BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------
NGUYỄN VIỆT ANH
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI KỸ THUẬT AN VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------
NGUYỄN VIỆT ANH
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI KỸ THUẬT AN VIỆT
Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
những mặt yếu kém nhằm khắc phục và hoàn thiện hơn tình hình tài chính tại
doanh nghiệp. Vì sự cần thiết trên, nên em chọn đề tài luận văn tốt nghiệp là
“Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại
Công ty cổ phần Thương mại Kỹ thuật An Việt”.
Căn cứ khoa học và thực tiễn.
Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần Thương mại Kỹ thuật An Việt
em thấy rằng trong những năm qua, công ty chưa có hoạt động phân tích tình
hình tài chính. Khi nghiên cứu sơ bộ các báo cáo tài chính, cho thấy mặc dù tình
hình kinh doanh của công ty có lãi, nhưng tỷ suất lợi nhuận thu được là chưa cao,
LỚP: 13B QTKD1
1
HỌC VIÊN: NGUYỄN VIỆT ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực hiện có của công ty. Do đó vêu cầu
đối với Công ty cổ phần Thương mại Kỹ thuật An Việt là phải đi sâu nghiên cứu
để hiểu rõ hơn tình hình tài chính của công ty, từ đó đưa ra những nguyên nhân
tồn tại và biện pháp kịp thời để nâng cao hiệu quả tài chính và hiệu quả hoạt
động kinh doanh của công ty trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết.
2.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Mục tiêu chung.
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm cải thiện tình hình tài chính của Công
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, em tập trung nghiên cứu tình hình
tài chính của Công ty cổ phần Thương mại Kỹ thuật An Việt từ năm 2012 đến
năm 2014 để từ đó đề xuất một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính trong
tương lai.
4.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương
pháp thu thập, khảo sát và so sánh tổng hợp từ nguồn số liệu thu thập được tại
doanh nghiệp, các số liệu trên Báo cáo tài chính và các thông tin có được từ việc
phỏng vấn trực tiếp các nhân viên ở phòng kế toán. Trong quá trình nghiên cứu
đề tài áp dụng nguyên tắc khách quan, logic trong phân tích và nhận xét.
5.
KẾT CẤU LUẬN VĂN
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về tài chính doanh nghiệp và phân tích tình
hình tài chính doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính Công ty cổ phần Thương mại Kỹ
thuật An Việt.
Chương 3: Một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ
phần Thương mại Kỹ thuật An Việt.
LỚP: 13B QTKD1
3
lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ. Doanh
nghiệp cũng có thể gửi tiền vào Ngân hàng, đầu tư chứng khoán
bằng số tiền tạm thời chưa sử dụng.
• Quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường sản pham dịch vụ: Trong
nền kinh tế, doanh nghiệp có quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp
khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ,. Đây là những thị trường mà
tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà
xưởng, ... Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có
thể xác định được nhu cầu hàng hóa, dịch vụ cần thiết cung ứng.
Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch
sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường.
• Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường lao động: Quan hệ ở đây là
LỚP: 13B QTKD1
4
HỌC VIÊN: NGUYỄN VIỆT ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
doanh nghiệp đi mua sức lao động ở thị trường và trả tiền cho họ.
• Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là quan hệ giữa các bộ phận
sản xuất - kinh doanh, giữa cổ đông và người quản lý, giữa cổ đông
và chủ nợ, giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn. Các mối
trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào quyết định đầu tư dài hạn
với quy mô lớn như quyết định đổi mới công nghệ, mở rộng sản
xuất kinh doanh, sản xuất sản phẩm mới...Để đi đến quyết định đầu
tư đòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét cân nhắc trên nhiều mặt kinh
tế, kỹ thuật và tài chính. Trong đó, về mặt tài chính phải xem xét
các khoản chi tiêu vốn cho đầu tư và thu nhập do đầu tư đưa lại
hay nói cách khác là xem xét dòng tiền ra và dòng tiền vào liên
quan đến khoản đầu tư để đánh giá cơ hội đầu tư về mặt tài chính.
Đó là quá trình hoạch định dự toán vốn đầu tư và đánh giá hiệu quả
tài chính của việc đầu tư.
