BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
_____________
_____________
VŨ THỊ HẰNG HẢI
LKT 12-02
NĂNG LỰC BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Ngành Luật Kinh tế
Mã số: 52380107
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Người hướng dẫn: ThS. PHẠM HÙNG CƯỜNG
Hà Nội, 5/2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của Ths. Phạm Hùng Cường. Các thông tin và dữ liệu tác
giả sử dụng trong bài khóa luận này là trung thực và được thu thập từ nhiều
nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài tiệu tham khảo. Ngoài ra trong khóa
luận này tác giả còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá từ các tác giả khác có
trích dẫn rõ ràng.
1.5.2. Giai đoạn từ năm 1959 đến 1995. .......................................................... 20
1.5.3. Giai đoạn từ năm 1995 đến 2005. .......................................................... 21
1.5.4. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay. ............................................................ 21
Chương 2. NĂNG LỰC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG
CỦA CÁ NHÂN THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM ........................... 22
2.1.Năng lực bồi thường thiệt hại của người từ đủ 18 tuổi trở lên. ...................... 22
2.2. Năng lực bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên. ........................... 24
2.2.1. Năng lực bồi thường thiệt hại của người dưới 15 tuổi. ........................... 25
2.2.2. Năng lực bồi thường thiệt hại của người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18
tuổi. ................................................................................................................ 29
2.3. Năng lực bồi thường thiệt hại của người được giám hộ................................ 32
2.3.1.Trường hợp người được giám hộ là người chưa thành niên. ................... 33
2.3.2.Năng lực bồi thường thiệt hại của người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự. ............................................................................................................ 34
2.4. Năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân là người của pháp nhân. ............. 37
2.5. Năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân là người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự. ................................................................................................... 38
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 40
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 42
MỞ ĐẦU
1.Tính thiết yếu của đề tài.
Quyền yêu cầu người khác bồi thường thiệt hại do hành vi sai trái của người
gây thiệt hại (về tài sản, sức khỏe, tinh thần,...) cho mình là một quyền được áp
dụng với tần số lớn nhất trong các quyền về yêu cầu bồi thường thiệt hại quy định
bởi luật dân sự tại xã hội hiện đại. Theo đó tại Nhật Bản, số vụ yêu cầu đòi bồi
thường thiệt hại do hành vi sai trái (Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) chiếm tới
Đề tài chỉ đi sâu vào nghiên cứu quy định về trách nhiệm Bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng mà cụ thể là “năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá
nhân” mà không đi vào nghiên cứu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng
và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của các chủ thể khác.
Bài khóa luận cũng hướng tới làm rõ các quy định của pháp luật về năng lực
bồi thường thiệt hại của cá nhân trong các trường hợp cụ thể. Trên cơ sở đó đưa ra
những kiến nghị để từ đó hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật về vấn đề này.
4. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Có sự kết hợp giữa quan
điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi cũng đã sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu như: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương
pháp chứng minh.
5. Kết cấu của khóa luận.
Ngoài phần mở đầu, kết thúc và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
khóa luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
Chương 2: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân theo
pháp luật dân sự Việt Nam.
2
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ
NGOÀI HỢP ĐỒNG
1.1.Khái niệm trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
Xã hội luôn luôn là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp,
nên nó luôn cần đến sự điều chỉnh của pháp luật. Chính từ sự đa dạng và phức tạp
604 Bộ luật dân sự 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp
khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể
khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Điều này có nghĩa là, khi một người gây
thiệt hại cho người khác thì sẽ làm phát sinh mối quan hệ bồi thường thiệt hại giữa
họ với người bị hại. Quan hệ bồi thường này phát sinh từ hành vi trái pháp luật của
một bên chủ thể nhưng giữa các bên không tồn tại quan hệ hợp đồng, hoặc nếu có
thì vi phạm này không phải là vi phạm nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng.
Vậy, qua những phân tích trên, ta có thể rút ra kết luận trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng là gì. “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đókhông có quan
hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại
không thuộc về nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã ký kết giữa các bên”.
