LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong nhà trường, thực hiện phương
châm: “Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn”, thực tập là giai đoạn
cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi sinh viên, giúp sinh viên bước đầu tiếp
cận với thực tế, đáp ứng được nhu cầu của công việc sau này.
Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa
Môi trường, dưới sự hướng dẫn của giảng viên Ths.Nguyễn Thị Huệ, em đã
thực hiện đề tài: "Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về môi trường tại
thành phố Cao Bằng - tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2011 - 2013".
Có được kết quả này, em xin chân thành cảm ơn các Thầy cô giáo khoa
Môi trường đã truyền cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học
tập và rèn luyện tại trường, giúp em hoàn thiện năng lực công tác, nhằm đáp ứng
yêu cầu của người cán bộ Khoa học sau khi ra trường.
Qua đây em gửi lời cảm ơn đặc biệt tới cô giáo Ths. Nguyễn Thị Huệ đã
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho em trong suốt thời gian hoàn thành bản khóa
luận tốt nghiệp này.
Em cảm ơn tới các cán bộ Chi cục bảo vệ môi trường, các cơ quan ban
ngành có liên quan đã quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt
tình và cung cấp đầy đủ các tài liệu, thông tin để em hoàn thành đợt thực tập.
Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè – những người
đã luôn động viên và giúp đỡ em trong suốt 4 năm học vừa qua.
Trong suốt thời gian thực tập và làm đề tài em đã cố gắng hết mình nhưng
do thời gian thực tập ngắn, kinh nghiệm chưa có nhiều và kiến thức còn hạn chế
nên không tránh khỏi thiếu sót và khiếm khuyết. Em rất mong nhận được sự góp
ý của các thầy, cô giáo và tất cả bạn bè để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn! Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Trung Anh
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải
TTg Thủ tướng
NĐ có liên quan. Và muốn làm tốt công tác BVMT thì công tác quản lý môi
trường là nhiệm vụ quan trọng nhất. Tuy nhiên thực hiện việc quản lý nhà
nước về BVMT theo luật còn gặp nhiều khó khăn và bất cập do hệ thống luật
pháp của nước ta vẫn chưa được chặt chẽ và còn nhiều thiếu sót.
Thành phố Cao Bằng bao gồm 11 đơn vị hành chính trực thuộc (8
phường: Hợp Giang, Sông Bằng, Tân Giang, Sông Hiến, Đề Thám, Ngọc
Xuân, Duyệt Trung, Hòa Chung và 3 xã: Chu Trinh, Hưng Đạo, Vĩnh Quang),
tháng 10 năm 2010 thành phố được công nhận là đô thị loại III. Thành phố
Cao Bằng nằm gần như giữa trung tâm địa lý của tỉnh, có mật độ dân số đông,
tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao từ đó cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề môi
trường, vì vậy mà công tác quản lý nhà nước về môi trường cũng gặp nhiều
1
khó khăn. Xuất phát từ thực tế trên việc đánh giá hiện trạng quản lý BVMT
nhằm tìm ra những vấn đề còn tồn tại từ đó xây dựng phương án quản lý môi
trường hợp lý hơn. Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường,
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với sự hướng dẫn của cô giáo
Ths.Nguyễn Thị Huệ, tôi thực hiện đề tài: "Đánh giá công tác quản lý nhà
nước về môi trường tại thành phố Cao Bằng - tỉnh Cao Bằng giai đoạn
2011 - 2013".
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về môi trường theo nội dung của
luật môi trường hiện hành, nhằm đánh giá những mặt đã đạt được và đưa ra
giải pháp khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý môi trường của thành
phố Cao Bằng giai đoạn 2011 -2013.
1.3. Yêu cầu của đề tài
- Nắm vững những quy định trong các văn bản pháp luật của Nhà nước
về quản lý môi trường.
- Các số liệu thu thập phải trung thực khách quan, chính xác.
- Những kiến nghị, giải pháp, đề xuất phải có tính khả thi phù hợp với
thực trạng của thành phố Cao Bằng nhằm đưa công tác quản lý nhà nước về
một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất. Các khía cạnh của phát triển
bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trường sống,
nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội.
Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các
vùng lãnh thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa
phương và cộng đồng dân cư.
