện theo
nguyên tắc động và mở để có thể lựa chọn, bổ sung được những cán bộ tốt mới
phát hiện.
Thứ hai, đổi mới chương trình, nội dung đào tạo.
20


Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

Lớp TCLL CT-HC

Đây là vấn đề cốt lõi của công tác đào tạo, bồi dưỡng, là nhân tố quyết
định chất lượng cán bộ. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đào tạo và bồi
dưỡng cán bộ cần gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành, đảm bảo hiệu
quả và thiết thực. Trong bối cảnh nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng
đổi mới chương trình nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần quán triệt phương
châm “Việt Nam, cơ bản và hiện đại”.
Chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải kết hợp trang bị kiến thức
nghiệp vụ với việc nâng cao tố chất chính trị, đạo đức, kiến thức pháp luật và kỹ
năng thực hành cho cán bộ.v.v...Trang bị kiến thức vừa rộng, vừa sâu, kết hợp
kiến thức cơ bản và kiến thức chuyên ngành, bổ sung cập nhật những tri thức
mới của thế giới.v.v...Tóm lại là phải đào tạo toàn diện.
Theo phân loại cán bộ trong Nghị quyết Trung ương 3 ( Khoá VIII) thì
nên phân thành bốn chuyên ngành: chuyên ngành công tác đảng, công tác chính
trị, nhằm đào tạo, bồi dưỡng kiến thức nghiệp vụ cho các cán bộ làm công tác
đảng; chuyên ngành công tác quần chúng nhằm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ
cho cán bộ các đoàn thể nhân dân; chuyên ngành quản lý kinh tế cho các cán bộ
thuộc lĩnh vực kinh tế, kinh doanh; chuyên ngành quản lý nhà nước cho cán bộ

Công tác quản lý đào tạo quyết định đến chất lượng đào tạo, và do đó
quyết định đến chất lượng cán bộ. Cần tập trung vào khâu chỉ đạo, quản lý nội
dung, chương trình đào tạo đối với các học viện, các trường đại học, các trường
chính trị tỉnh, các Học viện trực thuộc Học Viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh và các trung tâm khác. Rà soát lại hệ thống quy chế, quy định theo
chuẩn quốc gia. Hệ thông này phải có hiệu lực và được thi hành thống nhất
trong toàn bộ các cơ sở, từ vấn đề chiêu sinh, thi cử, đến cấp phát văn bằng,
chứng chỉ… Tránh tình trạng mỗi cơ sở đào tạo có một quy chế riêng. Chấn
chỉnh lại các quy chế thi, kiểm tra theo hướng chặt chẽ cả “ đầu vào” và “ đầu
ra”. Khắc phục tình trạng người học quan niệm đã đi học là chắc chắn tốt
nghiệp, đã qua đầu vào thì chắc chắn sẽ tốt nghiệp ra trường.
Thứ năm, chăm lo xây dựng đội ngũ giáo viên, tăng cường cơ sở vật chất
cho các cơ sở đào tạo theo hướng hiện đại hoá.
Cần tăng cường đủ số lượng giáo viên để đảm nhiệm công tác giảng dạy.
xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi đầu ngành của các môn học, phát triển các
khoa học chuyên sâu đạt trình độ tiên tiến, hiện đại. Có chính sách thu hút số
sinh viên giỏi ở các trường đại học, các cán bộ đang công tác thực tiễn vào làm
giảng dạy ở hệ thống đào tạo cán bộ. Chú trọng nâng cao chất lượng toàn diện,
trước hết là chất lượng chính trị (trình độ, bản lĩnh, lập trường chính trị), của đội
ngũ giáo viên ở các học viện, các trường đại học, các trường chính trị tỉnh,
thành, các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng của các bộ, ngành.
Thứ sáu, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo quốc dân.
Hệ thống giáo dục, đào tạo quốc dân là nơi cung cấp những kiến thức cơ
sở và cơ bản, tạo ra sự phát triển toàn diện trong nhân cách mỗi người. Đổi mới
và nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo quốc dân là điều kiện cơ bản để nâng
cao trình độ dân trí, là cơ sở để nâng cao trình độ cán bộ. Chính vì vậy, để nâng
22


Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

Kiểm tra, giám sát và quản lý cán bộ là hoạt động nhằm nắm chắc thông
tin, diễn biến về tư tưởng, hoạt động của cán bộ, giúp cho cấp uỷ và thủ trưởng
phát hiện vấn đề nảy sinh, kịp thời điều chỉnh và tác động, làm cho đội ngũ cán bộ
và công tác cán bộ luôn luôn hoạt động đúng hướng, đúng nguyên tắc, quy định.

