BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGỮ VĂN
*********
TIỂU LUẬN
ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC DÂN GIAN
GIẢNG DẠY VĂN HỌC DÂN GIAN
THEO TÍNH TRUYỀN THỐNG
GVHD: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGỌC ĐIỆP
Sinh viên thực hiện: LÂM MINH TRÍ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
2
MỤC LỤC
Qui ước các từ viết tắc
VHDG: Văn học dân gian
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
3
4
kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau. Sự kết hợp này là tự
nhiên, vốn có ngay từ khi tác phẩm mới hình thành. Một baì dân ca trong đời
sống thực của nó , không chỉ có lời mà còn có nhạc, điệu bộ, lề lối hát…- Biểu
hiện cụ thể của tính nguyên hợp là tính biểu diễn. Văn học dân gian có ba
dạng tồn taị: tồn tại ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian) , tồn taị cố
định ( tồn taị bằng văn tự ), tồn taị hiện ( tồn taị thông qua diễn xướng). Tồn
taị bằng diễn xướng là dạng tồn taị đích thực của văn học dân gian . Tuy
nhiên ,không thể phủ nhận hai dạng tồn tại kia; bởi vì như vậy sẽ dẫn tới phủ
nhận khoa học về văn học dân gian và công việc giảng dạy văn học dân gian
trong nhà trường.
Trở lại vấn đề,chính trong biểu diễn ,các
phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn học dân gian mới có điều kiện kết
hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp. Sự kết hợp nầy một mặt là
biểu hiện của tính nguyên hợp, một mặt là lẽ tồn tại của tính nguyên hợp.
b. Tính tập thể
Văn học dân gian là sáng tác của nhân dân, nhưng không phải tất cả nhân
dân đều là tác giả của văn học dân gian. Cần chú ý vai trò của cá nhân và quan
hệ giữa cá nhân với tập thể trong quá trình sáng tác, biểu diễn, thưởng thức tác
phẩm văn học dân gian.Tính tập thể thể hiện chủ yếu trong quá trình sử dụng tác
phẩm. Vấn đề quan trọng ở chỗ nó được mọi người biểu diễn, thưởng thức hay
không, nó đã đạt mức thành tựu hay không. Trong quá trình đó, tập thể nhân
dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác phẩm. Quan hệ giữa truyền thống
và ứng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa các nhân và tập thể. Truyền thống
có quan niệm cho đó chỉ là sự tam sao thất bản. Thật ra tính dị bản thường được
xem ở dangh văn bản cố định. Như chúng ta thấy VHDG vừa là văn học vừa là
văn hóa. Quy luật vận hành các tác phẩm VHDG nói riêng, của toàn bộ nền
VHDG nói chung nằm trong tiến trình văn hóa của dân tộc. Thế nên tính dị bản
của VHDG nói chung cũng như số phận một tác phẩm VHDG tong quá trình dị
bản này nảy sinh dị bản cũng là một sự vận động hợp quy luật. Đặc trưng dị bản
của VHDG biểu hiện ở nhiều cấp độ. Có thể đó chỉ là một sự khác biệt trong
cách gọi tên một truyện kể. Dị bản có thể chỉ là một từ, một mô thức câu mở
đầu một bài ca dao, nhưng dị bản còn nhiều khi nằm sâu trong các hình thức cấu
trúc tác phẩm giữa các văn bản như là sự thiếu khuyết hoặc khác biệt mtj số chi
tiết, tình tiết, motip, hình ảnh, biểu tượng,...Tất nhiên mọi sự biến đổi và thay
thế bao giờ cũng có giới hạn. Vượt quá giới hạn dị bản trở thành một tác phẩm
6
mới, thậm chí theo đó còn có cả sự chuyển hóa thể loại. Do đó, có thể nói tính
dị bản là một đặc trưng của VHDG.
2. Chương trình giảng dạy VHDG trong nhà trường phổ thông
2.1. Vị trí của VHDG trong chương trình văn học ở phổ thông
VHDG là một bộ phận quan trọng trong nền văn học Việt Nam, “là cội
nguồn là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng tân hồn dân tộc Việt Nam”. Từ thuở còn
nằm trong nôi, chúng ta đã được nghe những lời ru ngọt ngào, êm ái của bà,
của mẹ. Lớn lên những bài giao duyên đối đáp lại mạng ta đến với nghĩa tình
chồng vợ. Vì vậy VHDG chính là lời ăn tiếng nói của người lao động, là cái gần
gũi và thân thuộc nhất trong sâu thẳm tâm hồn mỗi con người chúng ta.
