CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƢỞNG "SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2007
Tên công trình:
NGHIÊN CỨU TƢ DUY TRỰC QUAN SƠ ĐỒ CỦA
TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƢỜNG MẦM NON TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thuộc nhóm ngành: XH1a
CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƢỞNG "SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC”
NĂM 2007
Tên công trình:
NGHIÊN CỨU TƢ DUY TRỰC QUAN SƠ ĐỒ CỦA
TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƢỜNG MẦM NON TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thuộc nhóm ngành: XH1a
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
1. Nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu và làm rõ một số khái niệm, thuật ngữ cơ bản có liên quan đến đề tài như:
Tư duy, tư duy trực quan hình tượng, tư duy trực quan sơ đồ, sơ đồ, hình ảnh, biểu tượng,
Nghiên cứu TDTQSĐ của trẻ 5- 6 tuổi ở một số trường mầm non tại TP.HCM, từ đó
đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển TDTQSĐ cho trẻ.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích tài liệu và tổng hợp tài liệu.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
2
* Phương pháp chính:
- Trắc nghiệm: Dùng bài tập trắc nghiệm L.A. Venger để đánh giá mức độ phát triển
TDTQSĐ của trẻ.
- Thực nghiệm hình thành: xây dựng một hệ thống bài tập gồm 3 bài tập cho trẻ nhằm
thực nghiệm hình thành theo 2 hướng thao tác sơ đồ hóa và đọc hiểu sơ đồ. Sau đó, dùng bài
đo nghiệm để đánh giá số liệu định lượng cho các vấn đề định tính mà bài đo nghiệm đặt ra.
* Phương pháp hỗ trợ:
- Quan sát:
+ Quan sát trong lúc trẻ làm trắc nghiệm và trong giờ học của trẻ nhằm giúp việc đánh
giá được khách quan và chính xác.
+ Quan sát trẻ trong quá trình thực nghiệm để góp phần đánh giá tính phù hợp của bài
thực nghiệm.
- Điều tra:
+ Phỏng vấn trẻ để kiểm tra độ chính xác của bài trắc nghiệm.
+ Dùng bảng câu hỏi cho giáo viên.
+ Phỏng vấn phụ huynh học sinh.
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu thống kê bằng phần mềm SPSS for Windows 11.5.
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
2.3.2. Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài
2.3.2.1. Sự phát triển tư duy của trẻ em
2.3.2.2. Tư duy trực quan hình tượng của trẻ 5 - 6 tuổi
mốc định hướng đầu tiên của "chìa khóa"), người nghiên cứu thu được kết quả sau:
Bảng 2.4.1: Điểm TB 10 bài trắc nghiệm của mỗi trẻ
Tổng
N
Điểm TB
ĐLTC
100
25.91
8.91
Theo bảng 2.4.1, ta thấy điểm TB 10 bài tập của mỗi trẻ là 25.91. Như vậy, trẻ 5 - 6
tuổi ở trường MN có tư duy trực quan sơ đồ ở đầu mức độ 4 nghĩa là trẻ chỉ có thể dựa vào 1
dấu hiệu để giải quyết bài tập tư duy trực quan sơ đồ chứ chưa có khả năng định hướng được
theo hai dấu hiệu, trẻ giải quyết được các bài tập từ 1 đến 6, còn các bài tập còn lại trẻ chỉ
làm được phần đầu và chỉ tính được một hoặc hai phần của mỗi sơ đồ khóa, nhưng đến cuối
thì trẻ cũng chỉ dựa vào một dấu hiệu. Kết quả này phù hợp với giả thuyết ban đầu của người
nghiên cứu. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy trực quan sơ đồ của trẻ
từ phía giáo viên, người nghiên cứu nhận thấy hầu hết giáo viên ở hai trường này chưa có cơ
sở lý luận về tư duy trực quan sơ đồ của trẻ và chưa đưa sự phát triển tư duy trực quan sơ đồ
của trẻ vào mục tiêu dạy học nên trong bài dạy không chú ý đến vấn đề phát triển tư duy trực
quan sơ đồ cho trẻ . Chính vì vậy mà trong các tiết học của trẻ mà người nghiên cứu đã tham
dự, thay vì có thể lồng ghép nội dung phát triển TDTQSĐ cho trẻ thì các giáo viên đã bỏ qua.
