TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA LUẬT VÀ QUẢN LÝ XÃ HỘI
TẬP BÀI GIẢNG
MÔN NHỮNG VẤN ĐỀ LỚN CỦA THỜI ĐAI VÀ KHOA HỌC LÃNH
ĐẠO, QUẢN LÝ HIỆN ĐẠI
Thái Nguyên, năm 2014
Chương I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỜI ĐẠI NGÀY NAY
I. Khái niệm thời đại và nhận diện thời đại
1.1.Quan niệm về thời đại
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự chuyển biến của nó đang
thay đổi hàng giờ, nhiều vấn đề tưởng như đơn giản của thời gian trước (thập kỷ
trước, năm trước, tháng trước) thì đến nay đã trở lên phức tạp, khó lường.
Ngược lại nhiều vấn đề tưởng như không có lời giải của quá khứ hoặc phải tìm
kiếm lời giải khó khăn lâu dài thì đã được giải quyết nhanh chóng khó tin.
Chúng ta có thể chứng minh điều này qua các vấn đề ví dụ sau:
Ví dụ thứ nhất: Những năm 1990 ai đó nêu ra ra vấn đề
mọi người phải có nước sạch để uống và không khí trong lành
để thở đối với con người, hầu hết mọi người cho rằng đó là
điều vô bổ, lo xa. Vì không gì nhiều bằng nước và không khí –
Nhưng chỉ 20 năm sau mọi người sẽ tự trả lời được vấn đề này
và hiểu được tầm nhìn của người đặt vấn đề. Khi mà nước sạch
ngày càng trở nên hiếm hoi và không khí trong lành là khát
vọng của nhiều quốc gia (TP Bắc Kinh của Trung Quốc tháng
12/2012 phải ban bố tình trạng khẩn cấp về ô nhiễm không khí
và nước sạch, Châu phi năm 2010 có tới gần 5 triệu người chết
quan trọng hơn nhiều- đó là lựa chọn con đường đi cho mình, quyết định tương
lai, vận mệnh dân tộc. Nội dung mà chúng ta đang nói đến chính là: “vấn đề
thời đại’’. Vậy thời đại là gì, từ trước đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về
vấn đề này, điều đó tùy thuộc vào thế giới quan, lợi ích giai cấp, bối cảnh lịch
sử, tầm nhìn, giác độ nhìn nhận của người nêu ra vấn đề.
Từ cổ xưa các nhà triết học đã bàn đến nó ở cả phương Đông và phương
Tây: Phương Đông là các đại biểu Khổng Tử, Lão Tử, các ông thường trăn trở
về các vấn đề thời cuộc, về tương lai của một thế giới đại đồng...ở phương Tây
cũng có đại biểu: Platon, Aristop, Smill...vạch ra một thế giới con người tự do
và chủ thể của xã hội....các đại biểu triết học giai đoạn này hình thành nên khái
niệm thời đại chủ yếu là quan sát, chiêm nghiệm và kết luận từ trực quan cảm
tính, được nhấn mạnh qua các yếu tố bàn đến là: “ biết người biết mình – việc gì
cũng thắng” hoặc bàn về “chữ Thời”, là thời thế, thời cuộc trong kinh dịch,
trong binh pháp, trong kinh của nhà phật, kito giáo....hay một “nhà nước lý
tưởng” của Platon...
3
Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, tri thức xã hội ngày càng nhiều
lên, khoa hoc kỹ thuật ra đời từ giai đoạn thấp dần đến cao, văn minh thay thế
cho lạc hậu, cổ hủ...tri thức xã hội đặc biệt là tri thức khoa học ngày càng góp
phần to lớn cải biến thế giới ảnh hưởng đến quan điểm, quan niệm, cách nhìn,
góc nhìn của các nhà triết học do đó nhiều quan điểm phân chia thời đại với các
cách tiếp cận mới hình thành. Trong lịch sử đã từng xuất hiện cách chia thời đại
khác nhau hàm chứa những quan niệm phong phú về phạm trù thời đại. Chúng
ta có thể kể đến các đại biểu sau đây:
- Nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng pháp Phurier 1772 – 1837 chia lịch
sử phát triển xã hội loài người thành bốn giai đoạn: Mông muội, dã man, gia
trưởng, văn minh.
chí nền văn minh dường như nhấn mạnh yêu tố chuyến biến tinh thần nhiều hơn
các yếu tố vật chất.