• Xác định nhu cầu vốn và tổ chức huy động vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ
nhu cầu vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp: Tất cả các hoạt
động của doanh nghiệp đều đòi hỏi phải có vốn. Để đi đến quyết
định lựa chọn hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp,
cần xem xét cân nhắc trên nhiều mặt như: kết cấu nguồn vốn,
những điểm lợi của từng hình thức huy động vốn, chi phí cho việc
sử dụng mỗi nguồn vốn.v.v..
• Sử dụng có hiệu quả số vốn hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu, chi
và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp: Tài chính doanh
nghiệp phải tìm mọi biện pháp huy động tối đa số vốn hiện có của
doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh, giải phóng kịp thời số vốn
ứ đọng, theo dõi chặt chẽ về thực hiện tốt việc thanh toán, thu hồi
tiền bán hàng và các khoản phải thu khác, đồng thời quản lý chặt
chẽ mọi khoản phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh
nghiệp. Thường xuyên tìm mọi biện pháp thiết lập sự cân bằng giữa
thu và chi bằng tiền, đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng thanh
LỚP: 13B QTKD1
các quyết định tài chính thích hợp nhằm đạt tới các mục tiêu của
doanh nghiệp. Quá trình thực hiện kế hoạch hóa tài chính cũng là
quá trình chủ động đưa ra các giải pháp hữu hiệu khi thị trường
biến động.
1.2
Khái niệm và sự cần thiết phải phân tích tài chính doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính là tổng hợp các phương pháp phân tích dùng để
phân tích, đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện tại cũng như dự
đoán tình hình tài chính trong tương lai giúp các đối tượng quan tâm đưa
ra các quyết định hợp lý và phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm.
LỚP: 13B QTKD1
7
HỌC VIÊN: NGUYỄN VIỆT ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
1.2.2 Ý nghĩa và mục đích của phân tích tài chính doanh nghiệp
Thông tin về tình hình tài chính rất hữu ích đối với việc quản trị
doanh nghiệp và cũng là nguồn thông tin quan trọng đối với những người
ngoài doanh nghiệp. Phân tích tình hình tài chính không những cho biết
8
HỌC VIÊN: NGUYỄN VIỆT ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
môi trường,. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được
các mục tiêu này nếu đáp ứng được hai thử thách sống còn và là hai mục
tiêu cơ bản. Đó là: Kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ. Một doanh
nghiệp nếu bị lỗ liên tục, rút cuộc sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc
phải đóng cửa. Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán
các khoản nợ đến hạn cũng bị buộc phải ngừng hoạt động và đóng cửa.
Như vậy, hơn ai hết, các nhà quản trị doanh nghiệp và các chủ doanh
nghiệp cần có đủ thông tin và hiểu rõ doanh nghiệp nhằm đánh giá tình
hình tài chính đã qua, thực hiện cân bằng tài chính, khả năng thanh toán,
sinh lợi, rủi ro và dự doán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết định đúng
đắn.
- Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng: mối quan tâm
của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Vì vậy, họ
đặc biệt chú ý đến số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi
thành tiền nhanh, từ đó, so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng
thanh toán tức thời của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các chủ ngân hàng và
các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng vốn của chủ sở
hữu, bởi vì, số vốn chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho họ trong trường
hợp doanh nghiệp gặp rủi ro. Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các
chính của doanh nghiệp. Đó là các cơ quan tài chính, thuế, thống kê, chủ
quản, các nhà phân tích tài chính, những người lao động,. Những nhóm
người này có nhu cầu thông tin về cơ bản giống như các chủ ngân hàng,
các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp. bởi vì nó liên quan đến quyền lợi
và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ.
Như vậy, có thể nói, mục đích tối cao và quan trọng nhất của phân tích
tình hình tài chính doanh nghiệp là giúp những người ra quyết định lựa
chọn phương án kinh doanh tối ưu và đánh giá chính xác thực trạng và
tiềm năng của doanh nghiệp.
