ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐOÀN THỊ LỢI
Tên đề tài:
"ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ MÔI TRƢỜNG
TẠI THÀNH PHỐ CAO BẰNG GIAI ĐOẠN 2012 – 2014”
KHÓA LUẬN TÔT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Khoa học môi trƣờng
Khoa
: Môi trƣờng
Khóa học
: 2011 - 2015
THÁI NGUYÊN – 2015
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Diện tích và các loại đất trên địa bàn thành phố Cao Bằng ........... 24
Bảng 4.2: Khối lượng rác thải sinh hoạt của một số hộ gia đình tại thành phố
cao bằng giai đoạn 2012- 2014 ...................................................... 26
Bảng 4.3:Một số công văn, kế hoạch được ban hành phục vụ công tác quản lý
nhà nước về môi trường tai thành phố Cao Bằng ........................... 31
Bảng 4.4: Kết quả đăng ký và thực hiện cam kết BVMT 2012- 2014. ......... 32
Bảng 4.5: Các dự án xây dựng tại TPCao Bằng đã lập cam kết BVMT ........ 33
Bảng 4.7. Một số văn bản thành phố đã tiếp nhận và triển khai ..................... 36
Bảng 4.8: Một số nội dung chỉ đạo về công tác quản lý môi trường đối với
UBND các xã, phường .................................................................... 37
Bảng 4.9: Ý kiến người dân để cải thiện môi trường...................................... 38
Bảng 4.10: Mức độ quan tâm của người dân về vấn đề môi trường............... 39
Bảng 4.11: Các nguồn thông tin của người dân về vấn đề môi trường .......... 40
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Ý kiến người dân để cải thiện môi trường ...................................... 38
Hình 4.2: Biểu đồ mức độ quan tâm của người dân về vấn đề môi trường. ... 39
iv
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
NQ
Quy chuẩn Việt Nam
TTLT
Thông tư liên tịch
BTNMT
Bộ tài nguyên môi trường
UBND
Uỷ ban nhân dân
Phòng TN&MT
Phòng Tài nguyên và Môi trương
TP
Thành phố
TNMT
Tài nguyên môi trường
QLMT
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu....................................................................... 19
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................................................ 19
3.2.1.Địa điểm ......................................................................................... 19
vi
3.2.2. Thời gian nghiên cứu: .................................................................. 19
3.3. Nội dungnghiên cứu ............................................................................. 19
3.3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của thành phố
Cao Bằng tỉnh Cao Bằng ......................................................................... 19
3.3.2. Thực trạng môi trường thành phố Cao Bằng ................................ 19
3.3.3.Đánh giá công tác quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố
Cao Bằng giai đoạn 2012 – 2014 theo Luật Bảo vệ môi trường 2014. .. 19
3.3.4. Tìm hiểu nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường ............ 20
3.3.5 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý nhà
nước về môi trường tại thành phố Cao Bằng gai đoạn 2012- 2014 ........ 20
3.3.6. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước
về môi trường tại thành phố Cao Bằng ................................................... 20
3.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... 20
3.4.1.Nghiên cứu các văn bản pháp luật, các văn bản dưới luật và các
quy định có liên quan .............................................................................. 20
3.4.2. Phương pháp kế thừa..................................................................... 21
3.4.3. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu ........................................... 21
3.4.4. Phương pháp điều tra phỏng vấn .................................................. 21
3.4.5. Phương pháp đánh giá tổng hợp ................................................... 21
3.4.6. Phương pháp phân tích, tổng hợp, xử lý số liệu ........................... 21
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 22
4.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tại Thành phố Cao Bằng- Tỉnh Cao Bằng ......22
4.1.1. Vị trí địa lý .................................................................................... 22
5.1. Kết luận ................................................................................................ 43
5.2. Kiến nghị .............................................................................................. 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 45
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Nước ta đã và đang bước vào thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước. Công cuộc phát triển kinh tế đó đã tạo tiền đề cho sự gia tăng không
ngừng trên mọi lĩnh vực của đời sống. Tuy nhiên sự tăng trưởng đó luôn tỷ lệ
thuận với sức ép về các vấn đề môi trường. Chính vì thế đặt ra yêu cầu với xã
hội nói chung và những người làm công tác bảo vệ môi trường nói riêng cũng
rất lớn, trong đó công tác đào tạo đội ngũ công nhân, ký sư, cán bộ quản lý
môi trường cho xã hội là đặc biệt quan trọng.
Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm của chính quyền
các cấp ,các cơ quan, tổ chức , đoàn thể trong việc bảo vệ môi trường nhà
nước ta đã ban hành các Luật Bảo vệ môi trường, các Thông tư, Nghị định có
liên quan. Để làm tốt công tác bảo vệ môi trường thì công tác quản lý môi
trường là nhiệm vụ quan trọng nhất. Tuy nhiên việc thực hiện công tác quản
lý nhà nước về môi trường còn gặp nhiều khó khăn do hệ thống pháp luật của
nước ta chưa được chặt chẽ và còn nhiều thiếu sót.
Cao Bằng là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, tháng 10 năm 2010
thị xã Cao Bằng được công nhận là đô thị loại III đến ngày 26 tháng 9 năm
2012 đô thị này đã được nâng cấp lên thành phố. Thành phố Cao Bằng gồm
11 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó có 8 phường: Hợp Giang, Tân
Giang, Bằng Giang, Ngọc Xuân , Sông Hiến, Đề Thám Duyệt Trung, Hòa
Chung và 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Hòa An. Thành phố Cao bằng là nơi
2.1.1.1.Đặc điểm của môi trường
- Là hệ thống hở gồm nhiều cấp có 3 phân hệ:
- Phân hệ sinh thái tự nhiên.
- Phân hệ nhân văn.
- Phân hệ các điều kiện.
2.1.1.2 Chức năng cơ bản của môi trường.
- Là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
- Cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của
con người.
- Nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra.
- Giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới đời sống của con
người và các sinh vật trên trái đất.
- Nơi lưu trữ và cung cấp hệ thống thông tin cho con người.
2.1.2. Khái niêm, đặc điểm và chức năng của quản lý môi trường.
2.1.2.1. Khái niệm
“Quản lý môi trương là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách
kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ môi trường sống và phát triển
bền vững kinh tế xã hội quốc gia”. (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2006).[7]
Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông (2006): Quản lý môi trường là một
lĩnh vực trong quản lý xã hội; có tác động điều chỉnh các hoạt động của con
ngườ dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thong tin, đối
5
với các vấn đề liên quan đến con người; xuất phát từ quan điểm định lượng
hướng tới phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên.[7]
2.1.2.2.Vai trò của công tác quản lý nhà nước về môi trường.
Được thực hiện trong việc chỉ đạo công tác BVMT và phân phối nguồn
lợi chung giữa chủ thể quản lý tài sản và xã hội.
Các chất vô cơ và hữu cơ cần thiết cho sự sống của sinh vật và con
người với số lượng ngày một tăng.
Tính thống nhất của hệ thống "Tự nhiên - Con người - Xã hội" đòi hỏi
việc giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường
phải toàn diện và hệ thống. Con người nắm bắt cội nguồn sự thống nhất đó,
phải đưa ra các phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh
6
trong hệ thống đó. Vì chính con người đã góp phần quan trọng vào việc phá
vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa tự nhiên - con người - xã hội. Sự
hình thành những chuyên ngành khoa học như quản lý môi trường, sinh thái
nhân văn là sự tìm kiếm của con người nhằm nắm bắt và giải quyết các mâu
thuẫn, tính thống nhất của hệ thống "Tự nhiên - Con người - Xã hội".[8]
Cơ sở khoa học, kỹ thuật, công nghệ của quản lý môi trường.
Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách
kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống
và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. Các nguyên tắc quản lý môi
trường, các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các
phương pháp xử lý môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình
thành và phát triển ngành khoa học môi trường.[8]
Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa học thế giới, trong
thời gian từ năm 1960 đến nay nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi
trường đã được tổng kết và biên soạn thành các giáo trình, chuyên khảo.
Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở, phương pháp luận nghiên cứu môi trường,
các nguyên lý và quy luật môi trường.
Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt động
sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh, ngăn
tong đó nhiều văn bản đã được chính phủ Việt Nam ký kết.