2.1.2. Cơ sở về quản lý bảo vệ môi trường
2.1.2.1. Cơ sở triết học của quản lý môi trường
Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn tự nhiên, con người
và xã hội thành một hệ thống rộng lớn “ Tự nhiên – Con người – Xã hội”,
4
trong đó yếu tố con người giữ vai trò hết sức quan trọng. Sự thống nhất của hệ
thống trên được thực hiện trong các quá trình sinh hóa của 5 thành phần cơ bản:
+ Sinh vật sản xuất (tảo và cây xanh) có chức năng tổng hợp các chất
hữu cơ từ các chất vô cơ dưới tác dụng của quá trình quang hợp.
+ Sinh vật tiêu thụ là toàn bộ động vật sử dụng chất hữu cơ có sắn, tạo
ra các chất thải.
+ Sinh vật phân hủy (vi khuẩn, nấm) có chức năng phân hủy các chất
thải, chuyển chúng thành các chất vô cơ đơn giản.
+ Con người và xã hội.
+ Các chất vô cơ và hữu co cần thiết cho sự sống của sinh vật và con
người với số lượng ngày càng tăng.
Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên - Con người - Xã hội” đòi hỏi
việc giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường
phải toàn diện và hệ thống. Con người nắm bắt cội nguồn sự thống nhất đó,
phải đưa ra phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong
hệ thống đó. Vì chính con người đã góp phần quan trọng vào việc phá vỡ tính
tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa Tự nhiên - Con người - Xã hội. Sự
hình thành những chuyên ngành khoa học như quản lý môi trường, sinh thái
có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng
phát triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường.
Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm các loại thuế, phí và lệ phí, xử
phạt ô nhiễm, quy chế đóng góp có hoàn trả, trợ cấp kinh tế, nhãn sinh thái, hệ
thống các tiêu chuẩn ISO. Một số ví dụ về phân tích kinh tế trong quản lý tài
nguyên và môi trường như lựa chọn sản lượng tối ưu cho một hoạt động sản
6
xuất có sinh ra ô nhiễm Q nào đó, hoặc xác định mức khai thác hợp lý tài
nguyên tái tạo… [4]
2.1.2.4. Cơ sở pháp luật của quản lý môi trường
Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường là các văn bản về luật quốc tế
và luật quốc gia và về lĩnh vực môi trường.
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc
tế điều chỉnh mỗi quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế
trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc
gia và môi trường ngoài phạm vi toàn phá quốc gia. Các văn bản luật quốc tế
về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỉ XIX và đầu thế
kỉ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Từ hội nghị quốc tế về
“Môi trường con người” tổ chức năm 1972 tại Thụy Điển và hội nghị thượng
đỉnh Rio 1992 có rất nhiều văn bản về luật quốc tề được soạn thảo và ký kết.
Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản luật quốc tế về môi trường, trong
đó nhiều văn bản đã được Chính phủ Việt Nam tham gia ký kết.
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ
luật, trong đó Luật Bảo vệ Môi trường được Quốc hội Việt Nam thông qua
ngày 27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất. Chính phủ đã ban hành nghị
định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành luật Bảo vệ Môi trường
và nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 xử phạt hành chính về bảo vệ môi trường.
Bộ Luật hình sự, hàng loạt các thông tư, quy định, quyết định của các ngành
chức năng về thực thi Luật môi trường đã được ban hành. Một số tiêu chuẩn
môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua. Nhiều khía cạnh Bảo vệ
- Quyết định số 107/ QĐ-BTNMT về việc ban hành Chương trình hành
động của Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP
8
ngày 03 tháng 01 năm 2012 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ
đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân
sách nhà nước năm 2012
- Quyết định sô 50/2013/QĐ-TTg về việc quy định về thu hồi và xử lý
sản phẩm thải bỏ
- Thông tư liên tịch 21/2013/TTLT-BGTVT-BTNMT về việc hướng dẫn về
quản lý và bảo vệ môi trường trong hoạt động giao thông đường thủy nội địa
- Thông tư số 40/2013/TT-BNNPTNT về việc ban hành Danh mục các
loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ước về
buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
- Thông tư số 15/2013/TT-BCT về việc quy định về xuất khẩu than
- Quyết định số 1250/QD-TTg về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về
đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
2.2.2. Các văn bản pháp luật khác liên quan
- Luật Hàng hải
- Luật Đất đai 2003
- Luật Dầu khí
- Luật Khoáng Sản
- Luật Bảo vệ sức khỏe của công dân
- Pháp lệnh về đê điều
- Pháp lệnh bảo vệ nguồn thủy sản
- Pháp lệnh về các công trình giao thông
- Luật Tài nguyên nước
- Các quy chuẩn môi trường:
+ QCVN 07: 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng
chất thải nguy hại
9
* Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Chính phủ,
bộ cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong
phạm vi cả nước.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong
việc thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và có trách
nhiệm sau đây:
+ Trình Chính phủ hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy
phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
+ Trình Chính phủ quyết định chính sách, chiến lược, kế hoạch quốc gia
về bảo vệ môi trường.