1.3
Quy trình và phương pháp phân tích
1.3.1 Quy trình phân tích:
Hình 1.2. Các bước phân tích tài chính doanh nghiệp
LỚP: 13B QTKD1
10
HỌC VIÊN: NGUYỄN VIỆT ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
Quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp nhìn chung thường trải qua 5
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
tố tới các chỉ tiêu phân tích.
o Phân tích các nguyên nhân thành công, nguyên nhân thất bại.
• Tổng hợp và dự đoán
o Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, dự báo xu hướng phát triển
o Đề xuất các giải pháp tài chính cũng như các giải pháp khác
nhằm thực hiện mục tiêu
1.3.2 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhà
phân tích cần phải đọc và hiểu được các báo cáo tài chính, nhận biết được
và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu
phân tích.Từ đó, sử dụng các phương pháp phân tích để đánh giá và nhận
biết xu thế thay đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Một trong những phương pháp phân tích được áp dụng phổ biến là
phương pháp tỷ số - phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân
tích. Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu
khác. Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng
ngày càng được bổ sung và hoàn thiện. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ số
cần phải xác định được các ngưỡng - các tỷ số tham chiếu.Để đánh giá
tình hình tài chính của một doanh nghiệp cần kết hợp phương pháp tỷ số
với phương pháp so sánh để so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ
số tham chiếu. Khi phân tích, nhà phân tích thường so sánh theo thời gian
(so sánh kỳ này với kỳ trước) để nhận biết xu thế thay đổi tình hình tài
chính của doanh nghiệp, theo không gian (so sánh với mức trung bình
ngành) để đánh giá vị thế của doanh nghiệp trong ngành.
nghiệp. Nội dung bảng cân đối kế toán khái quát tình hình tài chính của một
doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, thường là cuối kỳ kinh doanh. Cơ cấu
gồm hai phần luôn bằng nhau: Tài sản và nguồn vốn tức nguồn hình thành nên
tài sản, gồm nợ phải trả cộng với chủ sở hữu. Khi phân tích bảng cân đối kế toán,
chúng ta sẽ xem xét và nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau:
Xem xét sự biến động của tổng tài sản và của từng loại tài sản. Qua đó
thấy được quy mô kinh doanh, năng lực kinh doanh của công ty.
Xem xét cơ cấu vốn có hợp lý hay không? Cơ cấu vốn có tác động như
thế nào đến quá trình kinh doanh.
Khái quát xác định mức độ độc lập (hoặc phụ thuộc) về mặt tài chính của
doanh nghiệp.
Xem xét mối quan hệ cân đối giữa các chỉ tiêu, các khoản mục.
Phân tích các chi tiêu phản ánh khả năng thanh toán và cấu trúc tài chính.
LỚP: 13B QTKD1
13
HỌC VIÊN: NGUYỄN VIỆT ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
1.4.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Là báo cáo thu nhập hay còn gọi là báo cáo lợi tức - là báo cáo tài chính
tổng hợp về tình hình và kết quả kinh doanh; phản ánh thu nhập của kết quả hoạt
động tài chính và các hoạt động khác qua một thời kỳ kinh doanh. Ngoài ra theo
qui định ở Việt Nam báo cáo thu nhập còn có thêm phần kê khai tình hình thực
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
1.4.5 Các nguồn thông tin khác
Thông tin liên quan đến tình hình kinh tế:
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động của nhiều
yếu tố thuộc môi trường vĩ mô nên khi tiến hành phân tích tài chính cần phải đặt
trong bối cảnh chung của nền kinh tế trong nước và khu vực. Những thông tin
cần quan tâm là: thông tin về tăng trưởng, suy thoái kinh tế, thông tin về lãi suất
ngân hàng, triệu đồng giá ngoại tệ, thông tin về triệu đồng lệ lạm phát, các chính
sách kinh tế, chính trị, ngoại giao lớn của Nhà nước.
Thông tin theo ngành:
Ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô, những thông tin liên quan đến
ngành, lĩnh vực kinh doanh cũng cần được chú trọng: mức độ và yêu cầu công
nghệ của ngành, mức độ cạnh tranh và quy mô của thị trường, nhịp độ và xu
hướng vận động của ngành, nguy cơ xuất hiện những đối thủ cạnh tranh tiềm
tàng.