1.2.Các điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về tính
mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là các quyền cơ bản của mỗi công dân, luôn
được Nhà nước bảo hộ. Pháp luật nghiêm cấm các hành vi gây thiệt hại đến tài sản,
tính mạng, sức khỏe,... cho công dân một cách bất hợp pháp. Pháp luật quy định
những biện pháp buộc người có hành vi vi phạm pháp luật và gây thiệt hại phải có
trách nhiệm trước hậu quả mà mình gây ra cho người khác, đó là trách nhiệm bồi
thường thiệt hại. Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố
ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản,
quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của
pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Như vậy, trách
nhiệm bồi thường chính là hậu quả bất lợi về tài sản mà người có hành vi gây thiệt
hại cho người khác phải gánh chịu.
Tuy nhiên, để đảm bảo cho quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi
tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự thì việc quy định trách nhiệm bồi thường
sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm... Nhìn từ góc độ nào thì hành
vi trái pháp luật và gây ra thiệt hại đều xâm phạm đến các quan hệ xã hội mà pháp
luật bảo vệ. Cho nên, các quy định về bồi thường thiệt hại do pháp luật dân sự quy
định là rất chính xác, cần thiết để kịp thời ngăn chặn các hành vi gây thiệt hại và
buộc những người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường. Người có hành vi
gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra là
đúng. Nhưng việc giải quyết mức bồi thường thiệt hại cần phải hợp tình, hợp lý,
mức bồi thường phải phù hợp với thiệt hại. Điều này đòi hỏi người có trách nhiệm
giải quyết bồi thường thiệt hại phải xem xét đến tích chất của thiệt hại xảy ra. Bởi
lẽ, có những thiệt hại có thể tính toán, quy đổi thành tiền được nếu nó chỉ đơn thuần
là thiệt hại về vật chất, tài sản. Còn với thiệt hại về tinh thần, tính mạng, sức khỏe
của con người thì khó xác định hơn. Bản chất của hai loại thiệt hại này là khác
nhau. Việc phân chia và nghiên cứu rõ những thiệt hại này sẽ giúp cho việc xác định
bồi thường thiệt được chính xác hơn.
5
* Thứ nhất thiệt hại về vật chất.
Thiệt hại về vật chất là thiệt hại có thể tính toán, định lượng ra tiền được.
Theo Thông tư 173 UBND/TANDTC ngày 23/3/1997 thì thiệt hại về vật chất là sự
mất mát, giảm sút về một lợi ích vật chất có thể tính toán được bằng tiền, bao gồm
các khoản: Những hư hỏng, mất mát về tài sản, những chi phí bỏ ra để sửa chữa, và
những thu nhập bị mất do bị thiệt hại.
Điều 608 BLDS năm 2005 đã quy định rõ: Trường hợp tài sản bị xâm hại thì
thiệt hại được bồi thường bao gồm:
1. Tài sản bị mất;
2. Tài sản bị hủy hại hoặc hư hỏng;
3. Lợi ích được gắn liền với sử dụng và khai thác tài sản;
4. Chi phí hợp lý để ngăn chặn hạn chế và khắc phục thiệt hại.
Ngoài ra, các thiệt hại trên muốn được bồi thường thì phải thỏa mãn một số
tiền bồi thường thiệt hại hay không và công ty bảo hiểm có quyền yêu cầu người
gây ra thiệt hại phải thanh toán khoản tiền đó không? Điều này đã được giải quyết
theo Điều 577 BLDS 2005 về chuyển yêu cầu hoàn trả thì Bên bảo hiểm có quyền
yêu cầu bên thứ ba (người gây thiệt hại) hoàn trả khoản tiền mà mình đã trả cho
người được bảo hiểm và người được bảo hiểm cũng có quyền yêu cầu bồi thường
thêm khoản chênh lệch mà người bảo hiểm hoặc người gây thiệt hại bồi thường.
*Thứ hai thiệt hại về tinh thần.
Không có một khái niệm nào giải thích cụ thể thế nào là “thiệt hại về tinh
thần”, chúng ta có thể hiểu nôm na rằng thiệt hại tinh thần là sự xúc phạm đến các
giá trị tinh thần, tình cảm như là sự mất danh dự nhân phẩm, sự lo lắng suy sụp về
tinh thần. Khoản 3 Điều 307 chỉ quy định một cách khái quát: “Người gây thiệt hại
về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạnh, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, uy tín cuẩ người đó tì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính
công khai còn phải bồi thường,một khoản tiền để bù đáp tổn thất về tinh thần co
người bị thiệt hại”.
Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xúc phạm là vấn đề
nhạy cảm và phức tạp, bởi thiệt hại về tinh thần là những thiệt hại phi vật chất,
thuộc về nội tâm con người nên rất khó để định lượng, cân đo, đong đếm những
thiệt hại này. Sự bù đắp về tinh thần chỉ có giá trị an ủi, động viên người bị thiệt hại
mà thôi. Có thể nói đây là một vấn đề khó, cho đến nay các nhà làm luật vẫn chưa
ban hành quy định hướng dẫn cụ thể vấn đề này.
Hiện có hai quan điểm khác nhau về vấn đề bồi thường thiệt hại tinh thần.
Quan điểm thứ nhất cho rằng thiệt hại về tinh thần là thiệt hại không thể bù đắp
được, như sự mất đi người thân, tình cảm bị xúc phạm... là những tổn thất vô giá
không thể quy đổi thành tiền được. Quan điểm thứ hai lại cho rằng dù là thiệt hại về
tinh thần hay vật chất thì đều phải được bồi thường vì suy cho cùng thiệt hại chỉ
mang tính chất tương đối mà thôi. Sự bồi thường, đền bù là mang tính khắc phục,
sửa chữa thiệt hại đã xảy ra, làm sao nó có thể khôi phục nguyên vẹn như trước khi
có thiệt hại. Mỗi quan điểm có những diễn giải riêng của mình. Giả sử ta cho rằng
7
hại. Như vậy hành vi trái pháp luật có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự, dân
sự, hành chính, kể cả những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước, vi phạm các quy tác trong cộng đồng dân cư.
Là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật, nếu hành vi có
gây ra thiệt hại nhưng không trái pháp luật thì không đặt ra vấn đề bồi thường thiệt
hại. Trên thực tế có nhiều chủ thể gây ra thiệt hại nhưng hành vi gây ra thiệt hại đó
8
lại không phải là vi phạm pháp luật mà là hợp pháp nếu hành vi đó được thực hiện
nghĩa vụ mà pháp luật quy định hoặc nghề nghiệp buộc họ phải làm như vậy. Trong
trường hợp này trách nhiệm bồi thường thiệt hại không đặt ra với người gây thiệt
hại. Ngoài ra người gây thiệt hại gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính
đáng, tình thế cấp thiết hay trường hợp bất khả kháng thì cũng không bị coi là vi
phạm pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp phòng vệ chính đáng hay tình thế cấp
thiết thì cần phải xem xét xem hành vi gây thiệt hại có vượt quá giới hạn phòng vệ
chính đáng hay vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết hay không, nếu vượt quá thì
người gây ra thiệt hại vẫn phải bồi thường.
1.2.3.Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi thiệt hại
xảy ra là kết quả trực tiếp, tất yếu của hành vi trái pháp luật. Mối quan hệ nhân quả
có chức năng gắn kết giữa hai yếu tố cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng. Quan hệ nhân quả là một diễn biến trong một khoảng thời gian cụ
thể. Do vậy, thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật và ngược lại, hành
vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra. Theo quy định tại khoản 1 Điều
604 BLDS năm 2005: “ Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm... mà gây thiệt
hại thì phải bồi thường”. Đây chính là mối quan hệ của sự vân động nội tại, trực
tiếp, tồn tại khách quan, về nguyên tắc nguyên nhân luôn tồn tại trước kết quả trong
khoảng thời gian xác định. Nếu có hành vi trái pháp luật và có thiệt hại nhưng
luận chính xác, xác định đúng trách nhiệm của người gây ra thiệt hại.
1.2.4.Người gây thiệt hại có lỗi.
Đối với một chủ thể, hành vi và nhận thức để thực hiện một hành vi là hai
vấn đề khác nhau. Hành vi là những gì thể hiện ra bên ngoài còn nhận thức là những
gì thể hiện bên trong. Con người hành động theo ý chí của mình và nhận thức dẫn
tới hành vi. Nhưng cũng có những trường hợp nhận thức và hành vi không trùng
nhau, đó là những người bị bệnh tâm thần, những người mắc các bệnh có thể dẫn tới
việc không có khả năng điều khiển nhận thức hoặc hành vi của bản thân.
