Những vấn đề pháp lý cơ bản về Tòa án hình sự quốc tế (ICC) theo Quy chế Rome 1998 và xu thế hội nhập của Việt Nam - Pdf 38

-1Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày nay, nhân loại luôn phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn, như
dịch bệnh lan truyền khắp các châu lục, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng diễn
ra ở nhiều thành phố lớn trên thế giới và đặc biệt là tình hình tội phạm ngày
càng gia tăng và diễn biến phức tạp. Việc xuất hiện của những loại tội phạm mới
(tội phạm vi tính, tội phạm công nghệ cao…) có thể xem là mặt trái của sự phát
triển Khoa học kỹ thuật. Không những thế, trong lịch sử cũng như hiện tại, loại
tội phạm quốc tế (tội ác chiến tranh, tội chống nhân loại, tội phạm diệt chủng,
tội xâm lược) vẫn chưa bị loại bỏ khỏi đời sống quốc tế và hàng ngày, hàng giờ
đe doạ đến hoà bình và an ninh thế giới. Thực tiễn đó đòi hỏi các quốc gia cần
có sự nỗ lực to lớn để nhanh chóng loại bỏ loại tội ác quốc tế ra khỏi đời sống
cộng đồng và những kẻ phạm tội cần phải đưa ra ánh sáng công lý và bị trừng
trị.
Ngày 17/7/1998, đại diện của 120 nước đã bỏ phiếu thông qua Quy chế
Rome (Rome Statute) về thành lập Tòa án hình sự quốc tế (International
Criminal Court, gọi tắt là ICC). Đây được xem như là một trong những cố gắng
lớn lao của cộng đồng quốc tế, nhằm trừng trị tội phạm quốc tế, đem lại một thế
giới hoà bình, ổn định. Trong bối cảnh quốc tế đó, các vấn đề pháp lý và thực
tiễn đặt ra trong quá trình hoạt động của ICC luôn đòi hỏi có sự nghiên cứu từ
nhiều góc độ.
Quy chế Rome 1998 là một Điều ước quốc tế đa phương quan trọng, thu
hút được sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy mới ra đời được 9
năm nhưng Quy chế Rome đã có "104 quốc gia thành viên" [25] và chắc chắn
con số thành viên của Quy chế này sẽ còn tăng lên. Sở dĩ Quy chế Rome có tác
động mạnh mẽ đến nhiều quốc gia vì sự hiện diện của Quy chế này đang phần
nào đáp ứng được những mong muốn của nhiều quốc gia trong việc áp dụng các

Vò ThÞ Nh Quúnh

về Tòa án hình sự quốc tế với sự giúp đỡ của Đại sứ quán Thuỵ Sĩ và Hà Lan tại
Hà Nội. Cuộc Hội thảo đã tạo điều kiện để Hội luật gia dịch và xuất bản hai

Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A


-3Kho¸ luËn tèt nghiÖp
cuốn sách "Những văn kiện pháp lý về Tòa án hình sự quốc tế" và "Những vấn
đề cơ bản về Tòa án hình sự quốc tế ".
+ Tháng 10 năm 2006, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, với sự giúp
đỡ của Đại sứ quán Anh và Đức đã tổ chức Hội thảo "Tòa án hình sự quốc tế và
việc gia nhập của Việt Nam".
Bên cạnh các cuộc Hội thảo, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Toà
án nhân dân, Tạp chí Luật học còn cho đăng nhiều bài nghiên cứu, giới thiệu về
Quy chế Rome và ICC của TS Lê Mai Anh, TS Dương Tuyết Miên, ThS
Nguyễn Tuyết Mai… Đây là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá giúp các luật
gia, các nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm về ICC cũng như Quy chế Rome.
Tuy nhiên, với một Điều ước quốc tế chứa đựng nhiều nội dung pháp lý
quan trọng và có tính chuyên môn cao như Quy chế Rome thì những hoạt động
nghiên cứu nêu trên còn khá khiêm tốn. Điều này đòi hỏi phải có nhiều hơn nữa
những công trình nghiên cứu công phu về Quy chế Rome và ICC, để không chỉ
giúp cho việc đánh giá một cách toàn diện những vấn đề pháp lý cơ bản về quy
chế này mà còn tạo nền tảng lý luận cơ bản cho việc tiếp cận với Quy chế Rome
và ICC ở Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu và nội dung của khóa luận
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp của Chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt
Nam và pháp luật của Nhà nước ta. Trong quá trình thực hiện khóa luận, tác giả
đã sử dụng các phương pháp truyền thống và hiện đại như phân tích, so sánh,

Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A


-5Kho¸ luËn tèt nghiÖp

Chương 1
Sự ra đời của Quy chế Rome về tòa án hình sự quốc tế đáp ứng yêu cầu
phát triển Của khoa học luật và luật hình sự quốc tế
1.1. Quá trình ký kết Quy chế Rome
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, ngày 28/6/1919, các nước thắng trận
họp hội nghị tại Vec-xây để phân chia quyền lợi, đồng thời ký với Đức một bản
Hiệp ước hoà bình. Theo đó, sẽ thành lập một cơ quan xét xử tội phạm quốc tế
để truy tố Hoàng đế Đức và những tên tội phạm chiến tranh khác (Điều 226, 227
và 229 Hiệp ước Vec-xây). Để chuẩn bị cho việc truy tố, một Uỷ ban được
thành lập với nhiệm vụ xác định trách nhiệm hình sự của các tội phạm chiến
tranh. Uỷ ban này đã tuyên bố tất cả những người thuộc phe thua trận, cho dù
giữ chức vụ cao đã thực hiện hành vi vi phạm luật và tập quán chiến tranh đều
phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều 228 Hiệp ước Vec-xây cũng quy định
rằng, Chính phủ Đức phải trao tất cả các cá nhân đã vi phạm luật và tập quán
chiến tranh cho các nước đồng minh thắng trận.
Tuy nhiên, kết quả xét xử không được như mong muốn. Hoàng đế Đức
Vilhem đã chạy sang Hà Lan. Chính quyền Hà Lan cho cư trú chính trị và từ
chối dẫn độ. Trong số 20 000 người bị tình nghi thì chỉ có 22 người bị Toà án tối
cao Đức truy tố và 12 người bị kết tội. Các nước đồng minh thắng trận cũng đã
ký Hiệp ước Sèvre với Thổ Nhĩ Kỳ (10/8/1920), quy định việc dẫn độ những kẻ
phạm tội thảm sát trong thời kỳ chiến tranh nhưng lại bị thay thế bằng Hiệp ước
Lausanne với tuyên bố ân xá cho tất cả những tên phạm tội trên. Như vậy, chiến


1946, Tòa án hình sự quốc tế Tokyo đã ra đời theo quy định của Thoả ước giữa
các nước Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp, Trung Quốc, Canada, Australia, Niudilân, Hà
Lan, ấn Độ và Philipin. Mặc dù Quy chế Tòa án quân sự Nuremberg và Tokyo
không hẳn là đã tối ưu, vì đây được coi là Tòa án xét xử của các nước thắng trận

Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A


-7Kho¸ luËn tèt nghiÖp
đối với các nước thua trận, nhưng xét dưới góc độ Khoa học luật hình sự quốc tế
thì sự ra đời của hai Tòa án này là bước phát triển có tính lịch sử của Luật hình
sự quốc tế. Lần đầu tiên, tại Tòa án Nuremberg và Tokyo, chiến tranh xâm lược
được coi là tội ác man rợ nhất chống lại loài người.
Vì còn nhiều ý kiến bất đồng nên phải đến năm 1948, Liên hợp quốc mới
chính thức xem xét và thông qua Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt
chủng. Công ước này không chỉ nêu rõ định nghĩa tội diệt chủng mà còn quy
định về việc trừng trị những kẻ thực hiện hành vi đó bằng một Tòa án quốc gia
nơi xảy ra tội phạm hoặc bằng một Tòa án hình sự quốc tế có thẩm quyền đã
được các bên tham gia Công ước chấp nhận. Như vậy, tuy Công ước không trực
tiếp thành lập một Tòa hình sự quốc tế, song đã đưa ra khái niệm đầu tiên về địa
vị pháp lý của Tòa án này.
Năm 1947, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã yêu cầu Uỷ ban lập pháp quốc
tế xây dựng Bộ luật các Tội chống hoà bình và an ninh nhân loại và soạn thảo
Quy chế để thành lập Tòa án hình sự quốc tế. Uỷ ban lập pháp quốc tế đã trình
lên Đại hội đồng Dự thảo Quy chế Tòa án hình sự quốc tế đầu tiên vào năm
1951 và lần thứ hai vào năm 1953 để các nước thành viên thảo luận. Nhưng do
các nước chưa thống nhất được định nghĩa tội xâm lược nên dự thảo này không
được thông qua. Phải đến năm 1974, Đại hội đồng Liên hợp quốc mới thông qua

