VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG ĐỨC NGỌC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MỸ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG ĐỨC NGỌC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN MỸ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 60 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
2.1. Thực trạng thực hiện chính sách cải cách hành chính ................................26
2.2. Những kết quả thực hiện mục tiêu cải cách hành chính tại huyện Mỹ Đức43
2.3. Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách cải cách hành chính 50
Chương 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH Ở NƯỚC TA ................................................. 58
3.1. Mục tiêu chính sách cải cách hành chính................................................. 58
3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách cải cách hành chính ...... 65
KẾT LUẬN ………………………………………………………………...75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 76
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Từ và cụm từ được viết tắt
CCHC
Cải cách hành chính
TTHC
Thủ tục hành chính
HĐND
Hội đồng nhân dân
UBND
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công tác cải cách hành chính (CCHC) nhà nước luôn được Đảng và
nhà nước ta chú trọng, quan tâm. Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành
trung ương Đảng khóa VII đã xác định mục tiêu của Cải cách hành chính nhà
nước là: “Xây dựng một nền hành chính nhà nước trong sạch, có đủ năng lực,
sử dụng quyền lực và từng bước hiện đại hóa để quản lý có hiệu lực và hiệu
quả công việc của nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng
hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống làm việc theo
pháp luật trong xã hội”.
Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01/08/2007 của Ban chấp hành trung
ương Đảng đã khẳng định: “Đảng ta đã có nhiều chủ trương về CCHC và
luôn xác định CCHC là một khâu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới để phát
triển đất nước. Các cơ quan nhà nước, trong đó Chính phủ đã ban hành và tổ
chức thực hiện nhiều chương trình, kế hoạch để triển khai CCHC theo các chủ
trương, nghị quyết của Đảng”, “nền hành chính nhà nước vẫn còn nhiều hạn
chế, yếu kém. Hệ thống thể chế, pháp luật, nhất là thể chế kinh tế thị trường
định hướng XHCN vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc. Chức năng, nhiệm vụ
của một số cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước chưa đủ rõ, còn trùng
lặp và chưa bao quát hết các lĩnh vực quản lý nhà nước; cơ cấu tổ chức bộ
máy còn cồng kềnh, chưa phù hợp. Chất lượng đội ngũ CBCC chưa đáp ứng
kịp yêu cầu; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. Thể
chế, luật pháp về quản lý tài chính công tuy có nhiều đổi mới, nhưng còn bất
cập, TTHC còn nhiều vướng mắc, gây phiền hà cho nhân dân, kỷ luật, kỷ
cương cán bộ, công chức chưa nghiêm; hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà
nước còn nhiều yếu kém”. Đảng đã chỉ ra 3 nội dung lớn là:
1
Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta đã có chủ trương về CCHC và
luôn xác định CCHC là khâu quan trọng trong sự nghiệp đổi mới phát triển
đất nước. Các cơ quan nhà nước trong đó Chính phủ đã ban hành và tổ chức
thực hiện nhiều Chương trình, Kế hoạch để triển khai CCHC theo đúng chủ
trương, Nghị quyết của Đảng. CCHC bước đầu đạt được những kết quả quan
trọng, góp phần vào thành tựu chung của đất nước. Hệ thống thể chế, pháp
luật tiếp tục được đổi mới hoàn thiện, hình thành dần thể chế kinh tế thị
trường định hướng XHCN, đảm bảo tốt hơn chủ quyền của nhân dân. Chức
năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong hệ thống HCNN được
điều chỉnh sắp xếp phù hợp hơn, quản lý nhà nước ngày càng tốt hơn trong
điều kiện mới. Chất lượng đội ngũ CBCC trong bộ máy HCNN từng bước
được nâng cao, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi. Thể chế pháp luật
về quản lý hành chính và hoạt động của các cơ quan HCNN có bước đổi mới,
hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật được tăng cường hơn.
Tuy nhiên nền HCNN còn nhiều hạn chế yếu kém, hệ thống Thể chế,
pháp luật, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn còn bất
cập. Chức năng nhiệm vụ của một số cơ quan trong hệ thống hành chính vẫn
còn chưa rõ ràng, trùng lặp vẫn chưa bao quát hết các lĩnh vực quản lý nhà
nước. Bộ máy còn cồng kềnh chưa phù hợp, chất lượng đội ngũ CBCC vẫn
còn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước.
Một trong nội dung quan trọng của cải cách thể chế hành chính đó là
cải cách TTHC, muốn CCHC thì TTHC phải được đơn giản hóa một cách tối
đa, tránh rườm rà. Để đáp ứng yêu cầu đó Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết
định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04/9/2003 về việc ban hành quy chế thực
hiện cơ chế “Một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Đây
được coi như là giải pháp mang tính đột phá trong việc cải cách TTHC.
3
- Đỗ Phú Hải (2014) Xây dựng Chính sách công: “Vấn đề, giải pháp và
các yếu tố ảnh hưởng” tại tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị - hành
chính Quốc gia Hồ Chí Minh (số 5).
- Đỗ Phú Hải (2014) “Chính sách công theo tinh thần Hiến pháp năm
2013” tại Tạp chí khoa học xã hội - Viện Hàn lâm khoa học Việt Nam.
- “Cơ sở lý luận và thực tiễn về hành chính nhà nước” (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội năm 2013) do PGS. TS. Nguyễn Hữu Hải chủ biên.
- “Tình huống quản lý hành chính” (Nxb Lao động, Hà Nội năm 2014)
do TS. Nguyễn Thị Thu Hà chủ biên.
- “Phân cấp quản lý nhà nước – lý luận và thực tiễn” (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội năm 2004) của PGS.TS. Võ Kim Sơn.
- “Tìm hiểu về hành chính công Hoa Kỳ - lý thuyết và thực tiễn” (Nxb
Chính trị Hà Nội năm 2009) của PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải.
- “Phương pháp xử lý tình huống và nội dung cơ bản trong hoạt động
quản lý hành chính” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2014) của TS.
Phạm Đức Chính và TS. Ngô Thành Can.
- Nguyễn Đăng Thành (Chủ nhiệm đề tài, năm 2004), Chính sách công,
cơ sở lý luận, viện chính trị học, Học viện hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
- Chu Văn Thành (Chủ biên năm 2004) Dịch vụ công và xã hội hóa
dịch vụ công, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia.
- Nguyễn Hữu Hải (Chủ biên năm 2006), Giáo trình Hoạch định và
phân tích chính sách công, NXB Giáo dục.
- Trần Văn Tuấn (Ủy viên trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ),
“Tiếp tục thực hiện chương trình tổng thể Cải cách hành chính trong tình hình
hiện nay”, Tạp chí cộng sản, số 21 (189), 2009.
- Nghị quyết 30C/NQ-CP ngày 08/11/2011 ban hành chương trình tổng
thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2020.
5
Học viên lấy nghiên cứu này làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên
ngành Chính sách công.
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu về lý luận và thực tiễn thực
hiện chính sách CCHC tại huyện Mỹ Đức để từ đó đề xuất các giải pháp thích
hợp nhằm hoàn thiện chính sách cải cách hành chính trên địa bàn toàn huyện.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu sau đây:
- Những vấn đề lý luận về thực hiện cải cách hành chính là gì?
- Thực trạng thực hiện cải cách hành chính tại huyện Mỹ Đức, thành
phố Hà Nội hiện nay như thế nào?
- Những giải pháp nào để tăng cường Cải cách hành chính ở nước ta?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là nghiên cứu thực hiện chính sách cải
cách hành chính. Luận văn tập trung nghiên cứu sâu về thực hiện chính sách
CCHC từ thực tiễn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tại một số chủ thể như:
UBND huyện và các xã, thị trấn trong huyện.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu thực hiện chính sách CCHC tại UBND
huyện và UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện từ năm 2011 đến nay.
Những nội dung từ thực tế từ hoạt động CCHC để từ đó có những kiến nghị,
đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện CCHC tại huyện Mỹ Đức.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận nghiên cứu chính sách công đa ngành,
liên ngành khoa học xã hội và áp dụng các phương pháp nghiên cứu chính
sách công từ lý luận đến thực tiễn. Các quy phạm chính sách công về chu
7
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Cung cấp những vấn đề có tính thực tiễn trong việc vận dụng lý thuyết
về chính sách công để xem xét giữa lý thuyết và thực tiễn về thực hiện chính
sách CCHC từ thực tiễn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Từ đó đưa ra
những đề xuất có giá trị tham khảo đối với các nhà quản lý để nâng cao hiệu
quả thực hiện chính sách CCHC trong thực tiễn những năm tiếp theo.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu đề tài được kết cấu
gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách cải cách hành chính
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách cải cách hành chính tại
huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách cải cách
hành chính ở nước ta hiện nay
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1.1. Khái niệm chính sách cải cách hành chính
- “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan
của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể và giải pháp thực
hiện giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định”.
- Theo nghĩa rộng: CCHC có thể hiểu là một quá trình thay đổi cơ bản
và lâu dài, liên tục bao gồm cơ cấu của quyền lực hành pháp và tất cả các hoạt
động có ý thức của bộ máy Nhà nước nhằm đạt được sự hợp tác giữa các Bộ
phận và các cá nhân vì mục đích chung của cộng đồng và phối hợp các nguồn
bàn bạc và cần thay đổi.
Tháng 11/2011, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể CCHC
nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, với hệ thống các giải pháp và mục tiêu cụ
thể. Chương trình gồm 6 nội dung là: cải cách thể chế; cải cách TTHC; cải
cách tổ chức bộ máy HCNN; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ
CBCC, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại hóa hành chính. Đây là
một chương trình có tính chiến lược, định hướng và chỉ đạo toàn diện cho
công tác CCHC nhà nước trong thời gian 10 năm và được chia làm 2 giai
đoạn: giai đoạn I (2011 - 2015) và giai đoạn II (2016 - 2020).
- Qua giai đoạn I (2011 – 2015) đã có nhiều thành tích và thay đổi được
nhiều nội dung quan trọng nhưng vẫn còn một số khó khăn bất cập như:
+ Chưa tạo lập được một hệ thống thể chế đồng bộ, đáp ứng yêu cầu
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Chất
lượng các văn bản luật còn nhiều hạn chế.
11
+ TTHC có nhiều tiến bộ, rút ngắn quy trình, thời gian cho người dân
và doanh nghiệp, nhưng nhìn chung vẫn phức tạp, rườm rà, so với nhiều nước
trong khu vực còn có khoảng cách lớn.
+ Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính còn nhiều điểm chưa phù hợp với
thông lệ quốc tế. Chủ trương xã hội hóa dịch vụ công triển khai chưa đồng bộ,
có nhiều điểm thực hiện chưa đúng tinh thần, ý nghĩa của xã hội hóa, phát
sinh nhiều lệch lạc.
+ Chất lượng CBCC, viên chức còn bất cập, thiếu tính chuyên nghiệp;
một bộ phận không nhỏ sa sút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, vô cảm,
thiếu trách nhiệm trước yêu cầu chính đáng của người dân.
+ Hiện đại hóa hành chính được thực hiện chưa đồng bộ, phụ thuộc vào
điều kiện của từng bộ, ngành, địa phương. Các quy định về tiêu chuẩn và tạo
hạn chế nêu trên và tập trung vào các phương hướng và giải pháp sau:
Thứ nhất, triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013, thể chế hóa vai trò,
chức năng, tổ chức hoạt động của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa
phương trên cơ sở làm rõ các mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, giữa
Nhà nước và thị trường, giữa Nhà nước và các tổ chức xã hội.
Thứ hai, tiếp tục rà soát các loại TTHC, bãi bỏ, sửa đổi bổ sung theo
hướng tạo thuận tiện cho người dân, doanh nghiệp. Đẩy mạnh công khai, minh
bạch, thực hiện hiệu quả cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” hiện đại.
Thứ ba, hoàn thiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy HCNN
cũng như của mỗi cơ quan hành chính (Chính phủ, các bộ, chính quyền địa
phương) theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.
Thứ tư, triển khai thực hiện tốt cơ chế, chính sách thu hút nhân tài, bắt
đầu từ việc tuyển dụng, thi tuyển vào các chức danh lãnh đạo, quản lý đến
việc sử dụng, đánh giá và đãi ngộ CBCC, viên chức. Đẩy nhanh tiến độ cải
13
cách tiền lương để bảo đảm cuộc sống của CBCC, viên chức sống được bằng
lương theo mức trung bình của xã hội.
Thứ năm, kiểm soát nghiêm ngặt ngân sách nhà nước chi cho hành
chính công và đầu tư công. Tiếp tục thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối
với đơn vị hành chính và sự nghiệp theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP.
Thứ sáu, tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ
quan nhà nước. Tăng cường thực hiện dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3 và
4 (những mức độ cao nhất).
1.3. Tổ chức thực hiện chính sách cải cách hành chính
1.3.1. Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện chính sách cải cách hành
chính
Có một số phương pháp tiếp cận khi thực hiện chính sách CCHC trong
đó phương pháp tiếp cận “từ trên xuống” là truyền thống và phổ biến nhất để
+ Bộ Tư pháp có nhiệm vụ tổng hợp việc triển khai thực hiện nhiệm vụ
cải cách thể chế, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành
văn bản quy phạm pháp luật.
+ Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thực hiện phương pháp tính chi phí
thực hiện thủ tục hành chính, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện đề
án văn hóa công vụ.
+ Bộ Tài chính có các nhiệm vụ chính: đổi mới cơ chế phân bổ ngân
sách cho cơ quan hành chính nhà nước dựa trên kết quả hoạt động của cơ
quan hành chính nhà nước, đổi mới cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các
đơn vị sự nghiệp dịch vụ công.
+ Bộ Thông tin và truyền thông: triển khai nội dung ứng dụng công
nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.
+ Các Bộ khác có nhiệm vụ liên quan như: Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ
Giáo dục, Bộ Y tế, Bộ Khoa học và công nghệ, Bộ Văn hóa - thể thao và du
lịch (Theo Nghị quyết 30C/2011/NQ-CP).
15
Như vậy thể hiện Cải cách hành chính là lĩnh vực rất quan trọng, có
liên quan đến nhiều Bộ, ngành khác nhau. Trên thực tế đã được các Bộ triển
khai rất sớm nhưng kết quả thu được chưa được như yêu cầu đã đạt ra.
- Ở cấp địa phương là nơi thực thi chủ yếu, đã có sự đầu tư cả về con
người và cơ sở vật chất để đáp ứng được tình hình, nhưng sự thay đổi về văn
bản như: Bộ TTHC có giảm có tăng, gây khó khăn cho CBCC và người dân
trong quá trình giao dịch TTHC. Các TTHC vẫn phải theo khuôn khổ, chưa
có sự linh hoạt gây sự không thỏa mái cho người dân, một phần do trình độ
nhận thức của một bộ người dân còn chưa cao, vẫn quen với cơ chế trước đây.
Đặc biệt là với các địa phương miền núi, hải đảo nơi có điều kiện tự nhiên
khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém và trình độ của cán
bộ, công chức trực tiếp làm công tác CCHC còn hạn chế.
nhân dân sẽ năm bắt được những ưu điểm và điểm mới của CCHC qua từng
giai đoạn thực tế.
- Phổ biến và tuyên truyền thực hiện CCHC để cán bộ và nhân dân hiểu
rõ được tầm quan trọng của cải cách hành chính, thay đổi dần những tư tưởng
lạc hậu, cổ hủ gây cản trở CCHC trước đây. Tạo một hình ảnh đẹp và lòng tin
của người dân về thực hiện CCHC hiện nay ở nước ta.