Khi một chủ thể có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi lựa
chọn cách xử sự không phù hợp với pháp luật, gây thiệt hại cho người khác thì khi
đó họ bị coi là có lỗi. Theo quy định tại khoản 1 Điều 604 BLDS năm 2005: “
Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm... mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”,
hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ – HĐTP: “Trách nhiệm bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng chỉ phátt sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: ..... phải có lỗi
cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại”. Như vậy người gây thiệt hại phải chịu trách
nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Việc áp dụng lỗi làm căn cứ để xác định trách nhiệm
được Bộ luật dân sự 2005 quy định tại Điều 308, trong đó nhấn mạnh lỗi là căn cứ
xác định trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có
quy định. Khoản 2 Điều 308 chia lỗi thành hai loại là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Lỗi cố ý
được quy định như sau: “Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ
hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn
hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra”. Về mặt khách
quan, quy định này đã dự liệu trước người gây thiệt hại đã nhận thức rõ hành vi của
10
mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện dù người thực hiện hành vi
có thái độ mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc thiệt hại xảy ra. Do
vậy, người đó phải chịu trách nhiệm trước hành vi có lỗi của mình. Về mặt chủ
quan, người gây thiệt hại thực hiện hành vi nhằm mục đích gây thiệt hại cho người
trên thực tế, kể cả khi không có yếu tố “lỗi” thì vẫn làm phát sinh trách nhiệm bồi
11
thường thiệt hại ngoài hợp đồng (theo khoản 2 Điều 604 BLDS 2005). Quy định
như vậy tạo điều kiện cho người bị hại đòi bồi thường thiệt hại vì trách nhiệm bồi
thường phát sinh không cần yếu tố lỗi. Điều đó có nghĩa là, chỉ cần có thiệt hại xảy
ra, có hành vi vi phạm pháp luật, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại
thì sẽ tồn tại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Một vấn đề quan trọng khác khi nghiên cứu “lỗi” là một trong bốn điều kiện
làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là xác định đúng
mức độ lỗi của các bên để đưa ra quyết định bồi thường chính xác và thỏa đáng. Bởi
lẽ trong các trường hợp hỗn hợp lỗi hoặc lỗi là của người bị hại thì việc xác định lỗi
gặp nhiều khó khăn. Với trường hợp lỗi hỗn hợp, nghĩa là cả người gây thiệt hại và
người bị thiệt hại đều có lỗi. Điều 617 có quy định về bồi thường thiệt hại trong
trường hợp người bị thiệt hại có lỗi: “Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc
gây thiệt hại thì gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức
độ lỗi của mình”, trong điều luật này có đề cập đến mức độ lỗi do vậy việc xác định
trách nhiệm bồi thường khi cả hai bên có lỗi là mỗi bên phải chịu trách nhiệm tương
xứng với mức độ lỗi của mình. Nhưng Bộ luật dân sự nước ta không quy định rõ
mức độ lỗi, vậy căn cứ vào đâu để xác định mức độ lỗi cho từng bên? Với trường
hợp lỗi là của người bị thiệt hại, Điều 617 cũng quy định rất rõ ràng: “Nếu thiệt hại
xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi
thường”. Tuy nhiên, thế nào là người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi và lỗi ở đây là lỗi
cố ý hay vô ý. Có thể đưa ra một số vấn đề sau khi xác định lỗi của người bị thiệt
hại:
Nếu người bị thiệt hại có lỗi hoàn toàn trong việc để thiệt hại xảy ra thì dù là
lỗi cố ý hay vô ý mà người gây ra thiệt hại không có lỗi thì người gây thiệt hại
không phải bồi thường.
Nếu người gây thiệt hại có lỗi vô ý và người bị thiệt hại có lỗi cố ý trong việc
thiệt hại.
Trong trách nhệm dân sự theo hợp đồng thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi
thường những thiệt hại trực tiếp hay những thiệt hại có thể tiên liệu trước khi ký
hợp đồng. Còn trong trách nhệm dân sự ngoài hợp đồng thì người gây thiệt hại phải
bồi thường toàn bộ thiệt hại kể cả thiệt hại trực tiếp hay thiệt hại gián tiếp.
Việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ làm chấm dứt
nghĩa vụ giữa các bên, còn việc thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo hợp
đồng chưa chắc đã làm chấm dứt nghĩa vụ của người gây thiệt hại.
Về lỗi: Trong trách nhệm dân sự theo hợp đồng trách nhiệm chỉ phát sinh do
lỗi của người không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ hợp đồng trừ
trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Còn trong
trách nhệm dân sự ngoài hợp đồng kể cả khi không có lỗi vẫn phải bồi thường thiêt
hại theo quy định của pháp luật.