+ Chủ trì giải quyết hoặc đề xuất Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giải
quyết các vấn đề môi trường liên ngành, liên tỉnh.
+ Xây dựng, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường theo quy định của
Chính phủ.
+ Chỉ đạo xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc môi trường quốc gia và
quản lý thống nhất số liệu quan trắc môi trường.
+ Chỉ đạo, tổ chức đánh giá hiện trạng môi trường cả nước phục vụ cho
việc đề ra các chủ trương, giải pháp về bảo vệ môi trường.
+ Quản lý thống nhất hoạt động thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá
môi trường chiến lược, báo cáo đánh giá tác động môi trường, đăng ký bản
cam kết bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước; tổ chức thẩm định báo cáo
đánh giá môi trường chiến lược; tổ chức thẩm định phê duyệt báo cáo đánh
11
giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền; hướng dẫn việc đăng ký cơ sở,
sản phẩm thân thiện với môi trường và cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn
môi trường.
+ Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến
bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và các quy
trường nghiêm trọng thuộc thẩm quyền quản lý, chỉ đạo phát triển ngành công
nghiệp môi trường.
- Bộ Thuỷ sản có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi
trường, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan và Uỷ
ban nhân dân cấp tỉnh để chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp
luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan đối
với lĩnh vực hoạt động nuôi trồng, khai thác, chế biến thuỷ sản; sinh vật thuỷ
sản biến đổi gen và sản phẩm của chúng; các khu bảo tồn biển.
- Bộ Xây dựng có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Bộ Tài nguyên và
Môi trường, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan và
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp
luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan đối
với các hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng cấp nước, thoát nước, xử lý chất
thải rắn và nước thải tại đô thị, khu sản xuất dịch vụ tập trung, cơ sở sản xuất
vật liệu xây dựng, làng nghề và khu dân cư tập trung.
- Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Bộ Tài
nguyên và Môi trường, bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có
liên quan và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh để chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, việc
thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật
13
có liên quan đối với các hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông và
hoạt động giao thông vận tải.
- Bộ Y tế chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý chất thải y tế; công
tác bảo vệ môi trường trong các cơ sở y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm và hoạt
động mai táng.
- Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm huy động lực lượng ứng
phó, khắc phục sự cố môi trường; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra công tác
bảo vệ môi trường trong lực lượng vũ trang thuộc thẩm quyền quản lý.
- Các bộ khác, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách
nhiệm thực hiện các nhiệm vụ được quy định cụ thể tại luật này và phối hợp
môi trường; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về môi trường
theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và các quy định của pháp luật
khác có liên quan.
+ Phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp huyện liên quan giải quyết các vấn
đề môi trường liên tỉnh.
+ Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường theo
uỷ quyền của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp tỉnh.
+ Chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Uỷ ban
nhân dân cấp xã.
- Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về
bảo vệ môi trường tại địa phương theo quy định sau đây:
+ Chỉ đạo, xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi
trường, giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn, khu dân cư thuộc phạm vi
quản lý của mình; tổ chức vận động nhân dân xây dựng nội dung bảo vệ môi
trường trong hương ước của cộng đồng dân cư; hướng dẫn việc đưa tiêu chí
15
về bảo vệ môi trường vào trong việc đánh giá thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum,
sóc và gia đình văn hoá.
+ Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của hộ gia
đình, cá nhân.
+ Phát hiện và xử lý theo thẩm quyền các vi phạm pháp luật về bảo vệ
môi trường hoặc báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cấp
trên trực tiếp.
+ Hoà giải các tranh chấp về môi trường phát sinh trên địa bàn theo quy
định của pháp luật về hoà giải.
+ Quản lý hoạt động của thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố
và tổ chức tự quản về giữ gìn vệ sinh môi trường trên địa bàn.
* Cơ quan chuyên môn, cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường
- Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phải có tổ chức hoặc
bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường phù hợp với nhiệm vụ bảo vệ môi
trên toàn thế giới đã có nhiều tiến triển tốt ở một vài quốc gia nhưng ở một
vài quốc gia đang phát triển hoặc chậm phát triển thì lĩnh vực về quản lý bảo
vệ môi trường vẫn chưa được quan tâm. Ngược lại, ở các nước đã phát triển
thì vấn đề quản lý bảo vệ môi trường thường được đặt lên hàng đầu, hệ thống
quản lý bảo vệ môi trường ở những quốc gia này được xây dụng một cách
chặt chẽ.
Ở Mỹ, cơ quan quản lý bảo vệ môi trường được thành lập vào tháng 7
năm 1970, gồm 5000 cán bộ công nhân viên. Tổ chức của cơ quan gồm: Giám
đốc, phó giám đốc và các trợ lý giám đốc về hành chính và quản lý nguồn lực,
17
không khí và phóng xạ, thi hành và bảo đảm tuân thủ luật, các hoạt động quốc tế,
chính sách quy hoạch và đánh giá, phòng ngừa thuốc trừ sâu và chất độc, nghiên
cứu và triển khai, chất thải rắn và ứng phó khẩn cấp những diễn biến môi trường.
Ở Canada, tử lâu Canada đã rất quan tâm đến vấn đề về môi trường.
Vấn đề quản lý về môi trường ở Canada khởi động mạnh từ năm 1980. Hiện
nay, Canada có 14 bộ luật về môi trường. Mỗi ngành có một bộ luật riêng như
bộ luật về môi trường khí, nước, đất đai, các chất độc phế thải độc hại, luật
môi trường vùng đất ngập nước, nước ngầm… Cơ quan môi trường của Chính
phủ Canada có 18.000 người. Tất cả các nhân viên môi trường hầu hết là
người rất am hiểu luật, có trình độ cao về kỹ thuật trong ngành môi trường mà
mình quản lý. Khi thực hiện việc kiểm tra, giám sát các cơ sở sản xuất, công
ty tồn trữ những vấn đề liên quan đến ô nhiễm môi trường do mình phụ trách,
luật cho họ thẩm quyền nhất định như thông báo, đề nghị các phương pháp xử
lý, nghiên cứu và quy định thời hạn cho các cơ quan vi phạm xử lý khi cơ
quan môi trường phát hiện ra một cơ sở vi phạm luật. Nếu không xử lý kịp
thời theo thời gian cho phép sẽ bị phạt 25.000 USD cho mỗi ngày chậm trễ.
Rất nhiều công ty đã bị xử phạt lên đến hàng triệu USD vì chậm trễ trong việc
xử lý. Các bộ luật được điều chỉnh liên tục, được cập nhật hóa theo tình hình
thực tế, khoảng 1 -2 năm sửa đổi bổ sung một lần. Và để bảo vệ môi trường
bền vững, Canada đã hợp tác quốc tế với các nước láng giềng là Mỹ và
huyện và cán bộ địa chính kiêm quản lý môi trường hoặc chuyên trách về môi
trường ở cấp phường, xã.