1.5
Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.5.1 Phân tích khái quát các báo cáo tài chính
• Bảng cân đối kế toán
BCĐKT cho biết sự phát triển hay suy thoái của doanh nghiệp thông qua
biển động về tài sản và nguồn vốn.
Phân tích cơ cấu tài sản: Xem xét sự hợp lý của tỉ lộ từng loại tài sản so
• Báo cáo kết quả kinh doanh
BKQKD cho biết kết quả kinh doanh chính: Doanh thu, chi phí, khấu hao
TSDH, lãi vay cho chủ nợ, nộp ngân sách nhà nước, lãi của chủ sở hữu.
Mục tiêu cơ bản của phân tích biến động doanh thu, chi phí, lợi nhuận của
doanh nghiệp là tìm hiểu nguồn gốc, thực trạng và xu hướng của doanh thu, chi
phí và lợi nhuận. Quá trình này được tập trung vào những vấn đề cơ bản như sau:
+ Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp có thực hay không và tạo
ra từ những nguồn nào, sự hình thành như vậy có phù hợp với chức năng hoạt
động sản xuất của doanh nghiệp hay không.
+ Doanh thu, chi phí, lợi nhuận của doanh nghiệp thay đổi có phù hợp với
dặc điểm chi phí, hiệu quả kinh doanh, phưtmg hướng kinh doanh hay không.
• Báo cáo lưu chuyến tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho người phân tích biết:
LỚP: 13B QTKD1
16
HỌC VIÊN: NGUYỄN VIỆT ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
+ Số dư tiền mặt thuần của hoại động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt
động tài chính.
+ Số dư tiền thuần trong kỳ của tất cả các hoạt dộng và sổ dư tiền mặt cuối kỳ.
Vốn dài hạn:
- Đâu tư tài chính dài hạn
+ Nợ dài hạn
- Xây dựng cơ bản dở dang
+ Vốn chủ sở hữu
- Ký quỹ, ký cược dài hạn
Hình 1.3 Cân đối tài sản nguồn vốn
LỚP: 13B QTKD1
17
HỌC VIÊN: NGUYỄN VIỆT ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
+ Nếu tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn:
Điều này là hợp lý vì doanh nghiệp giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sản
ngắn hạn và nợ ngẳn hạn, sử dụng đúng mục đích nợ ngắn hạn. Đảm bảo nơuyên
tắc tài trợ về sự hài hòa kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản ngắn hạn.
GVHD TS. NGUYỄN THỊ MAI CHI
1.5.2 Phân tích hiệu quả tài chính
• Phân tích khả năng quản lý tài sản
Là đánh giá hiệu suất, cường độ sử dụng (mức độ quay vòng) và mức
sản xuất của tổng tài sản trong năm,
Là trả lời câu hỏi một đồng tài sản có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh
thu
• Sức sản xuất của tổng tài sản
Chỉ số sức sản xuất của tổng tài sản được thiết lập để đánh giá tổng
hợp khả năng quản lý tài sản của công ty bao gồm cả tài sản cố định và tài
sản ngắn hạn.
Sức sản xuất của tổng tài sản
=
Doanh thu thuần
TTS bình quân
- Sức sản xuất tổng tài sản cao chứng tỏ các tài sản của doanh nghiệp
có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ không bị nhàn rỗi và không bị
giam giữ trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.
- Sức sản xuất của tổng tài sản cao là cơ sở tốt để có lợi nhuận cao.
- Sức sản xuất của tổng tài sản thấp là do yếu kém trong quản lý tài
sản cố định, quản lý tiền mặt, quản lý khoản phải thu, chính sách bán
hàng, quản lý vật tư, quản lý sản xuất, quản lý bán hàng.
- Sức sản xuất của TSDH thấp là do nhiều TSDH không hoạt động,
chất lượng tài sản kém, hoặc không hoạt động hết công suất.
• Sức sản xuất của tài sản ngắn hạn (TSNH):
Sức sản xuất của TSNH
Doanh thu thuần
=
TSNH bình quân
Vì TSNH bao gồm tiền, khoản phải trả và hàng tồn kho nên rõ ràng
đối với các doanh nghiệp, chỉ số tài chính này có một tầm quan trọng đặc
biệt, nó phản ánh hầu như trọn vẹn tất cả các mặt quản lý tài chính ngắn
hạn của doanh nghiệp.