23


Trường Chính trị tỉnh Bắc Giang

Lớp TCLL CT-HC

Thực tế cho thấy, một số cán bộ khi mới được đề bạt, bổ nhiệm, mới được
bầu cử đều là những người tốt, có đạo đức, trung thành, tận tuỵ, liêm khiết, có uy
tín. Song, trong quá trình hoạt động, một phần do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, một
phần do thiếu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ, không được quản lý tốt đã dần dần
thoái hoá biến chất, sa ngã. Trong điều kiện giao lưu, mở cửa, hội nhập quốc tế
trong cơ chế thị trường, nhiều cán bộ nhiệt tình, năng động nhưng do không có
một “hành lang”, một “ dây cương” cần thiết nên đã trượt qua giới hạn cho phép.
Điều đó, có phần thiết sót cảu công tác kiểm tra, giám sát và quản lý cán bộ.
Để giữ gìn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cần phải làm tốt công tác
quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ theo phương châm:
- Phải tăng cường hơn nữa quản lý, kiểm tra và giám sát mọi hoạt động
của cán bộ để có thể hỗ trợ giúp đỡ hoặc uốn nắn phát hiện sớm những hành vi
sai trái để sửa chữa.
- Cấp uỷ, người thủ trưởng và tổ chức Đảng phải trực tiếp tiến hành quản
lý, kiểm tra, giám sát cán bộ thuộc quyền quản lý của mình.
-Tăng cường việc kiểm tra, giám sát của quần chúng đối với cán bộ, của
cán bộ cấp dưới đối với cán bộ cấp trên và ngược lại.
-Kiểm tra phải có kết luận cụ thể, rõ ràng, đảm bảo đúng nguyên tắc tập

thu hút được nhân tài, làm cho nội bộ đoàn kết nhất trí, mọi người đồng tâm hiệp
lực,.v.v… Ngược lại, chính sách cán bộ sai, bất hợp lý sẽ tạo ra tâm trạng chán
nản, kìm hãm sự sáng tạo, triệt tiêu tính tích cực, nội bộ mất đoàn kết, nảy sinh
nhiều tiêu cực, có thể đẩy hàng loạt cán bộ đến chỗ sai lầm, làm cho hao phí tài
năng của đất nước,.v.v..Do đó, để nâng cao chất lượng cán bộ phải đồng thời
xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ.
Việc dổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ trong thời kỳ mới
phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:
-Phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và những quan
điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, để từng bước xây dựng
được đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
-Đảm bảo quyền lợi gắn liền với trách nhiệm, quyền lợi càng lớn, trách
nhiệm càng nặng nề.
-Hệ thống chính sách phải đảm bảo công bằng. Mọi hoạt động trong xã
hội cũng như người cán bộ phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản, có làm, có hưởng,
làm nhiều, cống hiến nhiều, mang lại lợi ích nhiều cho tập thể, cho nhân dân,
cho đất nước thì được hưởng nhiều, hưởng tương xứng; không làm thì không
hưởng. Nói cách khác, chính sách phải đảm bảo trả công giá trị sức lao động
thực tế một cách thoả đáng. Đó là nguyên tắc phân phối của Chủ nghĩa Xã hội.
-Hệ thống chính sách cán bộ phải đảm bảo tính kích thích, khuyến kích tài
năng sáng tạo, có sự lôi cuốn, hấp dẫn mọi người phấn đấu vươn lên. Đồng thời
phải có tác dụng ngăn chặn, răn đe các hành vi, hoạt động sai trái, tiêu cực của
đội ngũ cán bộ. Thông qua hệ thống chính sách cán bộ mà điều tiết, luân chuyển
cán bộ, làm cho số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ cân đối, đồng đều hơn.

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status