Việc giảng dạy VHDG trong nhà trường phổ thông là vô cùng cần thiết
và đáng được quan tâm chú trọng hàng đầu. Khi giảng dạy VHDG chúng ta
không chỉ giúp HS khám phá được cái hay, cái đẹp của sáng tác nghệ thuật
đến VHDG thông qua phân môn kể chuyện và tập đọc. Đến cấp THCS thì VHDG
được HS tiếp nhận ở phân môn giảng văn và hướng dẫn đọc thêm. Thế
nhưng, việc tiếp thu của HS còn thấp nên VHDG chỉ được biết đến thông qua
một số thể loại ngắn gọn, dễ hiểu như ca dao, tục ngữ, câu đố,... Bước sang
bậc THPT thì VHDG được xếp thành một chương, được bắt đầu bằng một bài
khái quát, tiếp theo đó là các thể loại của VHDG được HS tiếp nhận thông qua
các bài đọc văn chọn lọc từ kho VHDG. Có thể nói rằng, VHDG trong nhà
trường THPT đã đảm bảo đầy đủ các thể loại của VHDG. Trong các phân môn
của SGK Ngữ Văn THPT thì giảng văn chiếm một vị trí quan trọng với hơn
50% là các bài giảng về các thể loại văn học ở nhiều giai đoạn. Bởi thế, VHDG
cũng chiếm một số lượng đáng kể trong nhà trường THPT.
2.2. Chương trình giảng dạy
VHDG được giảng dạy ở cả 3 cấp học, từ tiểu học, THCS, THPT. Nhưng
trong phạp vi tiểu luận này chỉ đề cập đến việc vận dụng giảng dạy VHDG
theo tính truyền thống vào các tác phẩm dân gian ở cấp THCS và cấp THPT.
Lớp 6
Lớp 7
Lớp 10 (cơ bản và nâng
cao)
8
Con rồng cháu tiên
Những câu hát về tình
cảm gia đình
Rama buộc tội
Tấm cám
Tam đại con gà
Nhưng nó phải bằng hai
mầy
Ca dao than thân, yêu
thương, tình nghĩa
Ca dao hài hước
Lời tiễn dặn người yêu
(đọc thêm)
Đẻ đất đẻ nước (đọc
thêm)
Tháng giêng, tháng hai,
tháng ba, tháng bốn...
(đọc thêm)
Mười tay (đọc thêm)
Tục ngữ về đạo đức, lối
sống
Lợn cưới áo mới
2.3. Mục đích, yêu cầu của việc giảng dạy tác phẩm VHDG
Chương trình VHDG được giảng dạy xuyên suốt ở các cấp học. Mỗi cấp
học đều có sự kế thừa, nâng cao. Các thể loại trong chương trình khá phong
phú. Các tác phẩm. Trích đoạn đặc sắc, tiêu biểu cho đặc trưng từng thể loại.
Chương trình đã giúp HS có cái nhìn gần về một bộ phận văn học của người
lao động. Vì vậy trong quá trình giảng dạy cần truyền đạt những kiến thức
trọng tâm đến HS và có cái truyền thụ và tiếp nhận phù hợp.
Mục đích của việc giảng dạy VHDG trong nhà trường phổ thông là giúp
HS hiểu được giá trị nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm dân gian. Thấy
+ Tiếp cận cận văn học dân gian bằng thi pháp của văn học viết, phân
tích các yếu tố nghệ thuật của văn học dân gian như phân tích các yếu tố đó
của văn học viết: Ví dụ: tiếp cận tác phẩm An Dương Vương- Mị Châu và
Trọng Thủy nhiều người đi phân tích diễn biến tâm lý nhân vật Mị Châu rồi
chỉ ra là cô khờ dại
10
+ Chỉ phân tích một cách cô lập trên văn bản ngôn từ mà không đặt tác
phẩm văn học dân gian vào trong môi trường dân gian, thời điểm phát sinh
và sự lưu truyền trong đời sống nhân gian để khai thác tức là chỉ chú ý đến
yếu tố văn chương mà chưa quan tâm đến những yếu tố phi văn chương của
nó. Đây là cách dạy văn học dân gian khá phổ biến ở trong nhà trường THPT.