luận sâu hơn những nội dung quan trọng nhất của dự thảo Quy chế, nhằm xây
dựng một văn bản pháp lý hoàn chỉnh, được thừa nhận rộng rãi, chuẩn bị cho
Hội nghị cấp cao xem xét việc thành lập Tòa án hình sự quốc tế. Tháng 12 năm
1996, Đại hội đồng thẩm định lại kết quả hoạt động sau hai phiên họp của Uỷ
ban trù bị, đồng thời quyết định năm 1998 sẽ tổ chức Hội nghị cấp cao.
Văn bản dự thảo Quy chế được đệ trình, thảo luận và thông qua tại Hội
nghị cấp cao về việc thành lập Tòa án hình sự quốc tế. Hội nghị diễn ra tại Rome
từ 15/6/1998 đến 17/7/1998 với đại diện của hơn 160 quốc gia tham dự cùng với
đại diện của nhiều tổ chức quốc tế và hơn 100 tổ chức phi Chính phủ. Mặc dù
dự thảo được xây dựng nghiêm túc và tương đối chi tiết, song nhiều vấn đề quan
trọng như quyền tài phán, danh mục tội danh thuộc quyền tài phán của Tòa án…
vẫn còn nhiều sự bất đồng ý kiến. Sau 5 tuần nỗ lực đàm phán dưới nhiều hình
thức, Quy chế Rome đã được thông qua với 120 phiếu thuận, 7 phiếu chống và
21 phiếu trắng.

Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A


-9Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Trong số 7 quốc gia bỏ phiếu không tán thành Quy chế bao gồm Trung
Quốc, Iraq, Israel, Yamen, Quatar, Libia, Mỹ có 3 quốc gia là Trung Quốc, Mĩ,
Israel tuyên bố lý do phủ quyết. Cụ thể, Trung Quốc cho rằng, việc trao quyền
cho Hội đồng dự thẩm giám sát việc thực thi của Công tố viên còn chưa đủ. Mỹ
không tán thành các quy định về việc thực thi quyền tài phán của Tòa án hình sự
quốc tế đối với các quốc gia không phải là thành viên của Quy chế. Israel chỉ
trích không thể hiểu tại sao hoạt động di chuyển đến vùng lãnh thổ bị chiếm
đóng lại bị coi là tội phạm chiến tranh.
Quy chế Rome có 128 điều khoản, quy định cụ thể về việc thành lập ICC,

