Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự - Pdf 38

Lời Cảm Ơn

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến tất cả các Thầy giáo, Cô giáo - những
giảng viên của Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà nội đã nhiệt tình, tâm huyết
giúp đỡ, chỉ bảo, dạy dỗ em trong suốt 4 năm học đại học vừa qua.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, cụ thể của GVC. Ths Bùi
Thị Thanh Hằng. Sự hướng dẫn, chỉ bảo của Cô đã giúp em rất nhiều trong
thời gian em làm khoa luận tốt nghiệp. Em chân thành cảm ơn Cô!
Cuối cùng, Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình tôi, những người bạn thân của
Tôi.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn.

Sinh viên Khoa Luật.


Trần Thị Thu Quỳnh - K49A khoa Luật Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

MỤC LỤC
Lời mở đầu:.....................................................................................................1
Chương I. Khái quát chung về hợp đồng:....................................................6
1.1.Khái niệm hợp đồng và đặc điểm của hợp đồng:...........................6
1.1.1. Hợp đồng là hành vi pháp lí song phương:............................................8
1.1.2. Hợp đồng - nguồn chủ yếu làm phát sinh nghĩa vụ:.............................10
1.2. Sơ lược lịch sử của chế định hợp đồng:.......................................12
Chương II. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:........................................17
2.1. Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng:....................................18
2.1.1. Chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân:...............................................18
2.1.2. Chủ thể tham gia hợp đồng là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác:….25
2.2. Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng:.........................27
2.3. Điều kiện về sự tự nguyện trong hợp đồng:................................30
2.3.1 Hợp đồng giao kết do bị nhầm

pháp Việt Nam đã có sự tiếp thu, học hỏi những quy định pháp luật từ thực
tiễn cũng như luật pháp của các nước trên thế giới, cân nhắc chúng cùng với
hoàn cảnh thực tế tại Việt Nam để đưa ra một văn bản có tính chuẩn mực
pháp lí cao trong hệ thống pháp luật dân sự.Chế định hợp đồng dân sự chiếm
tới hơn 200 điều trong tổng số 777 điều của Bộ luật dân sự. Bên cạnh những

3


Trần Thị Thu Quỳnh - K49A khoa Luật Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

quy định mang tính khái quát về hợp đồng, Bộ luật dân sự cũng có những quy
định riêng về 16 loại hợp đồng thông dụng tạo cơ sở pháp lí cho việc áp dụng
và giải quyết các tranh chấp dân sự liên quan đến vấn đề hợp đồng. Hiện nay
Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu
đảm bảo công bằng xã hội. Hơn nữa, đã hơn một năm qua Việt Nam gia nhập
tổ chức thương mại thế giới (WTO), đang trên đà hội nhập nền kinh tế toàn
cầu, quá trình hội nhập mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng có nhiều thách thức.
Chừng nào pháp luật nói chung và những quy định về hợp đồng dân sự nói
riêng chưa trở thành công cụ cơ bản để điều chỉnh quan hệ xã hội thì chừng
đó Việt Nam vẫn còn đứng ngoài sự phát triển chung của thế giới. Các tranh
chấp về hợp đồng dân sự cũng ngày một gia tăng và mức độ phức tạp ngày
càng cao đòi hỏi pháp luật về hợp đồng dân sự phải hoàn thiện hơn để giải
quyết một cách triệt để. Khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp liên
quan đến hợp đồng dân sự là do các bên không tuân thủ các điều kiện có hiệu
lực của hợp đồng. Để giải quyết được các tranh chấp đó một câu hỏi đặt ra:
“Liệu có tồn tại hợp đồng hay không?” và “Hợp đồng có hiệu lực hay
không?” để từ đó xác định các bên có quyền và nghĩa vụ gì. Vì vậy, những
quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng có vai trò quan trọng trong

4. Kết cấu của đề tài
Khoá luận gồm có: phần mở đầu, ba chương với nội dung như sau:
Chương I. Khái quát chung về hợp đồng
1.1.Khái niệm hợp đồng và đặc điểm của hợp đồng
1.1.1. Hợp đồng là hành vi pháp lí song phương
1.1.2. Hợp đồng - nguồn chủ yếu làm phát sinh nghĩa vụ
1.2.Sơ lược lịch sử của chế định hợp đồng
Chương II. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng
2.1. Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng
5