Phân tích ca dao giáo viên mới chú ý ở phần lời chứ chưa chú ý ở phần nhạc,
phần điệu lý. Phân tích sử thi mới chỉ bám vào phần văn bản chứ chưa đặt tác
phẩm trong môi trường diễn xướng của nó.
Hai là: Ngược lại với khuynh hướng trên là khuynh hướng xóa
nhòa ranh giới giữa khoa nghiên cứu văn học dân gian với các khoa học liên
quan như dân tộc học, lịch sử, xã hội học, văn hóa học, phong tục học… làm
cho bài dạy mất đi những thông tin thẩm mĩ mà chỉ còn lại bức tranh xã hội
khô cứng. Biểu hiện như sau:
+ Coi tác phẩm văn học dân gian chỉ là điểm xuất phát, cái cớ để giải
thích các vấn đề xã hội, lịch sử, dân tộc, tục lệ…phân tích Đăm Săn lại nghiêng
về tục nối dây, phân tích An Dương Vương- Mị Châu và Trọng Thủy để giải
thích lễ hội Cổ Loa
+ Từ tác phẩm văn học dân gian liên tưởng mở rộng, dẫn dắt học sinh
là chưa đúng bàn chất của tác phẩm văn học dân gian, hoặc là quá sa đà với
những yếu tố phi văn chương.
Tuy nhiên cũng có nhiều thầy cô tâm huyết, họ đã dạy văn học dân
gian như nó vốn có trong đời sống thực của dân gian, tức là tiếp cận văn học
dân theo tinh thần Folklore học.Nhưng thời lượng tiết dạy quá ít nên không
chuyển tải hết được vẻ đẹp về nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm.
Một thực trạng hiện nay là học sinh ngày càng xa rời với môn văn, đặc
biệt là với văn học dân gian và văn học trung đại . Phải chăng do hai bộ phận
này không nằm trong chương trình thi đại học hay do xu hướng công nghiệp
hóa và hiện đại hóa trên toàn cầu đã và đang in rất đậm dấu ấn của nó trong
tâm lý và tính cách của học sinh. Tầm vóc văn hóa cũng như năng lực tư duy
của học sinh càng ngày càng hiện đại, và chịu ảnh hưởng rất lớn của nền
công nghiệp. Lối tư duy cũ của nền văn minh cây lúa nước, lũy tre làng phải
nhường bước cho lối tư duy điện tử, điện toán … . Đó là thực trạng đau lòng.
Thế hệ học sinh có khoảng cách khá xa về nhiều mặt với cái thế giới của
văn học dân gian. Các em chưa hiểu được đặc trưng, vai trò của văn học dân
12
gian vì thế các em học văn học dân gian với tâm thế của việc học văn học viết.
Dẫn đến việc các em có nhiều suy diễn không hợp lý về tác phẩm văn học dân
gian. Nhiều em có thái độ xem nhẹ bộ phận văn học dân gian, học theo kiểu
cưỡi ngựa xem hoa.
Mặt khác do chưa có nhận thức đúng đắn về vị trí và vai trò của văn học
dân gian ở cả hai phía người dạy và người học, nhiều giáo viên chưa chú ý
đến phương pháp giảng dạy đặc thù của văn học dân gian dẫn đến việc học
tập văn học dân gian chưa được như mong muốn.
II. Giảng dạy VHDG theo tính truyền thống
phản ánh quy luật sáng tạo và dặc trưng của VHDG. Mỗi tác phẩm dân gian
đều xây dựng trên một loạt các yếu tố truyền thống nên khi tìm hiểu phân
tích, ta phải dựa vào hệ thống và khai thác các yếu tố trong các hệ thống này.