hộ nạn nhân chiến tranh. Như vậy, có thể thấy rằng, các Công ước này có mối
tương dồng lớn với Quy chế Rome về những vấn đề pháp lý được điều chỉnh
trong Quy chế.
Quy chế Rome với các Điều ước quốc tế thành lập các thiết chế tài phán
quốc tế trước ICC như Hiệp ước London (1945) thành lập Tòa án quân sự quốc
tế Nuremberg, và Thoả ước 1946 thành lập Tòa án quân sự Tokyo. Quy chế của
hai Tòa án quân sự này đã quy định các vấn đề về cơ cấu tổ chức của Tòa án,
thẩm quyền xét xử, trình tự thủ tục xét xử và ra phán quyết của Tòa án. Đây là
một trong những nguồn tham khảo để Uỷ ban luật quốc tế (Liên hợp quốc) xây
dựng dự thảo Quy chế Rome. Nhiều quy định trong Quy chế Rome có sự kế
thừa từ Quy chế Tòa án Nuremberg và Tokyo, chẳng hạn:
+ Khái niệm về tội chống nhân loại;
+ Các nguyên tắc về trách nhiệm hình sự cá nhân như cá nhân phải chịu
trách nhiệm hình sự quốc tế đối với hành vi xâm phạm nghiêm trọng luật quốc
tế và phải chịu hình phạt dựa trên cơ sở Luật pháp quốc tế; các cá nhân tội phạm
không được miễn trách nhiệm hình sự quốc tế đối với các tội phạm quốc tế nêu
trên ngay cả khi họ là Nguyên thủ quốc gia hoặc người đứng đầu Chính phủ.
1.2.2. Giá trị pháp lý của Quy chế Rome
Khác với quy chế về thành lập một số cơ quan tài phán quốc tế, như Quy
chế của Tòa án công lý quốc tế (mang tính chất là bộ phận cấu thành của Hiến
chương Liên hợp quốc), hay Quy chế Tòa án quốc tế về Luật Biển (là phụ lục
của UNCLOS 1982), Quy chế Rome có giá trị pháp lý của một Điều ước quốc
đa phương, với 128 điều khoản, chia làm 12 phần. Quy chế vừa là cơ sở pháp lý
cho sự ra đời và hoạt động của ICC, vừa đưa ra các tội danh, yếu tố cấu thành

Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A



Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A


- 12 Kho¸ luËn tèt nghiÖp
* Đối với việc hình thành thiết chế tài phán quốc tế nhằm trừng trị và
ngăn ngừa tội phạm quốc tế
Sự ra đời của Quy chế Rome là một sự kiện có vai trò quan trọng trong
quan hệ quốc tế. Lần đầu tiên trong lịch sử có một Điều ước quốc tế đa phương
thành lập Tòa án hình sự quốc tế thường trực, hoạt động độc lập theo nguyên tắc
bổ sung cho pháp luật quốc gia, nhằm xét xử những cá nhân phạm tội ác nghiêm
trọng trên bình diện quốc tế. Khác với Tòa án quân sự quốc tế (Tòa án
Nuremberg và Tokyo), Tòa án hình sự quốc tế adhoc (Tòa án Nam Tư và
Ruanda) được thành lập trước đó, ICC có tính đại chúng và tư cách pháp lý cao
hơn. Điều này biểu hiện ở việc, nếu như Tòa án Nuremberg và Tokyo do bốn
nước đồng minh thắng trận (Anh, Mĩ, Pháp, Liên Xô) thành lập, còn Tòa án
Nam Tư và Ruanda do Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thành lập thì ICC do các
quốc gia lập nên bằng một Điều ước quốc tế đa phương. Điều ước này chỉ có
hiệu lực khi có 60 quốc gia phê chuẩn hoặc gia nhập. Mặt khác, các Tòa án
Nuremberg và Tokyo, Tòa án Nam Tư và Ruanda chỉ có tính chất tạm thời,
được thành lập để giải quyết một vụ việc cụ thể sau đó sẽ ngừng hoạt động, còn
ICC là Tòa án hình sự quốc tế có tính thường trực với cơ cấu tổ chức chặt chẽ,
có nguồn quỹ hoạt động riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tố tụng được
tiến hành nhanh chóng, khách quan và công bằng. Và cũng không giống các Tòa
án quân sự quốc tế và Tòa án hình sự adhoc trước đó chỉ được lập ra để xét xử
các cá nhân về một tội phạm nhất định, được thực hiện ở những nơi nhất định từ
trước khi Tòa án này ra đời, ICC không có hiệu lực hồi tố và không bị giới hạn
thẩm quyền theo những vụ việc cụ thể. Ví dụ như Tòa án Ruanda được thành lập
năm 1994 để truy tố các cá nhân phạm tội diệt chủng và vi phạm nghiêm trọng

hẳn Phần 3 (từ Điều 22 đến Điều 33) để quy định về vấn đề này. Quy chế như
một sự tổng hợp của các nguyên tắc được ghi nhận trong các văn bản pháp luật
liên quan trước đó, và trở thành "sợi chỉ đỏ xuyên suốt các quy định của Pháp
luật hình sự "
Trước hết là nguyên tắc pháp chế, đây được coi là nguyên tắc truyền
thống quan trọng nhất của Luật hình sự. Nguyên tắc này được ghi nhận trong
Quy chế Rome với nhiều luận điểm tiến bộ, như không có tội khi không có luật
(Điều 22), không có hình phạt khi không có luật (Điều 23).

Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A


- 14 Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Có thể nói nguyên tắc nhân đạo là một trong những nguyên tắc được thể
hiện rõ nét nhất trong Quy chế Rome. Ngay ở lời nói đầu của Quy chế đã quy
định "Nhận thấy rằng trong thế kỷ này, hàng triệu trẻ em, phụ nữ, nam giới đã
trở thành nạn nhân của những hành động tàn ác chưa từng thấy, gây chấn động
lương tri nhân loại", và "Khẳng định rằng các tội ác nghiêm trọng nhất gây nên
sự lo ngại của toàn thể cộng đồng quốc tế phải bị trừng trị". Nguyên tắc này tiếp
tục được biểu hiện ở các điều khoản tiếp theo của Quy chế như việc áp dụng và
giải thích luật phải phù hợp với các quyền con người (khoản 3 Điều 21); Trong
trường hợp tội phạm được hiểu theo hai nghĩa thì phải giải thích theo hướng có
lợi cho người đang bị điều tra, xét xử hoặc đã bị coi là có lỗi đối với tội phạm ấy
(khoản 3 Điều 22); Không phải chịu trách nhiệm hình sự theo Quy chế Rome về
những hành vi được thực hiện trước khi Quy chế này có hiệu lực (khoản 1 Điều
24); Nếu có sự thay đổi trong điều luật áp dụng đối với vụ án cụ thể thì phải áp
dụng điều luật nào có lợi hơn cho người ấy (khoản 2 Điều 24); Không truy tố
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ( Điều 26)…

khoản 1 Điều 31, có thể được gọi một cách ngắn gọn là tình trạng mất năng lực
hành vi hình sự (do bị bệnh hoặc đang trong tình trạng say), phòng vệ chính
đáng và tình thế cấp thiết. Như vậy khi hành vi tội phạm được thực hiện mà chủ
thể đang trong tình trạng mất năng lực hành vi hình sự hoặc hành vi đó không bị
luật hình sự cấm, thì hành vi đó không cấu thành tội phạm và do đó không thể
chịu trách nhiệm hình sự.
Nhóm 2: Loại trừ lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi. Nhóm này bao
gồm những trường hợp do sai lầm về sự việc hoặc sai lầm về pháp luật (Điều
32), tội phạm được thực hiện theo mệnh lệnh (Điều 33). Điều này có nghĩa là
khi chủ thể thực hiện hành vi không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm hình
sự.
Thứ tư, về hình phạt và quyết định hình phạt, Quy chế Rome không quy
định hình phạt tử hình mà hình phạt cao nhất là tù chung thân. Đây có thể nói là
một quan điểm nhân đạo, tiến bộ phù hợp với xu thế hiện nay đó là các nước dần
bãi bỏ hình phạt tử hình. Bên cạnh hình phạt tù, Tòa án có thể áp dụng hình phạt
bổ sung như phạt tiền hoặc tịch thu tài sản.

Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A


- 16 Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Việc quyết định hình phạt theo Quy chế Rome có các đặc điểm cơ bản:
Khi quyết định các hình phạt Tòa án phải căn cứ vào các quy định của Quy chế
và Các quy tắc về thủ tục và chứng cứ; Đối với hình phạt tù có thời hạn, Tòa án
phải tính cả thời gian tạm giam để trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù; Nếu
người bị kết án phạm nhiều tội, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội
và hình phạt chung, nhưng thời hạn của hình phạt chung không được ít hơn thời
hạn của hình phạt riêng nghiêm khắc nhất và không được vượt quá 30 năm hoặc