Hiện nay, 64 Sở Tài nguyên và Môi trường đều có phòng quản lý môi
trường với biên chế tương đối đông 8- 12 người. Ở một số sở Tài nguyên và
môi trường, ngoài phòng quản lý môi trường còn có thêm Chi cục bảo vệ môi
19
trường và phòng quản lý chất thải rắn … Với cơ chế hoạt động của các đơn vị
sự nghiệp, Chi cục Bảo vệ môi trường có thêm một số điều kiện về con người
và cơ sở vật chất để thực hiện các hoạt động tác nghiệp như: quan trắc môi
trường, thu phí nước thải, tư vấn cho các tổ chức và doanh nghiệp về môi
trường…
Bên cạnh đó, nhằm giải quyết kịp thời các vấn đề về môi trường vùng và
địa phương, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thành lập 3 Chi cục thuộc cục
Bảo vệ môi trường ở 3 miền: Chi cục Bảo vệ môi trường khu vực miền Trung
và Tây Nguyên (tại thành phố Đà Nẵng); Chi cục Bảo vệ môi trường khu
Đông Nam Bộ ( tại thành phố Hồ Chí Minh ); và Chi cục Bảo vệ môi trường
Tây Nam Bộ (tại thành phố Cần Thơ). Đặc biệt, là việc quyết định thành lập
Cục Cảnh sát môi trường và các phòng Cảnh sát môi trường ở các tỉnh, giúp
cho hệ thống quản lý về môi trường luôn được chặt chẽ. Cùng với sự sắp xếp
lại chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, cũng được điều chỉnh,
bổ sung phù hợp với tình hình và tổ chức mới.
Cùng với các kết quả đã đạt được, hệ thống quản lý môi trường ở các cấp
vẫn còn nhiều bất cập: Bộ máy quản lý nhà nước về môi trường ở Trung ương
và địa phương tuy đã được tăng cường một bước, nhưng còn thiếu về số
lượng cũng như còn yếu kém và chất lượng, chưa đáp ứng được khối lượng
cần giải quyết. Lưc lượng cán bộ quản lý môi trường vừa thiếu về số lượng
vừa yếu về trình độ, trong khi cần phải cần phải đảm nhận một khối lượng lớn
các công việc liên quan từ việc xây dựng chính sách, chiến lược bảo vệ môi
trường của địa phương, xây dựng Báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm
cho đến việc thực thi các hoạt động cụ thể như kiểm soát ô nhiễm, thanh tra
21
lần/năm; Phân tích môi trường nước ngầm 03 mẫu x 2 lần/năm; Phân tích môi
trường không khí 40 mẫu x 3 lần/năm.
- Hoạt động nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường: Tổ chức 22 lớp
tập huấn cho các đối tượng cơ sở sản xuất kinh doanh, hội viên các Hội Phụ
nữ, Nông dân, Mặt trận, Hội cựu chiến binh; 04 hội thi sân khấu hóa về môi
trường; tổ chức lễ mít tinh Ngày môi trường thế giới 5/6 tại thị trấn Tà Lùng,
huyện Phục Hòa; Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2013 tại thị trấn
Bảo Lạc, huyện Bảo Lạc.
- Tình hình xử lý môi trường tại các cơ sở gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng: Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Cao Bằng có 17 cơ sở gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng (11 bệnh viện; 02 trung tâm; 03 bãi rác; 02 cơ sở
sản xuất kinh doanh). Trong đó: 06 cơ sở đã đầu tư và đang lập thủ tục chứng
nhận các cơ sở đã hoàn thành xử lý ô nhiễm triệt để (Trung tâm phòng chống
HIV/AIDS, Trung tâm phòng chống bệnh xã hội, Bệnh viện Y học cổ truyền,
Bệnh viện Đa khoa huyện Hà Quảng, Bệnh viện Đa khoa huyện Thông Nông,
Nhà máy Than cốc). 08 cơ sở đang xây dựng, lắp đặt hệ thống xử lý, bao
gồm: Bệnh viện đa khoa các huyện (Phục Hoà, Thạch An, Nguyên Bình,
Trùng Khánh, Hạ Lang, Trà Lĩnh); 02 Bãi chôn lấp rác thải thị trấn Hùng
Quốc, h.Trà Lĩnh và thị trấn Nước Hai, huyện Hoà An. cơ sở Bãi rác Khuổi
Kép, phường Đề Thám, thành phố Cao Bằng đang lập dự án đóng cửa bãi
chôn lấp rác thải theo quy định; Bệnh viện Đa khoa huyện Bảo Lạc và huyện
Bảo Lâm đang lập thủ tục để xin kinh phí đầu tư.[10]
22
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng
- Các công tác quản lý Nhà nước về môi trường tại thành phố Cao Bằng
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu