Lời cảm ơn
Đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa
Lí luận Chính trị đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm khóa luận.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo, TS. Phạm Thu Hà đã tận tình chỉ
bảo và đóng góp những ý kiến khoa học vô cùng quý báu giúp tôi hoàn thành
khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ông Mùa A Dờ, Bí thư xã Mồ Dề; ông
Sùng A Lù, Chủ tịch xã Mồ Dề; ông Sùng A Ninh, Phó Bí thư xã Mồ Dề; bà Sùng Thị
Công, Chủ tịch Hội phụ nữ xã Mồ Dề và đặc biệt cảm ơn người dân tại xã Mồ Dề đã
hỗ trợ, giúp đỡ để tôi thu thập các thông tin cần thiết cho khóa luận.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã cổ vũ, khích lệ giúp
tôi có thể hoàn thiện được khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Sùng Thị Của
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GDGT
Giáo dục giới tính
VTN
Vị thành niên
QHTD
Quan hệ tình dục
đêm ...................................................................................................................... 34
Hình 2.4. Thái độ của dân trong thôn bản khi biết một cô gái có quan hệ tình dục
với bạn trai/người yêu ......................................................................................... 35
Hình 2.5. Thái độ của cha mẹ khi biết con mình có thai mà chưa chồng ........... 37
Hình 2.6. Hành động của cha mẹ khi con có thai mà chưa chồng ...................... 38
Hình 2.7. Ý kiến của cha mẹ về việc trao đổi với con cái về những biến đổi trong
tuổi dậy thì ........................................................................................................... 40
Hình 2.8. Các vấn đề trong tuổi dậy thì cha mẹ trao đổi với con cái.................. 41
Hình 2.9. Sự phân chia giữa cha và mẹ về việc giáo dục giới tính cho con ....... 42
Hình 2.10. Thái độ của cha mẹ khi con hỏi về vấn đề tuổi dậy thì..................... 43
Hình 2.11. Thời điểm cha mẹ trao đổi với con về vấn đề tuổi dậy thì ............... 45
Hình 2.12. Hình thức cha mẹ cung cấp thông tin về giới tính cho con .............. 46
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.............................................................. 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 3
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu ....................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 4
6. Giả thuyết nghiên cứu ....................................................................................... 5
7. Đóng góp của đề tài........................................................................................... 5
8. Kết cấu của đề tài .............................................................................................. 5
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .... 6
1.1. Cơ sở lý luận .................................................................................................. 6
1.1.1. Cơ sở phương pháp luận ............................................................................. 6
1.1.2. Các lý thuyết sử dụng trong đề tài .............................................................. 7
1.1.3. Khái niệm công cụ .................................................................................... 10
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 14
niên trong gia đình............................................................................................... 52
2.4.1. Nguyên nhân khách quan .......................................................................... 53
2.4.2. Nguyên nhân chủ quan .............................................................................. 53
2.5. Khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giới tính cho trẻ vị thành
niên trong gia đình............................................................................................... 54
2.5.1. Khuyến nghị đối với cha mẹ ..................................................................... 54
2.5.2. Khuyến nghị đối với chính quyền địa phương, nhà trường, các tổ chức
hoạt động xã hội, trẻ vị thành niên. ..................................................................... 55
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhà giáo dục học Makarenco đã từng khẳng định “GDGT chỉ là một khía
cạnh của giáo dục toàn diện và không thể tách rời ra được, như một cánh tay
dính liền với cơ thể. Muốn cho cánh tay khỏe mạnh thì phải làm cho toàn bộ cơ
thể khỏe mạnh và ngược lại nếu có cơ thể khỏe mạnh về mọi mặt chỉ có cánh tay
GDGT là bị bỏ bê và nhức nhối thì người đó không thể thưởng thức sự lành
mạnh của phần cơ thể còn lại” [9]. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc
GDGT cho trẻ VTN và không thể xem GDGT như là một điều mới lạ trẻ phải
học ở trường khi tới tuổi dậy thì.