Trần Thị Thu Quỳnh - K49A khoa Luật Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

2.1.1. Về chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân
2.1.2. Về chủ thể tham gia hợp đồng là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác
2.2. Điều kiện về mục đích, nội dung của hợp đồng
2.3. Điều kiện về sự tự nguyện trong hợp đồng
2.3.1 Hợp đồng giao kết do bị nhầm lẫn
2.3.2. Hợp đồng được giao kết trên cơ sở của sự lừa dối, đe doạ
2.3.3. Hợp đồng giao kết khi một bên không nhận thức và làm chủ được hành
vi của mình
2.4. Điều kiện về hình thức của hợp đồng

6


Trần Thị Thu Quỳnh - K49A khoa Luật Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

Chương I

đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật và các
thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng về quyền và
nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch” (Pháp lệnh hợp
đồng kinh tế 1989) thì khái niệm hợp đồng được xem xét dưới góc độ là hợp
đồng kinh tế. Theo đó, hợp đồng là sự thoả thuận nhưng phải được thể hiện
dưới hình thức nhất định bằng văn bản hay tài liệu giao dịch. Nội dung thoả
thuận của hợp đồng về các lĩnh vực đã được liệt kê một cách cụ thể trong điều
luật và mục đích của hợp đồng là mục đích kinh doanh. Sau đó là sự thay đổi
bằng khái niệm “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác
lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua, bán, thuê,
vay mượn, tặng cho tài sản, làm hay không làm một việc, dịch vụ hoặc các
thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt, tiêu dùng” (Điều 1- Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991). Đây là một khái
niệm về hợp đồng rộng hơn so với khái niệm về hợp đồng kinh tế được quy
định trong Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989. Hợp đồng dân sự theo đó được
hiểu là sự thoả thuận giữa các bên và từ sự thoả thuận đó sẽ làm phát sinh,
thay đổi hay chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán,
hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng vay mượn tài sản, hợp đồng tặng cho,… đã
được điều luật liệt kê. Mục đích của hợp đồng nhằm đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt, tiêu dùng. Tiếp đến khái niệm hợp đồng một lần nữa khẳng định lại tại
Điều 394- Bộ luật dân sự 1995 và Điều 388- Bộ luật dân sự 2005: “hợp đồng
là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền,
nghĩa vụ dân sự”. Khái niệm hợp đồng được đưa ra một cách khái quát hơn
theo đó hợp đồng chính là sự thoả thuận giữa các bên, từ sự thoả thuận ấy làm
8


Trần Thị Thu Quỳnh - K49A khoa Luật Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự và đối tượng của


chí của mỗi bên đòi hỏi phải có sự thống nhất ý chí để hình thành nên hợp
đồng. Hành vi pháp lí là hành vi có mục đích của các chủ thể nhằm phát sinh
hệ quả pháp lí. Đó là phương tiện để thực hiện ý chí của các chủ thể tạo ra các
quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ pháp luật dân sự nói riêng. Hành vi
pháp lí chính là những sự kiện xuất hiện theo ý chí của con người và sự hiện
diện của chúng đưa đến những hệ quả pháp lí nhất định mà pháp luật đã quy
định.
Nhưng để một hành vi pháp lí làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt một quan
hệ pháp luật dân sự thì hành vi đó phải là hành vi mà chủ thể thực hiện phải
phản ánh đúng ý chí của chủ thể đó. Sự phản ánh đúng ý chí của chủ thể được
biểu hiện trên hai mặt là chủ quan và khách quan. Mặt chủ quan của sự thể
hiện ý chí biểu hiện khả năng của chủ thể tự xác định cho mình mục đích
hành động và định hướng cho hành động đạt được mục đích đã xác định
trước. Để được như vậy ý chí đó phải có tính độc lập, phản ánh thái độ tự
nguyện, tự giác của chủ thể và ý chí đó được biểu hiện ra bên ngoài dưới một
hình thức nhất định. Mặt khách quan của sự thể hiện ý chí là ý chí đó phải
được thể hiện ra bên ngoài cho mọi người biết dưới một hành vi nhất định.
Chủ thể tham gia vào hợp đồng phải có sự thống nhất ý chí và thể hiện ý chí
đó ra bên ngoài. Hợp đồng được tạo lập là do sự hợp tác của hai hay nhiều
bên, giữa các bên đã có sự thoả thuận, sự thoả thuận này đủ để tạo lập nên
hợp đồng. Nguyên tắc thoả thuận ý chí là một tiến bộ quan trọng của kĩ thuật
pháp lí hiện đại vì nguyên tắc ấy đã nới rộng phạm vi của hợp đồng. Sự thoả
thuận đó không cần phải theo một công thức nào cả do đó người ta có thể lập
hợp đồng bằng cách trao đổi thư tay, thư điện tử hay qua điện thoại. Ý chí của
các chủ thể sẽ không làm phát sinh bất cứ một hệ quả pháp lí nào nếu nó
không được biểu hiện ra bên ngoài cho mọi người biết dưới một hình thức
nhất định.

10


11


Trần Thị Thu Quỳnh - K49A khoa Luật Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

“ hợp đồng là sự thoả thuận giữa hai hay nhiều bên vê việc xác lập, thay đổi,
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” thì khái niệm về hợp đồng được đưa ra
hoàn toàn giống Bộ luật dân sự của Việt Nam. Còn trong Điều 1-201 Bộ luật
thương mại chuẩn thống nhất Hoa Kì hợp đồng lại được định nghĩa là “khối
nghĩa vụ pháp lí phát sinh từ sự thoả thuận giữa các bên theo quy định của
luật này và những luật có liên quan” thì hợp đồng được nhìn nhận là một khối
nghĩa vụ pháp lí đạt được dựa trên sự thoả thuận nhưng phải căn cứ trên
những quy định của pháp luật quốc gia.
Như vậy có thể khẳng định được rằng, dù nhìn nhận hợp đồng với các góc
độ khác nhau nhưng nhìn chung hợp đồng chính là căn cứ chủ yếu làm phát
sinh nghĩa vụ. Theo Điều 13-khoản 1 Bộ luật dân sự 2005, giao dịch dân sự là
một trong những căn cứ xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự. Cũng theo Điều
281-khoản 1 Bộ luật dân sự 2005 căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự là hợp
đồng dân sự. Hợp đồng là kết quả của sự thống nhất ý chí tự nguyện, trở
thành nguồn chủ yếu làm phát sinh nghĩa vụ. Nghĩa vụ dân sự theo định nghĩa
tại Điều 280- Bộ luật dân sự 2005 “là việc mà theo đó một hoặc nhiều chủ thể
(sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao quyền, trả tiền hoặc
giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không thực hiện công việc nhất định
vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có
quyền). Theo như cách định nghiã trên nghĩa vụ được hiểu là mối quan hệ về
mặt pháp lí. Như vậy có lẽ chưa được chính xác và cách định nghiã này cũng
khác so với cách định nghĩa ở các bộ dân luật ở Việt Nam trước đó như Điều
644-Bộ dân luật Bắc Kì 1931“nghĩa vụ là mối liên lạc về luật thực tại hay luật
thiên nhiên, bó buộc một hay nhiều người phải làm hay đừng làm sự gì đối

và quan trọng nhất là nhu cầu giao lưu giữa mọi người với nhau nhằm hướng
tới một kết quả vật chất nhất định phù hợp với lợi ích của tất cả các bên. Theo
thời gian do sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng của các hình thức giao lưu đó,
một nhu cầu mới nảy sinh đó là nhu cầu cần thiết phải có các mô hình xử sự
chung do nhà nước quy định để các bên tuỳ ý lựa chọn hoặc có thể do chính

13


Trn Th Thu Qunh - K49A khoa Lut iu kin cú hiu lc ca hp ng dõn s

cỏc bờn t mỡnh thit lp. Cỏc mụ hỡnh x s ú c phỏp lut nh danh vi
tờn gi kh c hay hp ng.
Chõu u, s khi u ca ch nh hp ng gn lin vi Lut La Mó
c i. Ngay t th k V-IV trc cụng nguyờn ngi La Mó ó bit n v
xõy dng h thng nhng thut ng, nhng khỏi nim, nhng phm trự phỏp
lớ cú giỏ tr ph bin ton nhõn loi v cỏc vn c bn nht ca ch nh
hp ng nh: hp ng (contractus) v mc ớch, cn c hp ng (causa),
hp ng ming v hp ng vit, hp ng thc t v hp ng ng thun
(res v consensus), ý chớ v th hin ý chớ (id quod actum est v id quod
dictum est)..
Nú ó tht s l khuụn mu iu chnh ton din nhng quan h hp
ng theo quan im hin nay v nh vo nhng giỏ tr ph bin mang tớnh
thi i y m ch nh hp ng khi ngun t Lut La Mó ó c du nhp
mt cỏch t giỏc vo Tõy u cựng vi phong tro Phc Hng din ra vo th
k XII-XIII v sau ú phỏt trin mnh m ti lónh th nhiu nc nh: Phỏp,
c, H Lan. n th k XVIII, XIX v XX, vi s to sỏng ca ngnh khoa
hc phỏp lớ cú hng ngn nm b dy lch s v do tỏc ng ca s phỏt trin
cỏc quan h kinh t- xó hi, ch nh hp ng ó ln lt c cỏc nc
Chõu u phỏp in hoỏ khi xõy dng nhng B lut dõn s u tiờn ca

không có cơ hội phát triển, một sự cách tân hay cải cách thực sự.Về phía
người dân là thái độ thờ ơ với pháp luật, không coi trọng pháp luật.
Khác với những nước phương Tây và những nước ở Châu Á khác pháp
luật thành văn ở Việt Nam xa lạ với nhận thức của người dân và chủ yếu là
luật hành chính, luật hình sự, phần luật tư thành văn tuy có nhưng chỉ đóng
vai trò không đáng kể.
Ngay cả đến bộ luật nổi tiếng dưới thời vua Lê Thánh Tông là Quốc Triều
Hình Luật các quan hệ liên quan đến sinh hoạt, đến cuộc sống hàng ngày của
người dân đều được bảo vệ bằng các chế định nặng nề vẫn được gọi là Ngũ
Hình. Mặt khác đông đảo dân cư chỉ sống theo phong tục, tập quán của mình
với tư tưởng” phép vua thua lệ làng”. Chính thái độ thiếu quan tâm đến pháp
luật cùng với sự hạn chế về điều kiện kinh tế- chính trị- xã hội lúc bấy giờ đã
giúp ta lí giải được tại sao chúng ta không tìm thấy thuật ngữ “hợp đồng” hay
một thuật ngữ nào tương đương trong bất kì một văn bản chính thức nào của
nhà nước phong kiến.
15


Trần Thị Thu Quỳnh - K49A khoa Luật Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

Ngay trong các bộ cổ luật được đánh giá như là đỉnh cao của thành tựu lập
pháp phong kiến như Bộ luật Hồng Đức, Bộ Luật Gia Long, khái niệm hợp
đồng hay khế ước với tư cách là một thuật ngữ pháp lí độc lập và hoàn chỉnh
hầu như không được biết đến. Chế định hợp đồng chỉ được biểu hiện không
thật rõ nét qua các tình huống mua bán cụ thể như: việc mua bán, thuê mướn,
vay nợ, cầm cố, bảo lãnh…. không có tính khái quát cao và không thể áp
dụng chung cho mọi trường hợp. Các bộ cổ luật lúc đó còn chứa đựng nhiều
các quy định mang tính chất bất bình đẳng trong giao lưu dân sự, các chế tài
vi phạm khế ước còn mang nặng tính chất pháp luật hình sự, không phù hợp
với bản chất của quan hệ dân sự.