Ba là: Tiếp cận qua việc phân chia sự phát triển và thay thế nhau giữa
các hình thái kinh tế xã hội, với cách tiếp cận này thì xã hội loài người đã trải
qua 05 thời đại lần lượt là: Cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong
kiến, tư bản và cộng sản chủ nghĩa. Phần này đã tìm hiểu rõ qua triết học
Mác- Lê nin về học thuyết hình thái kinh tế xã hội.
Những cách phân chia này, tuy phản ánh khá rõ một mặt nào đấy của
lịch sử, nhưng không vạch ra được tính chất xã hội của từng giai đoạn lịch sử,
cũng như động lực thúc đẩy sự thay thế lẫn nhau giữa các thời đại trong tiến
trình vận động của xã hội loài người. Và xét về cá thể hóa của mỗi chủ thể không
cung cấp cho bản thân mỗi người những nhận thức tổng quát nhất có lợi cho mình để
phấn đấu thành công theo hoài bão, khát vọng mà cá nhân mong đợi.
1.2. Quan niệm vấn đề thời đại theo quan điểm học thuyết Mác -Lê nin
Trong một xã hội có nhiều trường phái, quan điểm khác nhau suy đến
cùng mỗi cá nhân đều phải tuân thủ một hệ quy chiếu nhận thức chuẩn; với
các ngành khoa học xã hội ở Việt Nam hệ quy chiếu đó là Chủ nghĩa Mác
-Lênin, do vậy quan điểm về vấn đề thời đại phải dựa trên quan điểm MácLênin là quan điểm chính thống vì tính chân chính khoa học của nó.
Chủ nghĩa Mác - Lênin xem xét một cách khoa học vấn đề thời đại trên cơ
sở phương pháp luận duy vật biện chứng và học thuyết về các hình thái kinh tế xã hội. Ph. Ăngghen nhấn mạnh: "...Trong mỗi thời đại lịch sử, phương thức chủ
5
yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương thức đó
quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thời đại và lịch sử của
sự phát triển trí tuệ của thời đại, cái cơ sở mà chỉ xuất phát từ đó mới cắt nghĩa
được lịch sử..."{5}. Các nhà kinh điển Mác xít cũng vạch rõ một trong những
tiêu chí cơ bản để nhận biết một thời đại cụ thể là xác định giai cấp nào đứng ở
vị trí trung tâm của lịch sử. Mâu thuẫn giữa giai cấp trung tâm với giai cấp đối
kháng với nó tạo thành động lực chủ yếu thúc đẩy sự vận động của thời đại.
đặc trưng cho cả một thời đại lịch sử dài; hai là, đưa ra quá sớm những khẳng
định đối với tương lai, mà đương thời mới chỉ tồn tại dưới dạng những dự đoán.
Hiện nay, chúng ta xây dựng nhận thức về thời đại trên nền tảng học
thuyết Mác xít về các hình thái kinh tế - xã hội và với quan niệm của V.I. Lênin
về thời đại. Với tính cách một khái niệm triết học, thời đại là một phạm trù cơ
bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Với tính cách một phạm trù lịch sử, thời đại
là một giai đoạn lịch sử được phân biệt với các giai đoạn lịch sử khác bởi đặc
điểm bối cảnh, mâu thuẫn, động lực, nội dung, tính chất và phương hướng vận
động cơ bản. Tiêu chí hàng đầu để nhận biết một thời đại cụ thể là xác định giai
cấp nào đứng ở vị trí trung tâm của lịch sử, có vai trò chủ yếu quyết định lôgích
vận động của xã hội loài người.
Phạm trù "thời đại" hiểu theo nghĩa rộng của Mác - Ăngghen, liên quan
trực tiếp đến vấn đề thế giới quan và phương pháp luận trên lĩnh vực lịch sử.
Hiểu theo nghĩa hẹp của V.I. Lênin, "thời đại" trở thành một thuật ngữ chính trị xã hội then chốt. Xét trên cả hai bình diện ngữ nghĩa, khái niệm thời đại, sự hiểu
biết về thời đại, cách thức đánh giá thời đại... tạo thành một trong những cơ sở
xuất phát điểm cho các đảng phái, nhà nước, tổ chức quốc tế ... hoạch định
đường lối chiến lược và sách lược của mình. Chính vì có vai trò, vị trí quan
trọng như vậy, "thời đại' đang trở thành một trong những tiêu điểm của cuộc đấu
tranh tư tưởng - lý luận hết sức phức tạp hiện nay.
Kết luận: Thời đại là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử
phân biệt những nấc thang phát triển xã hội loài người. Dựa trên những cơ sở
khác nhau, có thể có sự phân chia thời đại khác nhau. Việc nghiên cứu thời đại
lịch sử có một ý nghĩa to lớn. Có hiểu được thời đại chúng ta đang sống là thời
đại nào thì chủ thể mới có thể định ra đúng đắn chiến lược và sách lược và chỉ
trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của thời đại, chủ thể mới có thể tính
7
đến những đặc điểm chi tiết của xã hội, địa bàn mình đang sống, mới toan tính
cho sự thành bại của tổ chức và cá nhân. Nói cách khác như Hêghen: Mỗi dân
thế đế quốc) với nội dung sinh động như: chống tự do hoá tư bản chủ nghĩa,
chống tư bản tài chính lũng đoạn, chống độc quyền tư bản toàn cầu, chống toàn
cầu hoá tư bản chủ nghĩa…
Thời đại (theo nghĩa rộng) xuất hiện từ những điều kiện vật chất khách
quan, trên cơ sở mâu thuẫn biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất trên quy mô toàn thế giới. Thời đại ngày nay xuất hiện từ những điều kiện
vật chất do sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp tạo ra và trên cơ sở các
mâu thuẫn cơ bản tồn tại ngay trong xã hội tư bản. Bởi vậy, những biến động
lịch sử những năm qua không hề làm thay đổi tính chất và nội dung của thời đại
ngày nay. Đó vẫn là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội
trên phạm vi thế giới, mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917; là
thời đại đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ
nghĩa xã hội, gắn liền với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tạo ra
những tiền đề vật chất - kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho việc chuyển lên chủ nghĩa xã
hội trong tương lai.
2. Đặc điểm, xu thế vận động của thế giới trong thời đại hiện nay
2.1. Những đặc điểm mới trong giai đoạn hiện nay của thời đại
So sánh thời đại hiện nay (giai đoạn hiện nay) với giai đoạn trước đây được tính từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX về trước có nhiều đặc điểm mới nổi
bật, mang tính đặc trưng để phân biệt:
Một là: Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại có bước phát
triển mạnh mẽ đạt được những kỳ tích to lớn, biến thế giới thành Phẳng, hình
thành nền kinh tế tri thức.
- Do nhu cầu của phát triển, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
diễn ra mạnh mẽ, đạt được nhiều kỳ tích tác động đến tất cả các lĩnh vực của
đời sống mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế hiện nay, cải cách cơ bản lối sống
và nhận thức của con người, thâm nhậm vào mọi ngõ ngách của cuộc sống.
Theo nhiều học giả: Đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng khoa học và công
nghệ hiện đại là ở chỗ khoa học, công nghệ và sản xuất không còn là ba lĩnh
vực tách rời nhau. Trái lại, phát minh khoa học, chuyển hóa thành công nghệ
Nội dung của toàn cầu hóa mở rộng ra mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như
một đòi hỏi khách quan:
10
+ Toàn cầu hóa là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất
hiện đại, đặc biệt là của công nghệ thông tin. Toàn cầu hóa trước hết là biểu
hiện của sự xã hội hóa cao độ lực lượng sản xuất. Toàn cầu hóa đồng thời là
sự phát triển tất yếu theo chiều rộng và chiều sâu của quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghĩa, mặc dầu không phải tất cả các nước tham gia toàn cầu hóa đều là
những nước tư bản. Trung tâm của toàn cầu hóa là các nước tư bản phát triển,
xứ sở của phần lớn công ty xuyên quốc gia trên thế giới.
+ Toàn cầu hóa là một quá trình phức tạp đầy mâu thuẫn, chứa đựng
cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối với các quốc
gia, trong đó có các nước đang phát triển, chậm phát triển chịu nhiều thách
thức gay gắt hơn cả.
+ Toàn cầu hóa có tác dụng nhất định trong việc thúc đẩy xu thế hòa
bình, hợp tác để phát triển. Toàn cầu hóa tháo dỡ các rào cản đối với tự do
thương mại, làm cho giao lưu kinh tế diễn ra mạnh mẽ nhanh chóng. Toàn
cầu hóa tạo môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt buộc các nước phải có
tư duy năng động, có cơ chế quản lý, bộ máy quản lý hoạt động có hiệu quả.
Toàn cầu hóa và cách mạng thông tin tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc
tiếp cận nhanh chóng những thành tựu văn hóa, khoa học của loài người đồng
thời có điều kiện đóng góp tích cực vào sự phát triển của văn minh nhân loại.
Bên cạnh tác dụng tích cực nói trên, toàn cầu hóa tạo ra những thách
thức và nguy cơ không nhỏ đối với các nước, nhất là các nước đang phát
triển. Toàn cầu hóa làm tăng tính phụ thuộc của các nước đang phát triển vào
bên ngoài về vốn, công nghệ và thị trường. Toàn cầu hóa kinh tế có tác động
trực tiếp đến lĩnh vực chính trị, đến an ninh quốc gia. Nó tạo ra nguy cơ các
tế xã hội chính trị phức tạp như đói nghèo, bệnh tật, thất học, ô nhiễm môi
trường v.v... Vấn đề cơ bản và bức xúc nhất là vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc
gia dân tộc trước chủ nghĩa đế quốc bá quyền, chủ nghĩa thực dân mới, trước
những mặt tiêu cực của toàn cầu hóa.
Độc lập dân tộc, bình đẳng dân tộc là vấn đề lớn nhất, bức xúc nhất
của thời đại hiện nay. Bóc lột dân tộc tiếp tục là điều kiện tồn tại của chủ
nghĩa tư bản độc quyền. Các dân tộc nhỏ yếu chậm phát triển không những bị
bóc lột mà còn có nguy cơ bị đẩy ra bên lề cuộc sống hiện tại. Hố ngăn cách
giữa "khu vực trung tâm" và "khu vực ngoại vi" của thế giới tư bản ngày
12
càng sâu rộng thêm. Các chính sách đế quốc tiếp tục được áp dụng đối với
các nước đang phát triển, trong đó nguy hiểm nhất là chính sách xâm lược
chia để trị, can thiệp trắng trợn vào nội bộ các nước. Mỹ đang thi hành chính
sách đế chế ngay trong thời đại văn minh.
Bốn là: Quan hệ giữa các nước lớn đang chi phối thế giới hiện đại nhân tố rất quan trọng tác động đến sự phát triển thế giới
Trong số hơn 200 quốc gia, một số cường quốc có sức chi phối lớn đối
với chính trị, kinh tế thế giới và quan hệ quốc tế đương đại. Căn cứ vào sức
mạnh tổng hợp, ảnh hưởng thực tế, những quốc gia sau đây được cộng đồng
thế giới xem là nước lớn: Hoa kỳ, Canada, Braxin, Nga, Anh, Pháp, Đức,
Italia, Trung Quốc, Nhật Bản, ấn độ:
+ Các nước lớn và quan hệ giữa các nước lớn có vai trò đặc biệt quan trọng
đối với sự phát triển thế giới. 11 nước lớn chiếm 1/3 lãnh thổ và quá nửa dân số thế
giới, hơn 70% GDP của cả thế giới. Đa số nước lớn là những cường quốc hàng đầu
về kinh tế, khoa học, công nghệ, sức mạnh quân sự. Có 5 nước lớn là uỷ viên thường
trực Hội đồng bảo an LHQ. Nhóm G7 là những nước tư bản phát triển nhất.
+ Các nước lớn không phải một khối thống nhất mà là một tập hợp đầy mâu
thuẫn. Quan hệ giữa các nước lớn gồm nhiều loại: đồng minh, liên kết, không liên
kết, đối tác, đối thủ, đối thủ trực tiếp, đối thủ tiềm tàng... hết sức phức tạp.
một quân đội mạnh xứng tầm với vị thế kinh tế với những bước đi và lộ trình
phù hợp.
Ấn Độ, Braxin là những nước đang phát triển, không liên kết đang tìm
mọi cơ hội để vươn lên địa vị nước lớn phát triển. Mục tiêu chính trị trước
mắt của hai nước là trở thành uỷ viên thường trực Hội đồng bảo an.
Năm là: Nhân loại đang đứng trước những vấn đề toàn cầu hết sức
bức xúc đòi hỏi phải có sự hợp tác đa phương để giải quyết
Chưa bao giờ nhân loại đang phải đối phó với rất nhiều vấn nạn đòi
hỏi phải có sự hợp tác đa phương để giải quyết. Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Thế giới đứng trước
nhiều vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải
quyết nếu không có sự hợp tác đa phương như bảo vệ môi trường, hạn chế
bùng nổ dân số, đẩy lùi những bệnh dịch hiểm nghèo,chống tội phạm quốc
tế”. Những vấn nạn có từ lâu nhưng chưa bao giờ chúng trở thành vấn đề lớn,
14
nghiêm trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của các quốc gia, tương lai của loài
người tuỳ thuộc một phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề này: Đó là sự
nóng lại của trái đất với vấn đề hiệu ứng nhà kính; vấn đề ô nhiễm môi trường
với việc xử lý rác thải; vấn đề khủng hoảng sinh thái; vấn đề bệnh tật như lây
nhiễm HIV-AIDS-SARS - Dịch cúm gia cầm; Vấn đề đói nghèo, già đi của
dân số một số nước, bất bình đẳng giới tính... Giải quyết những vấn đề này
phụ thuộc vào đường lối của mỗi quốc gia và do đó phong trào quần chúng
đòi giải quyết các vấn đề toàn cầu là một bộ phận của cuộc đấu tranh chung
của nhân dân thế giới.
2.2. Xu thế vận động của thế giới trong thời đại ngày nay
Nhìn vào thế giới hiện đại thấy đầy rẫy nhưng mối quan hệ đan xen, chi
phối, chằng chịt nhau, song nếu phân tích biện chứng nội tại chúng ta sẽ tìm ra
những quy luật, khuynh hướng chung điển hình đó là:
học - công nghệ và quá trình quốc tế hoá để phát triển kinh tế. Đối với các nước
đang phát triển, do sự phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển về trình độ công
nghệ, vốn và chất xám, nên họ đang đứng trước những thách thức lớn. Việc
nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, đấu tranh chống sự áp đặt và
can thiệp của nước ngoài là một xu thế tất yếu trong bối cảnh quốc tế hiện nay.
Cùng với việc khắc phục khó khăn để phát triển kinh tế - xã hội, nhiều nước
đang cố gắng giữ ổn định về chính trị, tạo môi trường hoà bình, thực hiện chính
sách hoà giải, hoà hợp dân tộc nhằm xây dựng một trật tự kinh tế quốc tế công
bằng, bình đẳng và hợp lý.
d. Xu hướng dân chủ hóa đời sống quốc tế như một khát vọng chung của
nhân loại
Sau sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống XHCN tan rã nhiều giá trị dân chủ,
tự do XHCN, bảo đảm quyền công dân trong khuôn khổ nhà nước XHCN bị
thay đổi, nhiều người “hồ hởi” đón chào dân chủ kiểu phương tây, dân chủ
TBCN...song đã nhanh chóng nhận ra bản chất thật sự của kiểu dân chủ mới
(Dân chủ hình thức, dân chủ pháp lý) mà không có bảo đảm cụ thể có thiên
hướng quay lại giá trị đã mất nhưng trên cơ sở tiếp nhận tinh hoa hợp lý của dân
chủ phương tây.
Trong đời sống quốc tế xu thế dân chủ hóa, bình đẳng và ngang quyền nổi
lên như đòi hỏi tất yếu. Bình đẳng và được tôn trọng đã trở thành khát vọng của
16
các quốc gia không phụ thuộc vào vị thế kinh tế, xã hội và địa chính trị. Nhiều tổ
chức liên kết giữa các quốc gia, khu vực, vùng lãnh thổ ra đời đan cài nhau tạo
nên mối quan hệ chằng chịt khó xác định vị thế.
e. Các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu
tranh trong cùng tồn tại hoà bình
Các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh
trong cùng tồn tại hoà bình. Hợp tác và đấu tranh là hai mặt trong quan hệ quốc
vào những ảo tưởng của cuộc sống do xã hội tạo ra.
Nhận diện đúng thời đại là nhận thức đúng về bản thân mình từ đó có ý
thức và trách nhiệm xã hội để chung tay cùng xã hội giải quyết những vấn đề
cấp bách đặt ra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Tập bài giảng: Thời đại và những vấn đề lớn của thế giới hiện nay,
Học viện CT-HC Quốc gia HCM, NXB Chính trị Hành chính năm 2010.
2. Thomas L. Friendman: Thế giới Phẳng, NXB Trẻ, Hà Nội 2008.
3. Phạm Chiến Khu: Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền của Hêghen;
Tạp chí Luật Triết học 06:25’PM – Thứ sáu 01/6/2007.
4. V.I. Lê nin: Toàn tập (tập 20), NXB Tiến bộ, M1980, tr112.
5. C,Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội. 1995, tr.523.
6. N.M. Voskresenskaia, Chế độ dân chủ nhà nước và xã hội, NXB Tri
thức, Hà nội 2008.
7. Nhicolai Zlobin, Trật tự thế giới mới thứ hai – Những vấn đề Địa –
Chính trị nan giải, NXB Chính trị Quốc gia HCM, 2012.
8. Pankaj Ghemawat, Tái hoạch định chiến lược toàn cầu, NXB Trẻ,
2009.
18
Chương II:
CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
1. Quan niệm về khoa học công nghệ
1.1. Khái luận chung
Cuộc cách mạng Khoa học công nghệ (KHCN) hiện nay là bước phát
triển nhảy vọt về chất so với hai các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật (KHKT)
trước đó, khi những tri thức khoa học và yếu tố kỹ thuật chuyển biến nhanh
chóng và trở thành một bộ phận khăng khít của công nghệ, thống nhất hữu cơ
con người là sản xuất ra của cải vật chất, C.Mác đã phát hiện ra hai mặt không
tách rời nhau: Một là quan hệ giữa người với tự nhiên, mặt khác là quan hệ giữa
người với người trong sản xuất. “Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ
với giới tự nhiên. Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau
theo cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau” Quan
hệ giữa người với tự nhiên trong sản xuất chính là lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực hoạt động thực tiễn của con người
trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất là toàn bộ các
lực lượng được con người sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất,
bao gồm: người lao động (với thể lực, tri thức và kỹ năng lao động nhất định) và
tư liệu sản xuất (công cụ lao động). Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất,
người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất. Bằng thể lực, tri thức
và kỹ năng lao động của mình, người lao động sử dụng tư liệu lao động, trước
20
hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật
chất phục vụ cho mình.
Cùng với quá trình phát triển của sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động
của con người nhất là trí tuệ ngày càng được nâng cao dần, con người khi tham
gia sản xuất không còn tác động trực tiếp vào đối tượng lao động mà ngày càng
thông qua các công cụ lao động mới, máy móc thiết bị - các nhân tố kỹ thuật. Kỹ
thuật thông thường được hiểu là toàn bộ các thiết bị, phương tiện, máy móc và
công cụ vật chất nằm trong tư liệu sản xuất để quản lý, khai thác, bảo quản và
chế tạo các sản phẩm dùng cho sản xuất và thỏa mãn các nhu cầu của đời sống
xã hội.
Trong sản xuất và đời sống khoa học và kỹ thuật không tách rời nhau mà
kết hợp với nhau thành một thể thống nhất, khoa học đi sâu nghiên cứu cấu trúc
vật chất như: cấu trúc nguyên tử, gen, xâm nhập với quy mô ngày càng lớn vào
thông qua đó phát hiện ra những quy trình để điều khiển chúng, đó là các “bí
quyết nghề, bí quyết ngành’’ đó là các kỹ năng mà người sản xuất, nghiên cứu
phát hiện ra, cùng với quá trình sáng tạo con người dần không còn trực tiếp thao
tác trực tiếp với máy móc nữa, sản xuất được nâng lên trình độ cao hơn “tự động
hóa’’. Ở đó, đối tượng lao động hoàn toàn là do chính hệ thống kỹ thuật tự vận
hành, hệ thống này hoạt động không cần có sự tham gia trực tiếp của con người
sản xuất. Con người, được giải phóng khỏi việc thực hiện những chức năng máy
móc, kỹ thuật, có khả năng để tiến vào lao động sáng tạo, trình độ văn hoá kỹ
thuật của con người được nâng cao. Khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã
cho phép lực lượng sản xuất tiến những bước khổng lồ. Với những tiến bộ vượt
bậc, sức mạnh to lớn của mình, khoa học kỹ thuật giúp con người có điều kiện
tốt hơn để học tập, nghiên cứu phát triển trí tuệ và con người, với những hoạt
động của mình tác động ngược lại sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thúc đẩy
những tiến bộ xã hội.
Công nghệ, theo nghĩa truyền thống được hiểu là tập hợp các phương
pháp, quy trình, kỹ năng, kỹ thuật, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các
nguồn lực thành sản phẩm. Công nghệ bao gồm nhiều khâu như: điều tra,
nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử đến các vấn đề thông tin, tư vấn, đào tạo
tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm cuối cùng. Công nghệ cũng chính là bản
thân những thao tác khai thác, chế tạo, vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, kiểm tra
22
đó đều là mỗi phần của quá trình sản xuất chung nhằm vào một sản phẩm cuối
cùng nhất định.
Công nghệ gồm bốn thành phần THIO:
+ Thành phần kỹ thuật T (Technoware) hay gọi là vật tư thiết bị.
+ Thành phần con người H (Humanware) -lao động tay nghề.
+ Thành phần thông tin I (Inforware) hay gọi là thông tin tri thức.
+ Thành phần tổ chức quản lý O (Orgaware).
đường cho các khoa học cơ bản hiện đại (vật lý tầng cao, vật lý
thiên thể, hoá học phóng xạ…) và ra đời các ngành công nghệ
cao: công nghệ hạt nhân, vũ trụ…
+ Thuyết lượng tử do Max Planck phát hiện, là bước
nhảy vọt mang tính lịch sử trong nhận thức của con người về sự
vận động và tác dụng tương hỗ của thế giới vật chất vi mô. Nó
không những trở thành cơ sở lý luận của các ngành mới, như:
Vật lý ở trạng thái ngưng tụ, hoá học kết cấu, sinh vật học lý
thuyết; mà còn mở ra cánh cửa lớn dẫn đến sự ra đời của các
ngành công nghệ vi điện tử, quang điện tử, laser, vật liệu mới,
hạt nhân, nano…
+ Mật mã di truyền ADN do công của J.Watson và
F.Crick, chính là sự khám phá cấu trúc xoắn kép của phân tử
AND, giải mã bí ẩn di truyền của thế giới sinh vật phong phú,
mở ra kỷ nguyên sinh học phân tử, tạo tiền đề trực tiếp cho
những bước tiến như vũ bão của KH về sự sống, công nghệ sinh
học…
Chúng tạo thành trục “tam giác tư duy” khổng lồ của nhân loại để khám
phá thế giới vĩ mô, thế giới vi mô và thế giới sự sống. Trên cơ sở đó, cuộc cách
mạng KHCN phát khởi kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai trở đi, dự báo kéo
dài đến giữa thế kỷ XXI.
Những thành tựu của khoa học lý thuyết (gọi là khoa học cơ bản) muốn trở
thành nhân tố sống trong nên sản xuất vật chất thì phải đưa vào thực nghiệm để
chứng minh kết quả tiếp theo. Phần nghiên cứu tiếp theo này gọi là khoa học kỹ
thuật. Đến đầu thế kỷ XX nhiều ngành nghiên cứu khoa học trở thành lực lượng
24
sản xuất trực tiếp – tức là khó phân biệt được nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu
triển khai ứng dụng, hay nói cách khác khó phân biệt phần khoa học với phần