2.1. Khái niệm tội phạm quốc tế
2.1.1. Định nghĩa
Theo Uỷ ban luật quốc tế, Tội phạm quốc tế được xác định là các hành
động chống lại luật pháp quốc tế, phát sinh do hành vi vi phạm nghĩa vụ của
quốc gia, xâm hại nghiêm trọng đến hoà bình và an ninh quốc tế [2]. Theo khoản
1 Điều 5 Quy chế Rome, Tòa án hình sự quốc tế có quyền tài phán đối với các

Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A


- 18 Kho¸ luËn tèt nghiÖp
tội phạm nghiêm trọng nhất gây lo ngại cho toàn thể cộng đồng quốc tế (tức tội
phạm quốc tế).Tội phạm quốc tế bao gồm tội ác chiến tranh, tội chống lại nhân
loại, tội diệt chủng và tội xâm lược.
Trong Khoa học Luật hình sự quốc tế cần phân biệt tội phạm quốc tế (hay
còn gọi là tội ác quốc tế) với tội phạm có tính chất quốc tế (hay còn gọi là tội
phạm điều ước). Hai loại tội phạm này khác nhau ở một số điểm sau:
Thứ nhất, nếu như tội phạm quốc tế trực tiếp xâm hại luật pháp quốc tế thì
tội phạm có tính chất quốc tế lại trực tiếp xâm hại đến trật tự pháp luật quốc gia
từ đó gián tiếp xâm hại đến quyền lợi của cộng đồng quốc tế. Thuộc nhóm tội
phạm có tính chất quốc tế bao gồm các tội phạm, như khủng bố, cướp biển, làm
tiền giả, buôn bán ma tuý, buôn bán nô lệ, phụ nữ, trẻ em,…
Thứ hai, tội phạm quốc tế phát sinh do hành vi vi phạm nghĩa vụ của quốc
gia, còn tội phạm có tính chất quốc tế không có mối liên hệ cụ thể với hành vi
tội phạm của quốc gia nhưng nó cũng là mối nguy hiểm đối với trật tự pháp luật
quốc tế và quốc gia;
Thứ ba, khác với tội phạm có tính chất quốc tế, đối với tội phạm quốc tế
ngoài trách nhiệm hình sự quốc tế của cá nhân thì quốc gia còn phải chịu trách

thiệt mạng;….Ngày nay, hành vi diệt chủng vẫn còn tiếp diễn ở một số nước.
Khái niệm tội diệt chủng "được đề cập lần đầu tiên trong cuốn Sự thống
trị phát xít ở các vùng lãnh thổ châu Âu bị chiếm đóng của ông Rafael Lanpkin
xuất bản năm 1944" [4]. Tuy nhiên, khái niệm này chỉ được làm rõ tại Điều 2 và
Điều 3 Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng 1948. Chúng ta có thể
dễ dàng nhận thấy rằng Quy chế Rome quy định về tội diệt chủng gần như
không có gì khác so với Công ước trên. Về mặt định nghĩa cả Quy chế Rome và
Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng 1948 đều dựa trên 3 yếu tố
chính:
Một là, thực hiện một trong các hành vi sau:
+ Giết các thành viên của nhóm;
+ Gây tôn hại nghiêm trọng về thể xác hoặc tinh thần cho các thành
viên của nhóm;
+ Cố ý áp đặt các điều kiện sống nhằm huỷ diệt về mặt thể chất toàn
bộ hoặc một bộ phận của nhóm;
+ áp đặt các biện pháp nhằm triệt sản trong nhóm;

Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A


- 20 Kho¸ luËn tèt nghiÖp
+ Cưỡng ép chuyển trẻ em của nhóm này sang nhóm khác.
Hai là, đối tượng hướng tới cuả tội phạm là một nhóm dân tộc, sắc tộc,
chủng tộc hoặc tôn giáo;
Ba là, có ý định tiêu diệt toàn bộ hay một bộ phận nhóm người đó.
Theo Điều 3 của Công ước ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng, hành vi
diệt chủng có thể thực hiện dưới nhiều vai trò diệt chủng, cố gắng phạm tội diệt
chủng, đồng phạm tội diệt chủng. Còn tại điểm b khoản 3 Điều 25 Quy chế