Về chủ thể: Trong trách nhệm dân sự theo hợp đồng, chủ thể là các bên tham
gia ký kết hợp đồng, còn trong trách nhệm dân sự ngoài hợp đồng là người có hành
vi trái pháp luật và người giám hộ, người đại diện.
13
Khi so sánh hai loại trách nhiệm này, ta cần phân biệt rõ thời điểm phát sinh
trách nhiệm giữa hai loại trách nhiệm này để xác định đâu là trường hợp bồi thường
thiệt hại theo hợp đồng và đâu là trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trường hợp bồi thường thiệt hại theo hợp đồng thì trách nhiệm phát sinh kể từ thời
điểm hợp đồng có hiệu lực và có bên vi phạm nghĩa vụ. Còn trong trường hợp bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh trách nhiệm từ thời điểm xảy ra hành vi
gây thiệt hại. Ta cũng cần phải lưu ý là không phải giữa các bên có quan hệ hợp
đồng thì mọi thiệt hại gây ra đều dẫn đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp
đồng và ngược lại khi các bên không có quan hệ hợp đồng thì thiệt hại xảy ra sẽ dẫn
đến trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
1.4.Cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
khả khi cho công tác thi hành án sau này; cá thể hóa trách nhiệm để xác định trách
nhiệm thuộc về ai giảm bớt nguy cơ lạm dụng việc mất năng lực hoặc không đầy đủ
khả năng nhận thức của người khác mà kích động họ gây thiệt hại bất chính, đồng
thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của những người có nghĩa vụ trông nom, giáo
dục những người không có năng lực hành vi hoặc có năng lực hành vi một phần.
1.4.2. Điều kiện để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng.
Để trở thành chủ thể của một quan hệ pháp luật dân sự thì người tham gia cần
đáp ứng điều kiện về năng lực chủ thể theo quy định của pháp luật. Quan hệ bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là một quan hệ pháp luật dân sự do vậy để trở
thành chủ thể của quan hệ này người tham gia cần có đầy đủ những điều kiện về
năng lực chủ thể của quan hệ pháp luật nói chung. Do đặc thù riêng của quan hệ
pháp luật này mà người tham gia cần có thêm một số điều kiện nhất định.
Khi một chủ thể phải chịu trách nhiềm bồi thường thiệt hại nghĩa là chủ thể
đó đang tham gia vào một quan hệ pháp luật, do vậy chủ thể đó cần có đầy đủ năng
lực chủ thể để tham gia vào một quan hệ pháp luật, đó là độ tuổi và nhận thức (năng
lực hành vi).Trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhiều khi người
thực hiện trách nhiệm bồi thường lại không phải là người trực tiếp gây ra thiệt hại
mà họ phải thực hiện trách nhiệm bồi thường do lỗi của mình trong việc quản lý để
xảy ra thiệt hại. Do vậy, mối quan hệ pháp lý giữa người gây thiệt hại và người phải
bồi thường cũng là điều kiện để quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng của chủ thể.
Như vậy, để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho
một chủ thể cần đáp ứng các điều kiện sau:
- Thứ nhất là độ tuổi: Khi một chủ thể tham gia vào quan hệ bồi thường thiệt
hại nghĩa là chủ thể đó đang tham gia vào một quan hệ pháp luật. Và để tham gia
vào quan hệ này chủ thể cần đáp ứng các yêu cầu về năng lực chủ thể theo quy định
của pháp luật. Theo quy định của pháp luật năng lực chủ thể được cấu thành từ hai
yếu tố là năng lực hành vi và năng lực pháp luật. Khoản 3 Điều 14 Bộ luật dân sự
2005 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra
chưa đạt đến độ tuổi nhất định mà do họ bị “mất” khả năng nhận thức của mình.
“Mất” có thể được hiểu là một sự vật, hiện tượng đang tồn tại nhưng sau đó sự vật,
hiện tượng đó không còn nữa. Nếu một người đang có khả năng nhận thức nhưng
lại bị mất đi thì nguyên nhân có thể là do họ bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh
khác dẫn đến hậu không thể nhận thức và làm chủ bản thân. Do vậy họ bị mất đi
năng lực hành vi, năng lực chủ thể để tham gia vào các quan hệ xã hội.