Điển hình như trong bài "Cả nhà thương nhau", giáo
Biểu đồ 2.4.1: Biểu đồ phân phối điểm TB 10 bài trắc nghiệm của trẻ
Theo biểu đồ 2.4.1, ta thấy: điểm số của tất cả các bài tập từ 1 đến 8 đều trên TB. Các
bài tập 3, 4, 5 có điểm trung bình cao hơn bài tập 1 và 2. Điều này cho phép chúng ta khẳng
định rằng trẻ 5 - 6 tuổi ở hai trường này vẫn chưa có khả năng định hướng trong không gian
một cách chính xác và khả năng sử dụng các mốc định hướng của trẻ tốt hơn khả năng định
hướng trong không gian. Ở bài tập 6 và 7, điểm TB của trẻ thấp là do trẻ đã xác định được
hướng đi và mốc đầu tiên trong sơ đồ nhưng trẻ chưa có cái nhìn bao quát để thấy được sự
luân chuyển từ vật định mốc này sang vật định mốc kia, đâu là mốc định hướng chính, đâu là
mốc định
7
hướng phụ như đã xác định ở trên khóa. Bài tập 9 và 10 có điểm TB thấp là do phần lớn trẻ
chưa nhận ra sự tương quan một cách chi tiết giữa sơ đồ lớn và chìa khóa dựa trên hai dấu
hiệu: Mốc và hướng.
Bảng 2.4.2: Phân tích mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ ở hai trường MNBS và MNBCBT
Điểm
Mức độ
N
%
Từ 0 đến 5
1
5
17
17
100
100
Tổng N
Sự phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ được thể hiện ở biểu đồ 2.4.2
sau:
Biểu đồ 2.4.2: Biểu đồ phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ
Theo bảng 2.4.2 và biểu đồ 2.4.2, ta thấy: không có trẻ nào có tư
8
duy trực quan sơ đồ ở mức độ 1. Như vậy, tất cả các trẻ đều đã có thể xác định được hướng.
Có 14 trẻ, chiếm 14% có tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ 2 nghĩa là trẻ đã có khả
năng giải quyết bài tập theo một dấu hiệu, trẻ đã biết phân bài tập ra từng giai đoạn. Ở mỗi
chỗ rẽ, trẻ đã biết chú ý đến dấu hiệu của hướng đi, mốc định hướng đã có sẵn trong chìa
khóa. Tuy nhiên, trẻ chỉ sử dụng phương thức này ở giai đoạn đầu của bài tập chứ chưa có
khả năng duy trì đến cuối bài tập. Trẻ ở nhóm này đã xuất hiện khả năng xác định sự tương
quan giữa chìa khóa và sơ đồ nhưng còn rời rạc, hỗn đồng.
Có 23 trẻ, chiếm 23% có tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ 3 nghĩa là trẻ có khả năng
Tổng
N
Điểm TB
ĐLTC
Bông Sen
50
22.00
8.30
Bến Thành
50
29.82
7.76
Chú thích: (*): Có ý nghĩa ở mức α = 0,05
t
-4.86
Sig
dạy dỗ, chăm sóc bởi đội ngũ giáo viên đều trên mười năm kinh nghiệm, trong khi đó, đội
ngũ giáo viên khối lớp lá của trường MNBS đều dưới 10 năm kinh nghiệm.
Bảng 2.4.4. Phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ theo trường
Mức độ
MNBS
MNBCBT
Tổng
Điểm
N
%
N
%
N
%
Từ 0 đến 5
1
0
16
16
7
7
23
23
Từ 25 đến 34
4
20
20
26
26
46
46
Từ 35 đến 44
Sự phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ ở trường MNBS và trường
MNBCBT được thể hiện ở biểu đồ 2.4.3 và biểu đồ 2.4.4
12
Biểu đồ 2.4.3: Biểu đồ phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ trường MNBS
Biểu đồ 2.4.4: Biểu đồ phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ trường MNBCBT.
13
Theo bảng 2.4.4 và hai biểu đồ 2.4.3; 2.4.4, ta thấy trẻ ở trường MNBCBT có xu
hướng vượt trội hơn so với trẻ ở trường MNBS. Ở mức độ 5 nghĩa là trẻ có khả năng giải
quyết bài tập theo 2 dấu hiệu (bài tập 7 đến 10), trường MNBCBT có 14 trẻ trong khi ở
trường MNBS chỉ có 3 trẻ. Ngược lại, ở mức độ 2, trẻ có thể dựa vào một dấu hiệu để giải
quyết bài tập nhưng khả năng xác định sự tương quan giữa chìa khóa và sơ đồ nhưng còn rời
rạc, hỗn đồng thì trường MNBS có đến 11 trẻ trong khi trường MNBCBT chỉ có 3 trẻ. Và có
đến 80% trẻ ở trường MNBCBT có tư duy trực quan sơ đồ ở mức độ 4 và 5, trong khi đó chỉ
có 46% trẻ ở trường MNBS có tư duy trực quan sơ đồ ở hai mức độ này.
2.4.2.3. Kết quả đo nghiệm mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ theo giới (nam và
nữ)
Bảng 2.4.5. Điểm TB 10 bài trắc nghiệm của mỗi trẻ theo giới
Giới
TỔng
N
Theo bảng 2.4.5, ta thấy: Điểm trung bình về mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ
nam và nữ chênh lệch không đáng kể và mức độ tư duy của cả hai phái đều nằm ở đầu mức
độ 4, tức trẻ ở nhóm này vẫn chưa có khả năng định hướng được theo hai dấu hiệu, trẻ giải
quyết tốt các bài tập từ 1 đến 6 còn các bài tập còn lại trẻ chỉ có thể làm được phần đầu và chỉ
tính được một phần của mỗi sơ đồ khóa. ĐLTC tiêu chuẩn của điểm TB ở mỗi phái cũng
không có sự chênh lệch nhiều. Ở cột sig, ta cũng thấy sự
14
khác biệt này là không có ý nghĩa về mặt thống kê (sig = 0.374). Kết quả này không phù hợp
với giả thuyết ban đầu của người nghiên cứu nhưng nó phù hợp với lý luận nghiên cứu. Vì
tìm hiểu thực tế, ta thấy, trẻ 5 - 6 tuổi về mặt cấu trúc sinh học của não bộ mặc dù đã có đầy
đủ các chức năng sinh lý của người nhưng nó vẫn chưa phát triển đến mức cao nhất và sự
khác biệt về các yếu tố tâm lý cũng chưa nhiều, các em chưa đi vào từng lĩnh vực riêng biệt
mà lại có chung một môi trường học tập và vui chơi nên không có sự chênh lệch nhiều về
mức độ tư duy trực quan sơ đồ là hợp lý.
Bảng 2.4.6: Phân phối mức độ tư duy trực quan sơ đồ của trẻ theo giới
Điểm
Mức độ
Nam
Nữ
Tổng
N
7
14.9
7
13.2
14
14
Từ 15 đến 24
3
l1
23.4
12
22.6
23
23
Từ 25 đến 34
47
100
53
100
100
100
Tổng N
Theo bảng 2.4.6, ta thấy: Sự khác biệt về tư duy trực quan sơ đồ giữa trẻ nam và trẻ
nữ giữa hai trường MNBS và MNBCBT ở các mức độ là không đáng kể và tư duy trực quan
sơ đồ của trẻ nam và nữ đều tập trung cao nhất ở mức độ 4.
15
Bảng 2.4.7: Điểm TB trắc nghiệm từng bài của trẻ theo giới
Phái
Điểm TB
Nam
2.55
3.04
Nữ
3.24
Nam
2.43
Nữ
2.75
Nam
2.04
Nữ
2.30
Nam
3.10
Nữ
3.00
Bài 8
Bài 9
Bài 10
Mức ý nghĩa α = 0,05
Sig
.352
.189
.482
.085
.473
.277
.312
.681
.803
.836
Hoàng Thị K. N) cho biết bé rất thích vẽ, hầu như ngoài thời gian học và ngủ ra bé dành tất
cả thời gian còn lại để vẽ và xem các chương trình dành cho trẻ em trên tivi như chuyện nhỏ,
những em bé thông minh... hoặc như trường hợp của bé Phạm M. N (bé đạt được 42 điểm)
chẳng hạn, mặc dù mẹ bé (chị Trần T. L) làm nội trợ nhưng cũng ít khi chơi với bé vì theo
như chị kể thì thời gian ở nhà bé thường đi chơi ở "hàng xóm" nhiều hơn, nếu chơi ở nhà thì
bé thường chơi xếp hình nhưng bé rất mau chán, khoảng 20 phút là lại đi chơi ở xóm. Duy
nhất chỉ có trường hợp của bé Phạm Đ. T (là bé duy nhất đạt được tối đa 44 điểm) là phụ
huynh có chú ý đến việc phát triển trí tuệ lẫn nhân cách cho bé. Chị Mai Thị H. T, mẹ của bé
T cho biết là ba bé rất quan tâm đến việc mua đồ chơi cho bé, không bao giờ cho bé xem