Đồng thời công thức truyền thống cũng có mối liên hệ chặt chẽ với vấn đề
hiện thực được phản ánh trong Folklore. Đây là một hiện thực đã được
truyền thống chọn lọc, khái quát. Chẳng hạn để nói về một vùng quê giàu đẹp,
con người thanh lịch, giỏi giang, ca dao dân ca đã có sẵn một hiện thực trong
truyền thống thể hiện qua các công thức địa danh , phong cảnh như “ đường
vô quanh quanh”, “ phong cảnh hữu tình”, “như tranh họa đồ”, về con người
như “gái đảm trai tài”, “trai hiền gái lịch”. Công thức truyền thống có nền tảng
văn hóa, dân tộc sâu sắc. Công thức trầu – cau gắn bó mật thiết với tục ăn
trầu, mời trầu của nhân dân. Từ đó hình thành một loạt các hình ảnh trầu
cau như trầu gặp gỡ làm quen, trầu thề nguyền chung thủy, trầu gả bán
thách cưới,...Hay công thức “cây đa” có nguồn gốc từ tục thờ Thành hoàng
lâu đời ở các làng xã. Công thức “bến nước – con đò” xuất hiện và bắt rễ từ
văn hóa sông nước của Việt Nam. Từ tầng nền văn hóa, dân tộc đến ý nghĩa
của công thức truyền thống là quá trình biến đổi tái tạo sinh động. Việc tìm ra
cái cốt, cái lõi văn hóa khi phân tích là cần thiết bởi đó lad cuộc sống bền lâu
của các công thức thể hiện qua từng tác phẩm.
Nghiên cứu về các mẫu đề truyền thống ta thấy mỗi mẫu đề là một
chỉnh thể thống nhất . nó là văn cảnh cụ thể trực tiếp của một tác phẩm dân
14
gian. Cấu trúc của mỗi tác phẩm là sự vận động từ công thức truyền thống
này đến công thức truyền thống khác trên cơ sở qui định chặt chẽ của mẫu
đề. Đặc điểm này là một trong những nguyên nhân khiến các thể loại trong
VHDG giữ được tính truyền thống, mặc khác vẫn sáng tạo không ngừng.
VHDG được ưa thích vì đã gia nhập được vào tính truyền thống tập thể, vào
đời của dân tộc
2.2.1. Mục tiêu cần đạt
Việc vận dụng tính truyền thống vào việc giảng dạy một tác phẩm
VHDG thực sự không đơn giản. Nhưng việc vận dụng thành công phương
pháp này sẽ giúp bài giảng đến với HS một cách dễ dàng và giúp tiết dạy có
thêm phần sinh động. Như đã biết, tính truyền thống xuất hiện hầu hết ở các
tác phẩm dân gian. Từ cốt truyện, kiểu truyện như người mồ côi, người em
út, người xấu xí,...đến các công thức quen thuộc như công thức thơ lục bát
trong ca dao, công thức mở đầu bằng các cụm từ như “ thân em như”, “chiều
chiều”,...Chính tính truyền thống đã tạo ra một khuôn mẫu có sẵn cho VHDG,
mà từ đó các tác giả dân gian có thể sáng tác các tác phẩm mới dựa trên các
công thức này. Mặc khác, đa phần các sáng tác dân gian là của người dân lao
động, họ sáng tác ngay trên đồng ruộng, ngay cả lúc cấy lúa giăng câu, lúc
dốt đồng cày xới, hay cả lúc tâm tình của những đôi trai gái, vì vậy cần có một
khuôn mẫu sẵn để tác phẩm mới hình thành một cách nhanh gọn, nên mới có
tính truyền thống này.
Trong nhà trường, các tác phẩm dân gian đa phầm khá quen thuộc với
HS. Nên việc tiếp cận và tìm hiểu phân tích cũn khá dễ dàng. Nhưng nếu chỉ
chú trong phân tích mà không hiểu được bản chất của tác phẩm thì cũng chỉ
là con số không. Để vận dụng đưa tính truyền thống vào việc giảng dạy tác
phẩm dân gian, GV cần có những chuẩn bị, sáng kiến hay, độc đáo, để làm thế
nào HS vừa học đúng theo thời lượng chương trình mà còn biết thêm nhiều
đặc điểm, nhiều đặc sắc của VHDG. GV cần bám sát vào tính truyền thống
trong các tác phẩm để tổ chức mở rộng cho HS hiểu rõ hơn.
Ví dụ để giảng dạy các tác phẩm truyện cổ tích, GV cho học sinh tìm
hiểu về các kiểu truyện tương tự như kiểu truyện về người con gái bất hạnh
16
17
Chiều chiều chim rét kêu chiều
Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau
***
Chiều chiều ai đứng hàng ba
Quần đen áo trắng nết na diệu dàng
Bằng những cách mở đầu mang tính công thức như vậy, GV có thể cho
HS thi tìm các câu ca dao có cùng công thức mở đầu. Như vậy có thể giúp các
em tư duy cao trong quá trình tìm hiểu và biết được nhiều câu ca dao dân ca.