Như vậy, để tham gia vào một quan hệ xã hội nhất định thì chủ thể phải có
đầy đủ ý chí cũng như lý trí để điều khiển hành vi của mình, phải nhận thức được
những gì mà mình đang làm và hậu quả của nó. Không có nhận thức đồng nghĩa với
việc họ không biết mình đang làm gì và sẽ có hậu quả gì xảy ra từ việc làm đó. Việc
quy định nhận thức là điều kiện để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng là rất cần thiết. Người chịu trách nhiệm chính trong quan hệ bồi thường
16
thiệt hại ngoài hợp đồng có thể là người gây ra thiệt hại hoặc có thể không phải là
người gây ra thiệt hại. Việc thực hiện bồi thường ảnh hưởng đến chính quyền lợi
của họ nên họ phải nhận thức được việc mình đang làm và trách nhiệm bồi thường
sẽ không đặt ra với người không có khả năng nhận thức
- Thứ ba là mối quan hệ pháp lý giữa người gây ra thiệt hại và người phải bồi
thường:
Thông thường khi đạt độ tuổi do luật định và có khả năng nhận thức thì một
chủ thể hoàn toàn có thể tham gia vào một quan hệ pháp luật, mà cụ thể ở đây là
quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Khi có đầy đủ năng lực chủ thể thì
người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Mối quan hệ giữa người gây thiệt hại và người phải bồi thường được đặt ra
để cá thể hóa trách nhiệm bồi thường thiệt hại để giải quyết các tình huống người
gây thiệt hại không có khả năng bồi thường. Việc xem xét mối quan hệ pháp lý giữa
người gây thiệt hại và người phải bồi thường nhằm xác định đúng người đại diện
cho người gây thiệt hại để thực hiện nghĩa vụ. Họ phải thực hiện việc bồi thường dù
tiền tài của một người, cũng là lấy của đánh rơi, mà lại đánh lại người mất của, thì
cũng phải tội như tôi ăn trộm thường mà giảm một bậc. Lột lấy những quần áo và
đồ vật của trẻ con, người điên, người say thì phải tội đồ và bồi thường gấp đôi”. Và
còn rất nhiều quy định khác quy định về việc bồi thường như Điều 436 quy định về
việc dọa nạt nguời để lấy của, Điều 438 quy định về việc lấy trộm đồ của sứ thần
nước ngoài hay Điều 455 lại có dự liệu phong phú về việc đánh trộm ao cá nhà
người khác. Ngoài ra, đối với tổn thất về tinh thần Bộ luật Hồng Đức cũng có quy
định rõ về việc bồi thường thiệt hại, như Điều 472 quy định về trường hợp kẻ dưới
đánh quan lại, quan lại đánh lẫn nhau thì khi một người đánh quan chức bị thương,
ngoài việc phải chịu phạt, phải đền bù thương tổn còn phải đền tiền tạ. Giống như
vậy, Điều 473 quy định khả năng kẻ dưới mắng nhiếc quan lại, quan lại mắng nhiếc
nhau không chỉ đưa ra hình phạt còn phải đền tiền tạ. Các quy định trên đều xác
định rõ trách nhiệm của một người về hành vi vi phạm của chính bản thân.
Trong một số trường hợp đặc biệt, Bộ luật Hồng Đức còn xác định một người
phải chịu trách nhiệm bồi thường cho hành vi của người khác, đó là trong trường
hợp cha phải chịu trách nhiệm thay con, chủ phải chịu trách nhiệm thay đầy tớ.
Theo Điều 457 người cha phải chịu trách nhiệm về hành vi của con cái còn ở chung,
dù đã trưởng thành hay chưa, mà phạm tội trộm cắp. Theo đó, người cha là trụ cột
trong nhà mà lại không giáo dục, răn dạy con cái thì phải chịu tội thay cho con cái:
“Các con còn ở nhà với cha mẹ, mà đi ăn trộm, thị cha bị xử tội biếm; ăn cướp thì
cha bị xử tội đồ; nặng thì xử tăng thêm tội; và đều phải bồi thường thay con những
tang vât ăn trộm, ăn cướp. Nếu con đã ở riêng, thì cha bị xử phạt hay biếm; cha đã
báo quan thì không phải tội; nhưng đã báo quan rồi mà vẫn để con ở nhà thì cũng
xử như chưa báo”. Việc quy định người cha phải bồi thường cho con ngay cả khi
người con đã trưởng thành là một điểm khác biệt hoàn toàn giữa Bộ luật Hồng Đức
với luật hiện đại. Bộ luật dân sự 2005 quy định người đã thành niên phải tự chịu
trách nhiệm trước thiệt hại do mình gây ra. Và việc người cha báo quan thì sẽ không
phải chịu tội vậy không phải chịu tội thì người cha có phải bồi thường không? Nếu
người cha không phải bồi thường thì ai là người chịu trách nhiệm bồi thường?