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ
luật, trong đó Luật Bảo vệ Môi Trường được quốc hội nước Việt Nam thông
qua ngày 27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất. Chính phủ đã ban hành Nghị
định 175/CP ngày 18/10/1996 về xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi
trường, luật hình sự, hàng loạt các thông tư, quy định, quyết định của các
nghành chức năng về thực hiện luật môi trường đã được ban hành. Một số tiêu
chuẩn chủ yếu được soạn thảo và thông qua. Nhiều khía cạnh bảo vệ môi
trường được đề cập trong các văn bản khác như Luật khoáng sản, Luật Dầu
khí, Luật hàng hải, Luật Đất đai, Luật phát triển và bảo vệ rừng.
8
Các văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc tế được nhà nước
Việt Nam phê duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường.[8]
b. Đối tượng, mục tiêu của quản lý môi trường.
* Đối tượng của QLMT: điều tiết các lợi ích sao cho hài hòa trên nguyên
tắc ưu tiên lợi ích của quốc gia, của toàn xã hội.
* Mục tiêu của QLMT.
Một là: khắc phục và phòng chống suy thoái.
Hai là: PTBV theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững.
Ba là: Xây dựng các công cụ QLMT có hiệu lực quốc gia và các vùng,
lãnh thổ.
c, Các nguyên tắc của QLMT.
- Hướng tới sự PTBV
- Dựa trên nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.
2.2. Luật pháp và các quy định pháp lý về quản lý bảo vệ tài nguyên ở
Việt Nam
buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.
Thông tư số 01/2012/TT-BTNMT quy định về việc lập, thẩm đinh, phê
duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết:
lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản.
Thông tư số 12/2006/TT- BTNMT thông tư hướng dẫn làm thủ tục, mẫu
hồ sơ đăng ký cho chủ nguồn thải chất thải nguy hại.[1]
2.2.2. Các văn bản pháp luật khác liên quan.
Luật Đất Đai năm 2003.
Luật Hàng Hải.
Luật Khoáng sản.
Luật Dầu Khí.
Luật Tài nguyên nước.
10
Luật Bảo vệ sức khỏe của công dân.
Pháp lệnh về đê điều.
Pháp lệnh bảo vệ nguồn thủy sản.
Pháp lệnh về các công trình giao thông.
Các quy chuẩn môi trường.
- QCVN 07:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng
chất thải nguy hại.
- QCVN 05:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
không khí xuang quanh.
- QCVN 19:2009/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải
công nghiệp đối với bụi và chất vô cơ.
- QCVN 08 :2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất
lượng nước mặt.
- QCVN 09: 2008/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
h) Chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc để xảy ra ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng trên địa bàn.[6]
2. Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm sau:
a) Ban hành theo thẩm quyền quy định, chương trình, kế hoạch về bảo vệ
môi trường;
b) Tổ chức thực hiện chiến lược, chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ về
bảo vệ môi trường;
c) Xác nhận, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường theo
thẩm quyền;
d) Hằng năm, tổ chức đánh giá và lập báo cáo công tác bảo vệ môi trường;
đ) Truyền thông, phổ biến, giáo dục chính sách và pháp luật về bảo vệ
môi trường;
e) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường;
giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về bảo vệ môi trường theo quy định của
pháp luật về khiếu nại, tố cáo và quy định của pháp luật có liên quan;
12
g) Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện có liên quan giải quyết các
vấn đề môi trường liên huyện;
h) Chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Ủy ban
nhân dân cấp xã;
i) Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nếu để xảy ra ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng trên địa bàn.[6]
3. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm sau:
a) Xây dựng kế hoạch, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ
sinh môi trường trên địa bàn; vận động nhân dân xây dựng nội dung bảo vệ
môi trường trong hương ước; hướng dẫn việc đưa tiêu chí về bảo vệ môi
trường vào đánh giá thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khu dân cư và gia
về giải quyết hậu quả do tiếp xúc với hóa chất tổng hợp độc hại.
Báo cáo “Triển vọng môi trường toàn cầu 2000” của UNDP đã làm rõ
tính bức xúc của nhiều thách thức môi trường và nhấn mạnh sự cần thiết phải
ngăn chặn nguy cơ khủng hoảng môi trường. Những vấn đề ưu tiên là: Sự
biến đổi khí hậu, suy giảm chất và lượng tài nguyên nước, suy thoái đất, nạn
phá rừng và sa mạc hóa. Tiếp theo là các vấn đề xã hội: sự gia tăng dân số và
biến đổi 10 về giá trị xã hội. Nhiều nhà khoa học nhấn mạnh mối tương tác
phức tạp của hệ thống khí quyển, sinh quyển, băng quyển và đại đương, sự
dịch chuyển của các dòng hải lưu (UNDP, 2000) [3].