Ngoài ra còn có thể vậ dụng các công thức có sẵn cho các em tham gia
sáng tác trực tiếp các câu ca dao bằng việc thay thế một số từ ngữ trong một
câu ca dao có sẵn. Các em sẽ cảm thấy hăng say trong quá trình học tập.
Không những HS tìm hiểu được tính truyền thống trong VHDG mà còn tìm
hiểu được nhiều đặc trưng khác của VHDG như tính dị bản – từ việc tham gia
sáng tác theo mẫu có sẵn. Hiểu được đặc trưng từng thể loại dân gian thông
qua tính truyền thống (thể thơ lục bát trong ca dao, yếu tố thần kì trong
truyện cổ tích,...)
Như vậy việc áp dụng tính truyền thống vào giảng dạy VHDG trong nhà
trường phổ thông là hết sức hiệu quả và rất cần thiết trong thời buổi đổi mới
giáo dục phổ thông.
2.2.2. Thuận lợi
Việc vận dụng các phương pháp mới vào giảng dạy trong nhà trường
đang được rất nhiều người quan tâm. Cần thay đổi cách dạy học truyền thống
để HS dễ dàng tiếp thu trong quá trình học tập, mà không bị gò bó quá lớn.
Phương pháp ứng dụng tính truyền thống trong VHDG vào giảng dạy tác
phẩm dân gian đã đáp ứng được những nhu cầu trên. Với hình thức vừa học
vừa chơi như vậy giúp HS thoải mái nên dễ dàng tiếp thu bài học. Giảng dạy
+ Bước 2: GV dạy lớp đối chứng sẽ dạy lớp thực nghiệm bằng bài học thiết kế
theo phương pháp giảng dạy theo tính truyền thống.
+ Bước 3: Phát phiếu kiểm tra đánh giá năng lực HS sau tiết dạy.
Đối tượng thực nghiệm bao gồm : lớp thực nghiệm, và lớp đối chứng, có chất
lượng tương đối đồng đều về mặt kiến thức, đồng thời số lượng HS, giới tính
và điều kiện cơ sở vật chất phải tương đương nha.
Trường THPT Nguyễn Trãi có các lớp thực nghiệm và đối chứng như sau:
10A1 và 10A2
19
1.2. Chọn và thiết kế bài lên lớp thực nghiệm
Chọn bài trong chương trình VHDG lớp 10 ban cơ bản (tập 1) bao gồm:
“ Ca dao than thân yêu thương và tình nghĩa.”
Bài giảng cùng thực hiện theo hai mô hình khác nhau: cùng một GV
dạy lớp thực nghiệm , lớp đối chứng và dạy cả hai giáo án. Đề kiểm tra các
lớp thực nghiệm và lớp đối chứng chung một đề. Sau khi thực nghiệm sẽ phát
phiếu kiểm tra kiến thức tiếp thu , sau đó xử lý số liệu phần trăm (phần giáo
án bài giảng và nội dung kiểm tra kiến thức trong phần phụ lục).