Ở nhiều quốc gia khác trên thế giới GDGT là một đề tài khá cởi mở đã được
đề cập ngay từ bậc học mầm non (ở Anh, Malaysia) trong khi đó trẻ mầm non ở
nước ta chỉ mới tập làm quen với màu sắc đồ vật; không chỉ giáo dục thông qua
trường lớp mà ở các nước phương Tây người ta còn giáo dục qua truyền hình (ở
Thụy Điển); đặc biệt gia đình lại luôn là nơi trò chuyện về giới tính trong các
bữa ăn (ở Hà Lan).
Tuy nhiên ở nước ta với đặc điểm là một nước Á Đông, GDGT là một đề tài
chủ yếu là đồng bào H’Mông cư trú, chiếm 95% dân số toàn huyện, Mù Cang
Chải là huyện thuộc khu vực đặc biệt khó khăn của tỉnh, phần lớn lại là dân tộc
H’Mông nên việc tuyên truyền các đường lối, chính sách của Đảng đến người
dân gặp khá nhiều khó khăn. Người H’Mông Mù Cang Chải với đức tính cần cù,
ý thức tự chủ cao, nền văn hóa phong phú, đặc sắc thì nơi đây đã trở thành điểm
đến của nhiều du khách trong và ngoài nước. Nhưng bên cạnh đó người H’Mông
Mù Cang Chải lại có nhiều hủ tục lạc hậu trong ma chay, trong cưới xin,… và
một điều đáng quan tâm là các bậc cha mẹ còn chưa quan tâm đến việc GDGT
cho trẻ VTN. Trong gia đình người H’Mông họ rất ít đề cập đến chủ đề này
thậm chí là không nói đến, bởi họ cho rằng đó là một đề tài tế nhị không nên đề
cập tới và hiểu biết của họ về vấn đề này cũng hạn chế. Vì vậy việc cha mẹ
GDGT cho con mình hầu như là không có, nếu có thì chỉ là ở một số khía cạnh
nhất định nào đó, điều đó đã dẫn đến nhiều hậu quả không mong muốn như: nạn
tảo hôn, có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai,... Với những bất cập đó thì việc
nghiên cứu về GDGT cho trẻ VTN trong gia đình người H’Mông xã Mồ Dề huyện Mù Cang Chải - tỉnh Yên Bái là rất cần thiết. Trên thực tế đã có rất nhiều
2
bài viết, đề tài nghiên cứu về vấn đề GDGT cho trẻ VTN nhưng chưa có đề tài
nào nghiên cứu về GDGT cho trẻ VTN trong gia đình người H’Mông xã Mồ Dề
- huyện Mù Cang Chải - tỉnh Yên Bái. Bởi vậy tôi đã chọn đề tài “Đặc tính dân
tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình (Nghiên
cứu dân tộc H’Mông xã Mồ Dề - huyện Mù Cang Chải - tỉnh Yên Bái)” làm
khóa luận tốt nghiệp.
2. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1. Ý nghĩa khoa học
- Cung cấp những luận cứ khoa học về vai trò của gia đình trong việc GDGT
đặc biệt trong cộng đồng người dân tộc H’Mông.
- Cung cấp những tri thức cho cộng đồng người dân tộc H’Mông về vấn đề
giáo dục giới tính cho trẻ VTN.
Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm cơ sở
cho lý luận cho việc nghiên cứu.
Ngoài ra đề tài còn sử dụng một số biện pháp cụ thể như:
5.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu có thu thập, phân tích và tham khảo tài liệu, các
công trình nghiên cứu và báo cáo khoa học có liên quan đến đề tài nhằm làm rõ
cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài, góp phần bổ sung cho những nhận
định của mình.
5.2. Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
Phương pháp này được áp dụng đối với cha mẹ là người dân tộc H’Mông, có
con từ 13-18 tuổi tại 10 thôn bản của xã Mồ Dề - huyện Mù Cang Chải - tỉnh
Yên Bái. Tôi đã tiến hành trưng cầu ý kiến của 200 bậc phụ huynh trong đó
Nam: 100, Nữ: 100, bằng 200 bảng hỏi, (191 bảng hỏi được xử lý), 9 bảng
hỏi không thu lại được.
5.3. Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được thực hiện để thu thập những thông tin định tính, nhằm
làm phong phú thêm cho những thông tin định lượng. Đặc biệt phương pháp này
tập trung chủ yếu vào những ý kiến của các bậc cha mẹ có con ở lứa tuổi VTN và
các em ở lứa tuổi VTN về việc giáo dục giới tính và được giáo dục giới tính như
thế nào. Phỏng vấn sâu được tiến hành với số lượng là 15 mẫu trong đó:
4
Cha mẹ: 10 đối tượng có con từ 13 - 18 tuổi
Nam: 5
Nữ: 5
Trẻ VTN: 05 đối tượng từ 13 - 18 tuổi
Nam: 3
Nữ: 2
Các trường hợp phỏng vấn trên với các đặc điểm khác nhau về trình độ, lứa tuổi,
Đề tài lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm
phương pháp luận nhận thức về vấn đề và tuân theo các yêu cầu sau:
Phép duy vật biện chứng không chỉ nhìn nhận thế giới tồn tại xung quanh
chúng ta là thế giới vật chất không ngừng vận động, phát triển, mà còn vạch ra
những quy luật khách quan chi phối đến sự vận động, phát triển đó. Như vậy,
quan tâm trong nhận thức xã hội học không chỉ dừng ở bên ngoài sự vật, hiện
tượng mà cần nhận thức được bản chất bên trong như quy luật khách quan của
nó. Mặt khác, những hiện tượng xã hội cần phải xem xét trong mối liên hệ với
nhau, bởi lẽ mọi sự vật, hiện tượng nảy sinh không phải do một nguyên nhân
gây nên.
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của chủ nghĩa duy vật lịch sử là
“không thể giải thích thời đại lịch sử nhất định căn cứ vào sinh hoạt vật chất của
thời đại”. Nghĩa là nguyên tắc này đòi hỏi phải xem xét, nhìn nhận đối tượng
nghiên cứu trong điều kiện lịch sử cụ thể chứ không được nhìn nhận, xem xét
nó một cách siêu hình. Với cở sở lý luận như trên khi xem xét đặc tính dân tộc
trong việc GDGT cho trẻ VTN trong gia đình dân tộc H’Mông xã Mồ Dề huyện Mù Cang Chải - tỉnh Yên Bái, chúng ta phải nhìn nhận nó trong quá trình
vận động và phát triển, đồng thời thấy được những quy luật tiềm ẩn chi phối đến
sự vận động và phát triển đó.
Để đưa ra những kết luận chính xác về đặc tính dân tộc trong việc GDGT
cho trẻ VTN trong gia đình dân tộc H’Mông xã Mồ Dề - huyện Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái, chúng ta phải phân tích những nguyên nhân sâu xa tác động đến
vấn đề. Hơn nữa, còn phải đặt nó trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng xã
hội khác, xem xét vấn đề trong mối liên hệ với điều kiện kinh tế - văn hóa - xã
hội, với chính sách pháp luật của Nhà nước… Từ đó giúp chúng ta có cái nhìn
sâu sắc và toàn diện hơn về vấn đề nghiên cứu.
6
1.1.2. Các lý thuyết sử dụng trong đề tài
Thuyết cấu trúc - chức năng
Theo lý thuyết cấu trúc chức năng thì xã hội là một hệ thống tương đối chặt
trong xã hội chấp nhận vì vậy nhận thức và hành vi về vấn đề GDGT của các em
không thể không tính đến hệ giá trị - chuẩn mực của xã hội.
Hành động có tính duy lý, nghĩa là phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của
chủ thể. Các cá nhân một mặt tuân theo hệ giá trị chuẩn mực của xã hội, mặt
khác vẫn hành động rất khác nhau, chứ không nhất thiết theo khuôn mẫu cứng
nhắc. Vì vậy các cá nhân tuỳ thuộc vào nhu cầu, mức độ quan tâm của mình mà
có những nhận thức và hành vi khác nhau về vấn đề GDGT.
Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Nhu cầu thể hiện sự đòi hỏi của cơ thể sống đối với môi trường bên ngoài
thể hiện thành những ứng xử tìm kiếm, nếu không thì thiếu những điều kiện tồn
tại và phát triển.
Maslow là người đầu tiên đưa ra hệ thống các nhu cầu của con người.
Thuyết về thang phân cấp nhu cầu của ông được chia thành 5 bâc: từ nhu cầu vật
chất đến nhu cầu hoàn thiện và phát huy tiềm năng của bản thân.
1. Các nhu cầu về sinh lý: Ăn, ngủ...
2. Các nhu cầu về an toàn an sinh.
3. Nhu cầu về xã hội văn hoá.
4. Nhu cầu tự trọng.
5. Nhu cầu tự thể hiện, tự khẳng định.
Mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của những nhu cầu nhất định.
Mỗi cá nhân khác nhau trong hoàn cảnh khác nhau sẽ có nhu cầu khác nhau và ở
cấp bậc khác nhau, nhưng phải đáp ứng được nhu cầu bậc thấp mới đi đến đáp
ứng được nhu cầu bậc cao hơn.
Sử dụng lý thuyết này vào đề tài nghiên cứu để chỉ ra rằng: Việc trẻ trong độ
tuổi dậy thì có nhu cầu được hiểu biết các vấn đề về giới tính là tất yếu nhằm
đáp ứng nhu cầu của chính bản thân các em.
Lý thuyết vai trò
Theo Ralph Linton, vai trò là một quan điểm cơ bản trong lý thuyết xã hội
học nó đánh giá cao những mong đợi xã hội gắn với những vị thế cụ thể và phân
tích thực hiện những mong đợi. Mỗi cá nhân có một loại vai trò được đem lại từ
cơ cấu cơ bản của tương tác người trong đàm thoại, trên cơ sở đó nghiên cứu
được những hành vi hoặc phản xạ vô thức tiềm ẩn.
9
- Phương pháp nghiên cứu hành vi thường ngày: Trong quá trình nghiên
cứu hoạt động thường ngày, những cân nhắc, tính toán của các chủ thể hành
động chính là hình thức mô tả, đánh giá những ý tưởng hoặc những tình huống
xã hội đặc thù. Để nghiên cứu hành vi thường ngày, các phương pháp tường
thuật, mô tả, phân tích đàm thoại được sử dụng một cách triệt để. Trên cơ sở đề
nghị đối tượng bị nghiên cứu tường thuật lại những hành động cụ thể diễn ra
trong cuộc sống hàng ngày, nhà nghiên cứu có thể đánh giá mối quan hệ giữa cá
nhân với cộng đồng hoặc cả cộng đồng với toàn xã hội. Đây là những phản ánh
chủ quan về đời sống xã hội khách quan, từ đó giải thích được mô hình hành vi
của các nhóm dân cư.
- Cũng theo Harlod Garfinkel, thói quen xã hội và những hành vi tiềm thức
có ý nghĩa quan trọng giúp xác định mô hình ứng xử, phong tục tập quán của cá
nhân và nhóm xã hội. Những thói quen và hành vi tiềm thức đó thường được
bộc lộ trong các đàm thoại khi chủ thể không có ý thức kiểm soát lời nói hoặc
hành vi của mình vì bị lôi cuốn vào mục tiêu của cuộc đàm thoại. Chính vì vậy,
hành vi tiềm thức và thói quen xã hội là những đối tượng nghiên cứu quan trọng
theo lý thuyết phương pháp dân tộc học.
Tóm lại, trong nghiên cứu này, phương pháp luận dân tộc học được sử dụng
để nghiên cứu về các đặc trưng của tộc người có ảnh hưởng như thế nào tới nhận
thức cũng như hình thức, nội dung được cha mẹ lựa chọn trong việc GDGT cho
trẻ VTN trong các gia đình người dân tộc H’Mông một cách khách quan không
áp đặt ý thức chủ quan của tác giả.
1.1.3. Khái niệm công cụ
1.1.3.1. Khái niệm đặc tính dân tộc
mặt, một mặt cá nhân tiếp nhận những kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập
vào môi trường xã hội hoá. Mặt khác sản xuất một cách chủ động hệ thống vào
mối quan hệ xã hội”.
1.1.3.3. Khái niệm giới
Giới được hiểu là những đặc điểm, tính cách, cách ứng xử, vai trò trách
nhiệm của con trai con gái mà xã hội quy định. Các đặc điểm này được hình
thành từ cuộc sống, chịu ảnh hưởng của gia đình, bạn bè, tôn giáo, văn hóa, nhà
trường, báo chí,… Các đặc điểm này có thể thay đổi được.
11
1.1.3.4. Khái niệm giới tính
Giới tính là khái niệm chỉ tập hợp những đặc điểm, tính chất riêng biệt tạo
nên sự khác nhau giữa nam và nữ, những đặc điểm ấy giúp ta phân biệt được
một cách dễ dàng nam và nữ. Giới tính hình thành từ hai nguồn gốc:
- Về mặt sinh học: Giới tính có các đặc điểm: Bị quy định hoàn toàn bởi gen
cụ thể là hai cặp nhiễm sắc thể XX và XY. Trong đó XX là nữ và XY là nam.
- Về mặt xã hội: Tình cảm, ý thức được hình thành qua giao tiếp dưới ảnh
hưởng của giáo dục, xã hội. Mỗi xã hội có sự phân công lao động riêng, có quan
niệm về giới tính theo những chuẩn mực đạo đức và văn hóa nhất định.
Theo từ điển tiếng việt: “Giới tính là sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ”
Như vậy, giới tính là chỉ sự phân biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, theo
đó các đặc điểm về giới tính không thể thay đổi được trừ khi phẫu thuật.
1.1.3.5. Khái niệm giáo dục giới tính
Có nhiều định nghĩa khác nhau về GDGT:
Định nghĩa của A.G.Khơricôpva và D.B.Kôlêxôp
“GDGT là một quá trình hướng vào việc vạch ra những nét, những phẩm
chất, những đặc trưng và khuynh hướng phát triển của nhân cách nhằm xác
định thái độ xã hội cần thiết của con người đối với những thuộc giới khác
cần thiết về giới tính, giúp họ có thái độ và kỹ năng giao tiếp, ứng xử lịch sự,
văn minh trong quan hệ với người khác giới trong hoạt động sống và hoạt động
xã hội. GDGT chủ yếu tập trung vào thế hệ trẻ trước hôn nhân.
1.1.3.6. Khái niệm vị thành niên
Vị thành niên là thời kỳ chuyển đổi từ trẻ con thành người lớn. Nó được
đánh dấu bằng những thay đổi xen lẫn nhau về thể chất, trí tuệ và mối quan hệ
xã hội chuyển từ giản đơn sang phức tạp.
Theo WHO, thời kỳ này kéo dài khoảng 10 năm từ 10 - 19 tuổi, có trường
hợp đến 21 tuổi. Người ta thường phân chia VTN thành 3 nhóm: VTN sớm: 10 14 tuổi, VTN giữa: 15 - 17 tuổi và VTN muộn: 18 - 19 tuổi.
Ở nước ta, pháp luật quy định từ đủ 18 tuổi trở lên thì một con người có đầy
đủ những quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân độc lập. Đủ từ 18 tuổi họ có
quyền kết hôn và sinh con, nghĩa là khi đó họ không còn là VTN nữa. Do vậy,
VTN ở nước ta thường được xác định trong độ tuổi từ 10 đến trước 18 tuổi.
13
Đây là giai đoạn đứa trẻ có nhiều biến động lớn về thể chất, tâm lý, phát
triển trí tuệ, về mối quan hệ với bạn cùng lứa tuổi, với thầy cô giáo, với cha mẹ
và đặc biệt có sự thay đổi về hoạt động chức năng sinh sản. Những thay đổi vừa
phức tạp vừa đột biến đến mức đã có người định nghĩa “Vị thành niên là một
thời kỳ bão tố của những dao động lớn giữa những điều cực kỳ trái ngược
nhau”. (Neillk,1979)
1.1.3.7. Khái niệm gia đình
Gia đình được tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc
(UNESCO) định nghĩa: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng
sống chung và có cùng ngân sách chung”. Như vậy, gia đình là một nhóm xã hội
đặc biệt gắn bó với nhau bởi huyết thống và tình cảm. Gia đình được hình thành
trên cơ sở hôn nhân, và quan hệ huyết thống có được từ hôn nhân đó.
1.1.3.8. Giáo dục giới tính cho vị thành niên trong gia đình
Bài viết “Về vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ em trong gia đình” của tác giả
Nguyễn Thị Tố Quyên Tạp chí Xã hội học số 1, năm 2005 cho thấy 61,6% ông
bố thấy cần thiết phải trao đổi với con về vấn đề giới tính, trong đó 56,6% ông
bố, 64,3% bà mẹ cho rằng cần phải giáo dục về vấn đề này. Liên quan tới
phương pháp GDGT, bài viết cũng đã chỉ ra một thực tế ngoài việc trò chuyện
trực tiếp, có tới 20,5% ông bố và 24,25 bà mẹ cho rằng chỉ cần GDGT, tình dục
SKSS cho con bằng việc mua sách báo cho chúng tự học, không cần trao đổi hay
nói chuyện trực tiếp về vấn đề này. Bài viết này đã chỉ ra được thực trạng hiện
nay trong việc GDGT của các gia đình, tuy nhiên chưa lý giải được nguyên nhân
dẫn tới thực trạng đó.
Trong cuốn “Khi người ta lớn” của BS. Đỗ Hồng Ngọc, Nxb trẻ. Sách tập
trung lý giải những trăn trở: Làm sao để trẻ đủ sức khỏe học hành, cách gì để xả
stress sau mỗi kỳ thi, nghỉ hè như thế nào cho hiệu quả, những mối quan hệ cha
mẹ - con cái… Tất cả được trình bày dưới góc nhìn tác giả là một bác sĩ nhi, một
nhà tâm lý và đồng thời là một người cha mẫu mực. Sách thích hợp cho giới trẻ
và cả phụ huynh tham khảo.
Trong cuốn “Bỗng nhiên mà họ lớn” của BS. Đỗ Hồng Ngọc, Nxb trẻ. Với
nhãn quan y học của một vị bác sĩ, một người cha, người anh, người bạn nhiều
năm gắn bó với trẻ, tác giả Đỗ Hồng Ngọc gửi đến bạn đọc những phát hiện thú
vị từ thực tế diễn biến tâm sinh lý tuổi mới lớn. Từ đó đi sâu phân tích, hướng
15
dẫn, chia sẻ về những lo lắng trước những “đổi thay”, những trục trặc quanh
chuyện cơ thể, tâm lý ở lứa tuổi chuyển tiếp thành người lớn. Tác phẩm bổ ích
cho các em tuổi mới lớn, đồng thời cần thiết cho các phụ huynh, thầy cô...
Trong cuốn “Tâm lý học giới tính và giáo dục giới tính” của tác giả Bùi
Ngọc Oánh, Nxb Giáo dục năm 2006 đã nêu lên những vấn đề chung về giới
tính tâm lý học giới tính, các khái niệm giới và giới tính, sự hình thành và phát
triển giới tính, một số vấn đề điển hình của đời sống giới tính, GDGT và những
Các cuốn sách khác như: “Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục dành cho
tuổi vị thành niên” tác giả Đào Xuân Dũng, Nxb tổng hợp TPHCM; “Giáo dục
giới tính dành cho tuổi vị thành niên” tác giả Đào Xuân Dũng, Nxb tổng hợp
TPHCM; “Tuổi dậy thì lớn rồi, nhưng mà” của AlphaBooks biên soạn và rất
nhiều cuốn sách khác nữa.
Nói chung những cuốn sách, bài viết trên đã khẳng định vai trò to lớn của
giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong giai đoạn hiện nay. Thế nhưng đây
là vấn đề rất phong phú và rộng lớn, vẫn còn nhiều nội dung cụ thể mà các nhà
nghiên cứu chưa đề cập tới, nhất là vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về
đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình
dân tộc H’Mông xã Mồ Dề - huyện Mù Cang Chải - tỉnh Yên Bái. Vì vậy, với
khoá luận tốt nghiệp này, tôi xin đóng góp một hướng tiếp cận cụ thể hơn, sâu
hơn về vấn đề đặc tính dân tộc trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên
trong gia đình dân tộc H’Mông xã Mồ Dề - huyện Mù Cang Chải - tỉnh Yên Bái.