1986 với công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đòi hỏi phải xây dựng khung
pháp luật điều chỉnh nền kinh tế thị trường có điều tiết nên ngay từ những
năm đầu của thời kì đổi mới một loạt những văn bản điều chỉnh quan hệ hợp
đồng kinh tế và quan hệ hợp đồng đã được ban hành trong đó quan trong nhất
là: Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1986); Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (1991).
Đây chính là những bước đầu tiên về mặt lập pháp khẳng định vai trò quan
trọng của chế định hợp đồng trong đời sống xã hội cũng như quyết tâm của
đất nước ta trên con đường đổi mới toàn diện.
Đến năm 1995 Bộ luật dân sự lần đầu tiên được Quốc hội khoá IX, kì họp
thứ 8 thông qua ngày 28/10/1995 có hiệu lực thi hành ngày 01/07/1996 về cơ
bản chúng ta đã có chế định về hợp đồng theo đúng như tên gọi của nó. Tuy
nhiên trong qúa trình thực thi cũng đã bộc lộ những hạn chế và chỉ đến khi Bộ
luật dân sự 2005 ra đời đã khẳng định rõ hơn đây là bộ luật chung điều chỉnh
các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị
pháp lí và chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự mới thực sự có chỗ đứng
thoả đáng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Bộ luật dân sự 2005 đặt ra một
dấu ấn trong lịch sử trên con đường pháp điển hoá pháp luật về hợp đồng.

17


Trần Thị Thu Quỳnh - K49A khoa Luật Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

Chương II
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG
Hợp đồng như đã phân tích ở trên là một loại giao dịch dân sự nên chịu sự
điều chỉnh của quy định chung về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Mặt khác hợp đồng là hành vi pháp lí song phương nên đòi hỏi sự thể hiện
thống nhất ý chí của các bên để có thể làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt
quyền, nghĩa vụ dân sự. Do vậy, để có thể làm phát sinh một hậu quả pháp lí

Nam và Pháp. Chúng ta sẽ lần luợt phân tích từng điều kiện này theo quy định
của Bộ luật dân sự Việt Nam.
2.1. Điều kiện về chủ thể tham gia hợp đồng

Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự mà cụ thể ở đây là quan hệ hợp đồng
là những “người” tham gia vào quan hệ đó. Phạm vi người tham gia quan hệ
hợp đồng bao gồm: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Điều kiện để
hợp đồng có hiệu lực là “ người tham gia hợp đồng có năng lực hành vi dân
sự”- như vậy “ người” ở đây phải được nhìn nhận dưới góc độ pháp lí tức là
không chỉ là cá nhân mà còn bao gồm pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác.
2.1.1. Chủ thể tham gia hợp đồng là cá nhân

2

Điều 1108- Bộ luật dân sự Pháp 1804

19


Trần Thị Thu Quỳnh - K49A khoa Luật Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

Pháp luật dân sự quy định chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực
hành vi. Điều17- Bộ luật dân sự 2005 quy định: “năng lực hành vi của cá
nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện
quyền và nghĩa vụ dân sự”. Nếu như năng lực pháp luật dân sự là tiền đề, là
quyền dân sự khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng hành
động của chính chủ thể để tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ
của họ.
Như đã phân tích, bản chất của hợp đồng là sự thống nhất ý chí và sự
bày tỏ ý chí ra bên ngoài của các chủ thể khi tham gia hợp đồng. Do vậy,

những người liên quan. Đó là các trường hợp được quy định tại Điều 144- Bộ
luật dân sự 2005 về người đại diện không được xác lập, thực hiện giao dịch
dân sự với chính mình hoặc với người thứ ba mà mình cũng là người đại diện
của người đó hay các giao dịch dân sự giữa người giám hộ và người được
giám hộ đều vô hiệu chỉ trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích
của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
Hay tại khoản 3, Điều 69- Bộ luật dân sự 2005 quy định: “các giao dịch dân
sự giữa người giám hộ và người được giám hộ có liên quan đến tài sản của
người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì
lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám
hộ”.
Ngoài ra, đối với những cá nhân tuy có đủ năng lực hành vi dân sự
nhưng có thể tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng thông qua người đại diện
theo quy định của pháp luật trừ trường hợp pháp luật quy định cá nhân đó
phải tự mình tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng đó.
Đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần chỉ có thể xác lập,
thực hiện quyền và nghĩa vụ trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân sự
quy định. Đó là những người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi tham gia
xác lập, thực hiện hợp đồng phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp
luật. Cá nhân từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi là những người có năng lực
hành vi một phần. Họ có thể bằng hành vi của mình tạo ra quyền và phải chịu
những nghĩa vụ khi tham gia hợp đồng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng
ngày phù hợp với lứa tuổi. Nhưng pháp luật lại không quy định rõ những giao