- Sức sản xuất của TSNH cao chứng tỏ tài sản lưu động có chất lượng
cao, được tận dụng đầy đủ không bị nhàn rỗi và không bị giam giữ trong
quá trình sản xuất kinh doanh.
- Sức sản xuất của TSNH cao là cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nhờ tiết
kiệm được chi phí và giảm được lượng vốn đầu tư.
- Sức sản xuất của TSNH thấp do tiền mặt nhàn rỗi, thu hồi khoản
phải thu kém, chính sách bán chịu quá rộng rãi, quản lý vật tư không tốt,
quản lý sản xuất không tốt, quản lý bán hàng không tốt.
• Vòng quay hàng tồn kho:
Doanh thu thuần
hàng chưa tốt.
• Kỳ thu nợ bán chịu:
KPT bình quân x 360
Kỳ thu nợ
=
Doanh thu
Chỉ số này phản ánh mức độ bán chịu của doanh nghiệp, về bản chất
đây là phần doanh thu chưa được thu hồi được tính theo ngày.
- Kì thu nợ dài phản ánh chính sách bán chịu táo bạo, có thể là dấu
hiệu tốt nếu tăng tốc độ doanh thu lớn hơn tốc độ tăng khoản phải thu.
Nếu vận động đúng, chính sách bán chịu là một công cụ tốt để mở rộng
thị phần và để tăng doanh thu.
- Kì thu nợ dài có thể do yếu kém trong việc thu hồi khoản phải thu,
doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn, khả năng sinh lời thấp.
- Kì thu nợ ngắn có thể do khả năng thu hồi khoản phải thu tốt, doanh
nghiệp ít bị chiếm dụng vốn, lợi nhuận có thể cao. Tuy nhiên, một chính
sách bán chịu quá chặt chẽ có thể đánh mất cơ hội bán hàng và cơ hội mở
rộng quan hệ kinh doanh.
• Phân tích khả năng sinh lời:
Khả năng sinh lời phản ánh năng lực kinh doanh, là điều kiện tiền đề
cho tương lai, cho phép doanh nghiệp đánh giá được tình trạng tiềm năng
LỚP: 13B QTKD1
sức sinh lợi cơ sở còn gọi là doanh lợi trước thuế trên tài sản.Chỉ số này
được xác định như là tỷ số giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) và
tổng tài sản bình quân.
Sức sinh lợi (BEP)
EBIT
=
TTS bình quân
Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo
được bao nhiêu đồng lãi cho toàn xã hội, vì vậy chúng được tất cả các bên
hữu quan cùng quan tâm. Lợi thế của chỉ số này là cho phép so sánh khả
năng sinh lợi đối với xã hội của các doanh nghiệp có cơ cấu vốn khác
nhau và thuế thu nhập khác nhau.
• Sức sinh lợi của tài sản, ROA:
ROA
=
Lợi nhuận sau thuế
TTS bình quân
Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra
bao nhiêu đồng lãi cho chủ sở hữu.
LỚP: 13B QTKD1
• Khả năng thanh toán hiện hành
Khả năng thanh toán hiện hành
TS ngắn hạn
=
Nợ ngắn hạn
Chỉ số này cho biết mỗi đồng nợ ngắn hạn có thể được “che chở” bởi
bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn thường bao gồm tiền,
khoản phải thu và hàng tồn kho. Trong khi đó, nợ ngắn hạn bao gồm
khoản phải trả, vay ngắn hạn, nợ dài hạn đến hạn và nợ định kỳ.
• Khả năng thanh toán nhanh
Trong các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp, hàng tồn kho là tài sản
có tính thanh khoản thấp nhất.Ngoài ra, hàng tồn kho (vật tư, sản phẩm
dở dang, thành phẩm) khi được sử dụng cho sản xuất và bán chứ không
phải để trả nợ thì sẽ mang lại giá trị lớn hơn. Chính vì hai lý do trên mà
LỚP: 13B QTKD1
23
HỌC VIÊN: NGUYỄN VIỆT ANH