hoặc chơi các trò chơi mang tính khích động hay bạo lực như súng, kiếm, xe tăng... mà chỉ
cho bé chơi trò chơi ghép hình và mua các đĩa kidsmart cho bé chơi mỗi lần bé chơi khoảng
30 phút. Ngoài ra thì cho bé xem chương trình "chuyện nhỏ", "bí mật gia đình" và "tam sao
thất bản". Chị còn tiết lộ thêm là bé rất thích "đoán" trong trò chơi "tam sao thất bản". Chủ
nhật
18
thì gia đình cùng bé đi công viên hoặc siêu thị. Bé T rất thích đi như vậy... Tuy nhiên, hầu hết
phụ huynh thì không có thời gian hoặc không biết giúp bé phát triển tư duy. Nhưng vấn đề
quan trọng là khi được hỏi: Trong những trò chơi mà anh/chị cho bé chơi thì anh chị thấy trò
chơi nào sẽ giúp bé phát triển tư duy trực quan sơ đồ thì 100% phụ huynh được phỏng vấn
đều hỏi ngược lại là "Tư duy trực quan sơ đồ là sao?". Nhưng cũng từ thực tế nghiên cứu thì
người nghiên cứu nhận thấy mặc dù có 76,9% giáo viên được phỏng vấn trả lời rằng "cần
thiết" phải phát triển TDTQSĐ cho trẻ và 23,1% giáo viên được phỏng vấn trả lời rằng "rất
cần thiết" phải phát triển TDTQSĐ cho trẻ nhưng trình độ hiểu biết về tư duy trực quan sơ đồ
của các giáo viên ở hai trường này rất ít và nhà trường cũng chưa đưa nội dung phát triển tư
duy trực quan sơ đồ cho trẻ vào mục tiêu dạy học nên chưa lồng ghép nội dung phát triển tư
duy trực quan sơ đồ cho trẻ cũng như chưa đầu tư vào việc trang bị cơ sở vật chất (đồ chơi,
đồ dùng học tập nhằm phát triển tư duy trực quan sơ đồ cho trẻ) và giáo viên cũng chưa biết
thiết kế các trò chơi giúp trẻ phát triển tư duy trực quan sơ đồ. Chính vì vậy nên giáo viên
nghiên cứu đã chọn 30 trẻ để tiến hành
20
thực nghiệm hình thành. Qua gần 3 tháng tiến hành thực nghiệm người nghiên cứu cho 30 trẻ
được chọn làm thực nghiệm thực hiện lại trắc nghiệm LA. Venger. Kết quả thu được như sau:
Bảng 2.4.8: Điểm trắc nghiệm của nhóm ĐC và nhóm TN
ĐC
TN
Nhóm
Điểm trước TN
Điểm sau TN
Điểm TB
28.33
29.13
ĐLTC
1.91
2.36
TN: 28.33 điểm; sau TN: 29.13 điểm). Người nghiên cứu cho rằng, sự tăng điểm số ở nhóm
ĐC chỉ là vấn đề ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình học tập và vui chơi của trẻ ảnh hưởng của
nhiều yếu tố khách quan bên ngoài vì điểm số tăng không đáng kể. Ở nhóm TN thì điểm TB
tăng lên một cách đáng kể từ 28.27 điểm trước TN lên 34.93 điểm sau TN (tăng 6,66 điểm).
Điều này cho ta thấy tính hiệu quả của quá trình TN.
Tính hiệu quả của quá trình TN còn được thể hiện ở sự tương đồng về điểm số của trẻ
đạt được trong quá trình TN với điểm số của trẻ sau TN trong bảng 2.4.9 sau:
22
Bảng 2.4.9: Điểm TB của trẻ trong quá trình TN và điểm sau khi TN
Tên trẻ
Điểm TB trong quá trình TN
Điểm sau khi TN
Nguyễn Thị Kim Y
11
34
Trần Thị Thúy V
12.3
36
Hoàng Vĩnh Bảo H
12
30
Nguyễn Đỗ Trúc M
13.5
38
Trương Thị Hoài N
13
34
Nguyễn Mai Thành Đ
11.3
31
Lê Trung T
11.8
32