21


Trần Thị Thu Quỳnh - K49A khoa Luật Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

dịch nào là giao dịch “phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày và phù hợp với


Đối với người không có năng lực hành vi dân sự là người chưa đủ 6
tuổi. Họ không có quyền tham gia bất cứ một giao dịch nào. Mọi giao dịch
của những người này phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
Nguyên nhân là do họ chưa đủ ý chí cũng như lý trí để hiểu được hành vi và
hậu quả của những hành vi đó.
Đối với người bị mất năng lực hành vi theo Điều 22 - Bộ luật dân sự
2005 là người “do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận
thức, làm chủ được hành vi của mình”. Như vậy, người thành niên có thể bị
tuyên bố mất năng lực hành vi khi có những điều kiện, với trình tự, thủ tục
nhất định và trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền, Toà án
có thể tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi theo yêu cầu của người có
quyền, lợi ích liên quan. Vì vậy, với những người bị mất năng lực hành vi khi
tham gia xác lập, thực hiện giao dịch họ đều phải thông qua người đại diện
theo pháp luật.
Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo Điều 23 Bộ luật
dân sự 2005 là người “nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến
phá tán tài sản của gia đình” thì giao dịch dân sự liên qua đến tài sản của
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại
diện theo pháp luật trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày.
Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
và phạm vi đại diện do Toà án quyết định.
Đại diện theo pháp luật của cá nhân có năng lực hành vi dân sự một
phần, cá nhân không có năng lực hành vi dân sự, cá nhân bị mất năng lực
hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được xác lập theo quy
định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thẩm quyền đại diện theo pháp luật được pháp luật quy định hoặc thể hiện
trong quyết định cử đại diện của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Việc xác
lập đại diện này thường không phụ thuộc vào ý chí cuả người được đại diện.
23

Như vậy, nếu cá nhân tham gia hợp đồng không có năng lực hành vi
dân sự thì hợp đồng sẽ vô hiệu. Trong trường hợp này hợp đồng vô hiệu
24


Trần Thị Thu Quỳnh - K49A khoa Luật Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự

tương đối (vô hiệu bị tuyên) chỉ khi các bên hoặc những người đại diện của
họ yêu cầu Toà án tuyên bố vô hiệu thì Toà án mới xem xét và quyết định.
Bên yêu cầu phải có nghĩa vụ chứng minh trước Toà cơ sở của yêu cầu là do
đã tham gia xác lập hợp đồng với người không có năng lực hành vi dân sự.
Điều 130- Bộ luật dân sự 2005 quy định hợp đồng do người chưa thành niên,
người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
xác lập, thực hiện sẽ vô hiệu. Theo Điều 136- Bộ luật dân sự 2005 thời hiệu
yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong trường hợp này là 2 năm kể
từ ngày xác lập hợp đồng. So với quy định tại Điều 145- Bộ luật dân sự 1995
thì Bộ luật dân sự 2005 đã có sự thay thế cụm từ “thời hạn” bằng cụm từ thời
hiệu cho chính xác hơn và đã tăng thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố hợp
đồng vô hiệu từ 1 năm lên thành 2 năm. Việc quy định thời hiệu 1 năm như
trước đây tương đối ngắn, chưa phù hợp thực tế và không bảo đảm được
quyền, lợi ích hợp pháp của bên không có lỗi khi tham gia hợp đồng nên việc
tăng thời hạn thành 2 năm là hoàn toàn hợp lí. Về nguyên tắc, hợp đồng dân
sự vô hiệu không phát sinh quyền, nghiã vụ nhưng không phải lúc nào các
bên tham gia hợp đồng cũng phát hiện ra các vi phạm là điều kiện dẫn đến
hợp đồng vô hiệu. Thông thường chỉ có một bên có quyền lợi trong việc huỷ
bỏ hợp đồng vô hiệu nên việc giải quyết hợp đồng vô hiệu thường được thông
qua con đường tố tụng tại Toà án. Do đó, việc quy định thời hiệu để các bên
yêu cầu Toà án tuyên bố một hợp đồng vô hiệu có ý nghĩa lớn về lí luận và
thực tiễn. Cơ sở lí luận của việc xác định thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên hợp
đồng vô hiệu dựa trên:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status