1.2.2. Lược sử quá trình giáo dục giới tính
1.2.2.1. Quá trình giáo dục giới tính trên thế giới
GDGT là 1 vấn đề được nhiều nước ở Châu Âu tiến hành từ rất sớm. Năm
1921 Thụy Điển đã nghiên cứu vấn đề GDGT. Ngay từ thời đó Thụy Điển đã
coi giáo dục là quyền tự do của con người, là quyền bình đẳng nam nữ là trách
nhiệm đạo đức của công dân đối với xã hội. Năm 1942, Bộ Giáo dục Thụy Điển
quyết định đưa thí nghiệm giáo dục tình dục vào nhà trường và đến năm 1956
thì dạy phổ thông trong tất cả các trường từ tiểu học đến trung học [12, tr.9].
Sau Thụy Điển các nước Đông Âu như: Anh, Đức, Ba Lan, Hunggari, Tiệp
Khắc, các nước Tây Âu, Bắc Âu khác đều coi giáo dục tình dục là một vấn đề
lành mạnh, đem lại tự do cho con người vì họ quan niệm rằng cần nói rõ cho
17
mọi người hiểu biết những quy luật hoạt động tình dục. Sau đó, nhiều nước
Nhận thức về giới và GDGT trong văn hóa còn được thể hiện trong các
phong tục, đặc biệt là trong các lễ hội cổ truyền của nhiều địa phương. Nói
chung, thời Việt cổ có quan niệm tương đối đầy đủ về các yếu tố của vấn đề sinh
lý, giới tính, khá cởi mở, phóng khoáng về tình dục, coi đó là hành động tự
nhiên, cần thiết để bảo tồn và phát triển nòi giống, có quan hệ đến sự phồn thịnh
và hạnh phúc của quốc gia, dân tộc.
Sau khi tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo với chữ “Lễ” được đề
cao, dần dần khía cạnh tâm lý xã hội của giới tính được khai thác nhằm phục vụ
lợi ích của giai cấp phong kiến, tạo nên sự bất bình đẳng về giới. Hàng rào lễ giáo
được tăng lên, ngăn chặn một cách giả tạo sự tiếp xúc giữa những người khác
giới. Những chuyện liên quan đến khía cạnh sinh lý của giới tính và tình dục trở
thành điều cấm kỵ đối với trẻ. Toàn xã hội được hướng dẫn bởi những thuyết giáo
đạo đức “Trung, Hiếu, Tiết hạnh” phục vụ cho quân quyền, phụ quyền và nam
quyền. Chính vì vậy, GDGT với ý nghĩa chân chính của nó đã bị “né tránh”.
Ngày nay, Nhà nước Việt Nam coi giáo dục dân số là một công tác thường
xuyên. Hàng loạt chủ trương được thực hiện nhằm xã hội hóa công tác giáo dục
dân số một cách hữu hiệu, trong đó có chủ trương thực hiện khuyến nghị của Hội
nghị tư vấn khu vực về giáo dục dân số năm 1986 ở Băngkok, gồm: Giáo dục đời
sống gia đình, Giáo dục giới tính, Giáo dục tuổi già và Giáo dục đô thị hóa.
Trong năm 1985, Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ đã triển khai phong trào
giáo dục “Ba triệu bà mẹ nuôi con khỏe, dạy con ngoan”, trong đó có nội dung
GDGT cho lứa tuổi dậy thì. Đây là lần đầu tiên ở nước ta đề cập đến vấn đề
GDGT được tiến hành rộng rãi và gián tiếp. Thông qua phong trào này nhằm
cung cấp kiến thức khoa học cho các mẹ có con ở lứa tuổi dậy thì. Tuy nhiên,
hình thức chủ yếu được sử dụng ở đây là nói chuyện, diễn giảng và các nhà
thuyết giảng hầu hết không phải nhà chuyên gia nên hiệu quả chỉ mang tính chất
phong trào.
Tới năm 1988, một đề án có quy mô to lớn nghiên cứu về GDGT, dân số và
kế hoạch hóa gia đình cho học sinh, đề án VIE/88/P09 đã được tiến hành dưới
Cách đây chưa đầy 10 năm, xã Mồ Dề của huyện Mù Cang Chải còn rất khó
khăn. Đường giao thông cách trở, nhiều hủ tục lạc hậu vẫn tồn tại, đời sống của
đồng bào H’Mông thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần. Đội ngũ cán bộ, đảng
viên xã vừa thiếu vừa yếu, không gánh vác được nhiệm vụ do Đảng bộ xã phân
20