2. Đánh giá và so sánh kết quả thực nghiệm
Sau quá trình thực nghiệm sư phạm ở 2 lớp 10A1(lớp thực nghiệm) và
10A2 (lớp đối chứng) ở trường THPT Nguyễn Trãi (Tây Ninh), thu được kết
quả sau:
Lớp
Sỉ số
10A1
%
20
%
26 65
%
7
8
2
5
1
1
%
62,5
%
27.5
%
9 %
10
5 12.5
%
2 5%
Như vậy ta được đồ thị :
Ta thấy qua quá trình thực nghiệm ứng dụng tính truyền thống vào
việc giảng dạy các tác phẩm dân gian trong nhà trường phổ thông, đa số HS
21
KẾT LUẬN
Trong thời kì đổi mới giáo dục toàn diện, việc tìm ra các phương pháp
dạy học mới đang hết sức cần thiết. VHDG là nền văn học nguồn cội của dân
tộc vì vậy cần được truyền thụ đến với bộ phận HS trong nhà trường phổ
thông một cách toàn diện. để các em có thể hiểu sâu và học hỏi được những
giá trịnh đạo đức, lối sống, tinh thần của ông cha ta qua các tác phẩm dân
gian. Nhưng việc truyền thụ một cách một chiều đến HS gây ra nhiều trở ngại
giáo dục. Việc vận dụng tính truyền thống vào giảng dạy VHDG trong nhà
trường phổ thông như cơn mưa đang tắm mắt và gội rửa để những mầm
xanh vươn lên trong tương lai. Đó là một phương pháp học tích cực về nhiều
mặt, vừa giúp HS năng động, chủ đông trong quá trình học tập, vừa giúp các
em lĩnh hội kiến thức một cách nhanh chống. Vậy nên việc vận dụng các
phương pháp mới đã và dang được ủng hộ rất nhiều. Chúng ta cần vận dụng
một cách sáng tạo chúng vào quá trình đổi mới giáo dục theo những nhu cầu
của cuộc cải cách giáo dục. Vận dụng phương pháp dạy học tác phẩm dân
gian theo tính truyền thống tuy còn nhiều thiết sót trong quá trình thực hành
sư phạm. Nhưng qua đó tôi hy vọng sẽ khẳng định được phần nào ưu thế của
phương pháp này. Với hi vọng phương pháp này sẽ được áp dụng rộng rãi
trong các giờ dạy VHDG trong nhà trường phổ thông, để VHDG ngày càng trở
nên gần gũi với HS góp phần nảy nỡ những tâm hồn của các em đưa các em
đến với những cái hay cái đẹp trong VHDG.
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh Gia Khánh (chủ biên), Văn học dân gian Việt Nam,
động và những suy nghĩ của họ
II. Tiến trình bài dạy
1. Kiểm tra bài cũ: Không kiểm tra
2. Bài mới
* Lời vào bài (1’): Ra đời trong xã hội cũ, ca dao trữ tình là những tiếng
hát than thân, những lời ca yêu thương tình nghĩa cất lên từ cuộc đời còn
nhiều cơ cực, đắng cay nhưng đằm thắm ân tình của người bình dân Việt
Nam. Đó là những tiếng ca cất lên từ cuộc sống, giản dị nhưng đằm thắm và
sâu sắc, đầy ắp những nghĩa tình...Để hiểu thêm điều đó chúng ta cùng vào bài
học hôm nay…
* Nội dung bài mới
Hoạt động của GV và HS
Yêu cầu cần đạt
GV: Yêu cầu HS đọc tiểu dẫn và trình I. Tìm hiểu chung (15’)
bày định nghĩa, phân loại, đặc điểm 1. Định nghĩa ca dao (Tham khảo
nghệ thuật của ca dao? Từ đó đề xuất bài: Khái quát VHDG Việt Nam)
phương pháp tìm hiểu bài học?
2. Phân loại: có 3 nhóm
HS: Đọc tiểu dẫn và trình bày khái - Ca dao than thân: là những câu hát
quát
cất lên từ những cuộc đời còn nhiều
xót xa cay đắng
- Ca dao yêu thương tình nghiã là
những bài ca dao diễn tả tình yêu
24
thương, ân tình, nghĩa tình như: tình
cảm gia đình, bạn bè, tình yêu lứa đôi,
HS: Phát hiện, trả lời
“thân em như...”. Lối mở đầu này xác
định rõ đây là lời than thân của
GV: Tổ chức trò chơi “Ai nhanh người phụ nữ. Đồng thời, còn gợi lên
hơn”
sự ngậm ngùi, xót xa, cảm thương, có
25
Hình thức trò chơi: chia lớp thành
2 nhóm (tương đương 2 dãy bàn
học)
Cho HS thi nhau tìm hiểu và lên
bảng viết những câu ca dao có mở
đầu công thức “thân em như”.
Nhóm nào viết được nhiều câu ca
dao và nhanh nhất nhóm đó thắng.
HS: Tham gia trò chơi
GV: Đưa ra một số đáp án:
Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn
hoa
Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày…
Hoặc
Thân em như giếng giữa làng
Người thanh rửa mặt người phàm
rửa chân
Thân em như lá đài bi
GV khẳng định: Như vậy ca dao có bán.
cả một hệ thống những bài mở đầu
bằng “thân em như..” được xem
như lời chung của người phụ nữ
trong xã hội xưa. Hình thức lặp lại
với một tần số khá lớn đã nói lên
họ là những người khổ nhất trong