- Các biện pháp hiệu quả về phổ biến và tuyên truyền về thực hiện
CCHC đó là tuyên truyền trên hệ thống thông tin đại chúng. Với những chính
sách cải cách mới được tuyên truyền trên hệ thống truyền hình, mạng Internet,
hệ thống Báo chí … sẽ là cách nhanh nhất và hiệu quả nhất đến với nhân dân.
Ở các địa phương, cơ sở thì tuyên truyền bằng các Băng Zôn, khẩu hiệu
trên các trục đường, hệ thống phát thanh. Tuyên truyền đến từng Đảng viên
tại các chi bộ để các Đảng viên nắm được chương trình CCHC. Các ban
ngành đoàn thể như Thanh niên, Nông dân, Phụ nữ, Cựu chiến binh tuyên
truyền đến từng hội viên của mình. Đặc biệt là tại cơ quan đó là Bộ phận tiếp
17
nhận và trả hồ sơ kết quả TTHC được trang bị hiện đại, đáp ứng được yêu cầu
thực tế và tuyên truyền đến nhân dân sẽ tạo được ấn tượng tốt.
1.3.4. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách cải cách hành chính
- Trong tổ chức và thực hiện chính sách cải cách hành chính thì phối
hợp thực hiện chính sách có ý nghĩa quan trọng tác động đến hiệu quả thực
hiện chính sách.
- Để tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải có sự phân
công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp. Đó là việc phân
công trách nhiệm cụ thể cho các tổ chức, cá nhân có liên quan trong thực hiện
chính sách; xác định tổ chức, cá nhân chủ trì, chịu trách nhiệm chính, các tổ
chức cá nhân tham gia phối hợp trong quá trình thực hiện chính sách.
- Đối với CCHC không chỉ là nhiệm vụ của mình Bộ Nội vụ mà còn
chức cũng nên phải có ý kiến đóng góp để các thủ tục được điều chỉnh, bổ
sung, thay đổi theo hướng đơn giản hóa và giảm bớt TTHC.
1.3.6. Điều chỉnh chính sách cải cách hành chính
- Điều chỉnh để chính sách phù hợp với yêu cầu quản lý với tình hình
thực tế. Trong quá trình thực hiện chính sách nếu gặp khó khăn do môi trường
thực tế thay đổi, do chính sách còn những bất cập, hạn chế chưa phù hợp với
thực tiễn cần có những điều chỉnh nhất định để đáp ứng yêu cầu quản lý và
phù hợp với tình hình thực tế. Về nguyên tắc, thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung
chính sách là của cơ quan, tổ chức ban hành chính sách. Nhưng trên thực tế
việc điều chỉnh các biện pháp, cơ chế chính sách diễn ra rất năng động và linh
hoạt trong thực hiện chính sách.
- Điều chỉnh chính sách CCHC là một hoạt động cần thiết và diễn ra
thường xuyên trong tiến trình tổ chức, thực hiện chính sách CCHC nhằm mục
đích phù hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế của đất nước.
19
Theo nguyên tắc và quy định thì các cơ quan nào ban hành chính sách
thì được quyền điều chỉnh, bổ sung chính sách. Trên thực tế việc điều chỉnh
cơ chế và biện pháp chính sách diễn ra khá linh hoạt vì thế các cơ quan quản
lý nhà nước ở địa phương có thể chủ động điều chỉnh cơ chế chính sách cho
phù hợp với tình hình kinh tế địa phương miễn là không làm thay đổi mục
tiêu ban đầu đã đề ra của chính sách CCHC.
1.3.7. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách cải cách hành
chính
- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra là một nhiệm vụ, một khâu quan trọng
trong thực hiện chính sách bởi nó giúp bổ sung đồng thời hoàn thiện chính
sách đồng thời tạo ra sự tập trung thống nhất trong việc thực hiện mục tiêu
chính sách.