18
bộ luật này đều có những quy định về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân.
Đặc biệt, hai bộ luật này còn quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha
mẹ do con cái thực hiện, về trách nhiệm của người thợ cả và về trách nhiệm của
người dạy học.
Thứ nhất, về trường hợp cha mẹ bồi thường thay con cái: pháp luật quy định
rằng người cha người mẹ phải chịu trách nhiệm về những tổn hại mà người con gây
ra. Nhưng việc cha mẹ có trách nhiệm bồi thường thay cho con cần phải đáp ứng
các điều kiện sau: con còn vị thành niên, nếu người con đã trưởng thành thì các điều
19
khoản quy trách nhiệm bồi thường cho cha mẹ là không thể thi hành; con còn ở với
cha mẹ, nghĩa là nếu người con đã ra ở riêng thì cha mẹ sẽ không phải chịu trách
nhiệm trước các tổn hại do người con gây ra. Tuy nhiên, nếu việc không ở chung
mà không có lý do chính đáng hoặc dù không có sự ở chung, cha mẹ vẫn có thể
trông nom con cái được thì cha mẹ vẫn phải chịu trách nhiệm, sự gây thiệt hại của
người con là lỗi do không trông nom cẩn thận của cha mẹ.
Thứ hai, về trách nhiệm của người thợ cả: tại khoản 4 Điều 714 của Dân luật
Bắc Kỳ và khoản 3 Điều 764 của Dân luật Trung Kỳ quy định thì các người thợ cả
phải chịu trách nhiệm về những tổn hại mà các người thợ bạn gây ra trong khi đang
làm những công việc mà họ giao cho, hoặc trong khi người thợ bạn này thuộc dưới
quyền trông coi của họ. Theo quy định của hai bộ luật này người thợ bạn phải gây
tai nạn trong thời kỳ trông coi của người thợ cả, hoặc đang trong thời kỳ làm công
việc của thợ cả giao cho. Và người thợ cả chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự thay
người thợ bạn nếu đáp ứng hai yêu cầu sau: dậy dỗ một nghề cho người thợ bạn và
giao một công việc cho một người thợ bạn làm.
Thứ ba, về trách nhiệm của những người dạy học: khoản 5 Điều 714 của Dân
luật Bắc Kỳ và khoản 2 Điều 764 Dân luật Trung Kỳ quy định người dạy học chỉ
phải chịu trách nhiệm về những tổn hại do học trò gây nên trong thời gian học trò
thuộc quyền trông coi của mình.
về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Chương này quy định khá hoàn
thiện về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và năng lực bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong chương này quy định rõ ràng từng trường hợp bồi
thường cụ thể và xác định rõ ai là người có trách nhiệm phải bồi thường. Điều 611
quy định về năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân và có sự
phân tách cụ thể. Có một điểm khác giữa Bộ luật dân sự 1995 với luật của các thời
kỳ trước là trong Bộ luật dân sự 1995 có những quy định về bồi thường thiệt hại do
người mất năng lực hành vi gây ra. Có thể nói, Bộ luật này là sự hoàn thiện, khắc
phục được những thiếu xót của pháp luật về vấn đề chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân trong các quy định của pháp luật trước đó.
1.5.4. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay.
Qua gần 10 năm thi hành Bộ luật dân sự 1995 đã góp phần vào việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ dân sự. Nhưng với xu thế
hội nhập cùng với sự phát triển kinh tế trong nước và quốc tế, các quy định của Bộ
luật dân sự 1995 trở nên bất cập. Vì vậy, ngày 14 tháng 6 năm 2005, Quốc hội đã
thông qua Bộ luật dân sự 2005. Giống Bộ luật dân sự 1995, Bộ luật dân sự 2005
cũng dành hẳn một chương quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng (Chương 21, gồm 27 điều, từ Điều 604 đến Điều 630). Kế thừa và pháp điển
hóa các quy định về bồi thường thiệt hại Bộ luật dân sự 2005 đã quy định cụ thể
hơn các vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và năng lực bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng.
21