quốc tế khác.
Theo Quy chế Rome thì tội chống nhân loại được quy định tại Điều 7 bao
gồm các dấu hiệu sau:
Một là, thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều 7;
Hai là, tấn công trên phạm vi rộng hoặc có hệ thống;
Ba là, đối tượng hướng đến của tội phạm là dân thường;
Bốn là, tội chống nhân loại có thể thực hiện trong thời bình và thời chiến.
Như vậy, so với khái niệm về tội chống nhân loại trước kia thì Quy chế
Rome đã có sự mở rộng theo hai hướng. Số lượng tội ác ngày càng tăng, nhiều
hành vi mới được bổ sung bên cạnh những hành vi truyền thống như phân biệt
chủng tộc, bạo lực tình dục có tính chất nghiêm trọng, làm mất tích,…. Bối cảnh
của tội ác đã có sự thay đổi từ bối cảnh của các Hiệp ước trước kia là chiến tranh
nay tội ác này diễn ra kể cả trong thời bình.
Chúng ta cần phân biệt giữa tội phạm chiến tranh và tội chống nhân loại.
Hai loại tội phạm này có những điểm khác nhau. Cụ thể là nếu tội ác chiến tranh
chủ yếu được thực hiện bởi các thành viên trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia lực
lượng vũ trang, thì tội chống nhân loại có thể được thực hiện bởi các đối tượng
dân sự hoặc quân sự. Nạn nhân của tội ác chiến tranh là dân thường và các binh
lính, còn nạn nhân của tội chống nhân loại chủ yếu là dân thường. Trong khi tội
phạm chiến tranh chỉ thực hiện trong thời chiến, thì tội chống nhân loại thực
hiện cả trong thời chiến lẫn thời bình. Có thể nói tội chống nhân loại có phạm vi
tác động rộng và gây hậu quả lớn hơn tội phạm chiến tranh vì tội phạm chiến
tranh có thể được thực hiện một cách biệt lập, trong khi tội chống nhân loại đòi
hỏi tính quy mô lớn và có hệ thống.
*Tội phạm chiến tranh

Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A



Vò ThÞ Nh Quúnh

Líp Quèc TÕ 28A


- 23 Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Nhóm 4: Những hành vi khác vi phạm nghiêm trọng luật và tập quán áp
dụng trong xung đột vũ trang không mang tính quốc tế, trong khuôn khổ pháp
luật quốc tế (điểm e khoản 2 Điều 8). Cần lưu ý một điểm là những tội phạm này
chỉ có thể xảy ra khi có xung đột vũ trang diễn ra trên lãnh thổ của một quốc gia
giữa quân đội của quốc gia đó với các nhóm vũ trang có tổ chức hoặc giữa các
nhóm này với nhau (điểm f khoản 2 Điều 8).
Tìm hiểu Điều 8 Quy chế Rome chúng ta có thể rút ra một số nhận xét
sau:
Một là, việc quy định về tội phạm chiến tranh trong các cuộc vũ trang
không mang tính quốc tế đã gây ra nhiều tranh cãi. Một số quốc gia cho rằng
đây là công việc nội bộ của quốc gia, do đó xác định phạm vi thẩm quyền của
ICC trong trường hợp này sẽ là can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia đó.
Tuy nhiên, khoản 3 Điều 8 của Quy chế một lần nữa khẳng định sự tôn trọng
chủ quyền quốc gia "Không một quy định nào ảnh hưởng đến trách nhiệm của
một Chính phủ trong việc duy trì hoặc tái thiết pháp luật và trật tự trong nước
hoặc trong việc bảo vệ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia bằng mọi
biện pháp hợp pháp".
Hai là, điểm d, f khoản 2 Điều 8 đã giới hạn phạm vi quyền tài phán của
ICC đối với các hành vi áp dụng cho xung đột vũ trang không mang tính chất
quốc tế. Các quy định này không coi tình trạng lộn xộn và căng thẳng nội bộ,
như các cuộc bạo động, các hành vi bạo lực đơn lẻ và rời rạc và một số hành vi
khác là xung đột vũ trang không mang tính quốc tế.
* Tội xâm lược


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status