Chính vì vậy, vấn đề môi trường đang được thế giới quan tâm và các
hoạt động về môi trường diễn ra đều nhằm mang lại cho chúng ta một môi
trường tốt đẹp hơn.
Ở Mỹ, cơ quan quản lý bảo vệ môi trường được thành lập vào tháng 7
năm 1970, gồm 5000 cán bộ công nhân viên. Tổ chức của cơ quan gồm: Giám
đốc, phó giám đốc và các trợ lý giám đốc về hành chính và quản lý nguồn lực,
không khí và phóng xạ, thi hành và bảo đảm tuân thủ luật, các hoạt động quốc
tế, chính sách quy hoạch và đánh giá, phòng ngừa thuốc trừ sâu và chất độc,
14
nghiên cứu và triển khai, chất thải rắn và ứng phó khẩn cấp với những diễn
biến môi trường.
Ở Canada từ lâu đã rất quan tâm đến vấn đề môi trường. Vấn đề môi
trường ở Canada khởi động mạnh từ năm 1980. Hiện nay Canada có 14 bộ
luật về môi trường. Mỗi ngành có một bộ luật riêng về đất, nước, không khí,
các chất phế thải độc hại, luật môi trường vùng đất ngập nước, nước
ngầm…Cơ quan môi trường của chính phủ Canada gồm 18000 người. Tất cả
các nhân viên môi trường hầu hết là người am hiểu luật, có trình độ cao về kỹ
thuật trong ngành môi trường mà mình quản lý.
cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp, Chi cục bảo vệ môi trường có
thêm một số điều kiện về con người và cơ sở vật chất để thực hiện các hoạt
động tác nghiệp như: quan trắc môi trường, thu phí nước thải, tư vấn cho các
tổ chức và doanh nghiệp về môi trường…
Bên cạnh đó nhằm giải quyết kịp thời các vấn đề về môi trường vùng và
địa phương, Bộ Tài nguyên và môi trường đã thành lập 3 Chi cục thuộc thuộc
Cục Bảo vệ môi trường 3 miền: Chi cục Bảo vệ môi trường khu vực miền
Trung và Tây Nguyên ( tại thành phố Đà nẵng); Chi cục Bảo vệ môi trường
khu vực Đông Nam Bộ ( tại thành phố Hồ Chí Minh); Chi cục Bảo vệ môi
trường Tây Nam Bộ ( tại thành phố Cần Thơ). Đặc biệt là việc quyết định
thành lập Cục Cảnh sat môi trường và các phòng cảnh sát môi trường thộc các
tỉnh giúp cho hệ thống quản lý môi trường luôn được chặt chẽ.
Với sự giúp đỡ của UNDP và UNEP vào tháng 12 năm 1991, Việt Nam
đã đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị quốc tế về môi trường và phát
triển bền vững, đã đưa ra bản dự thảo kế hoạch quốc gia về môi trường và
phát triển bền lâu 1991 - 2000 với mục tiêu chủ yếu là tạo ra sự phát triển
tuần tự của khuôn khổ quốc gia về quy hoạch và quản lý môi trường.
Đặc biệt là vào tháng 12 năm 1993, Luật bảo vệ môi trường đầu tiên của
nước ta đã ra đời gồm 7 Chương với 55 điều khoản, có ý nghĩa rất lớn trong
16
công tác quản lý và BVMT giúp công tác này đạt những hiệu quả tích cực.
Song cùng với quá trình phát triển, Luật bảo vệ môi trường đã bộc lộ những
thiếu sót, bất cập chưa thực sự phù hợp với sự phát triển trong nước, trong
khu vực và biên giới. Để phù hợp với những điều kiện khách quan, nâng cao
hiệu quả công tác quản lý và BVMT, ngày 29/11/2005 Luật bảo vệ môi
trường được sửa đổi, bổ sung đã được quốc hội thông qua và có hiệu lực thi
hành từ ngày 1/7/2006, Luật gồm 15 chương và 136 điều khoản. Cùng với các