Khi lựa chọn phương pháp dạy học đại học, cần quan tâm những vấn đề gì - Pdf 38

Câu 1: Khi lựa chọn phương pháp dạy học đại học, cần quan tâm
những vấn đề gì?
Có rất nhiều phương pháp dạy học. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi
mà các phương tiện dạy học ngày càng phát triển và hỗ trợ đắc lực cho hoạt
động giảng dạy của người người giảng viên trên lớp. Việc lựa chọn phương pháp
dạy học và vận dụng nó để mang lại hiệu quả cho từng môn học, bài học, tiết
học là việc không dễ. Mỗi một phương pháp đều có những ưu điểm và nhược
điểm của nó. Người giảng viên lựa chọn được phương pháp phù hợp cho nội
dung bài giảng của mình, đối tượng và môn học mà mình đảm nhận sẽ đem lại
hiệu quả cao và ngược lại. Giữa mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương
pháp dạy học nó có quan hệ chặt chẽ với nhau và luôn hướng vào cái đích chung
là người học, coi người học là trung tâm.
Một phương pháp hay không có nghĩa là đem nó vào trong tiết dạy là đạt
hiệu quả như mong muốn. Hoặc một tiết dạy không đơn thuần là tập hợp hết các
phương pháp tiên tiến là một tiết dạy thành công. Chúng ta cần phải bỏ ngay
quan niệm coi phương pháp này là cũ, lạc hậu. Phương pháp kia là tiên tiến cần
áp dụng rộng rãi. Công bằng mà nói chẳng có phương pháp nào là hay là dở đối
với bất kỳ tiết học nào, đối tượng nào. Vấn đề là vận dụng nó cho đúng lúc,
đúng cách như thế nào để có hiệu quả mà thôi. Không có phương pháp nào dù
hay đến bao nhiêu, cũng không là chìa khoá vạn năng cả.
Tóm lại lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp tiết học, môn học, đối
tượng người học là một vấn đề quan trọng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Trong khi áp dụng các phương pháp mới không nên phủ nhận sạch trơn các
phương pháp truyền thống. Việc vận dụng các phương pháp tiên tiến và kế thừa
các phương pháp truyền thống là hết sức cần thiết. Không nên có thái độ cực
đoan hay thái quá dẫn đến những hậu quả không tốt cho người học. Do đó, để
phương pháp dạy đại học thật sự hiệu quả, giao viên cần quan tâm một số vấn đề
cần quan tâm như sau:

1


2


lượng thông tin và tri thức tăng nhanh theo hàm mũ, đó là hệ quả của sự tiến bộ
nhảy vọt của CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG MỚI. Trong
khung cảnh đó, cũng chính CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
MỚI có thể giúp con người chọn nhập và xử lý thông tin nhanh chóng để biến
thành tri thức. Ngoài ra, công nghệ mới là một khía cạnh văn hóa của thế giới
mới, và như mọi thứ văn hóa, nó sẽ được tiếp nhận tốt nhất ở tuổi trẻ, nó giúp
cho người học định hướng tư duy và thái độ của mình trong thời kỳ mới. Từ đó
cần qua dạy và học làm cho thế hệ trẻ nhanh chóng làm quen và sử dụng công
nghệ mới một cách đúng đắn, để hình thành phong cách văn hóa mới.
Tóm lại, trong bối cảnh của thời kỳ mới và trong giai đoạn mới của sự phát
triển giáo dục đại học, giáo viên cần quan tâm 3 tiêu chí quan trọng để dựa vào
khi chọn phương pháp dạy và học cho từng trường hợp cụ thể:
-

Nội dung cần thể hiện bao quát là CÁCH HỌC;

-

Phẩm chất cần phát huy mạnh mẽ là tính CHỦ ĐỘNG của người học;

-

Công cụ cần khai thác triệt để là CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ
TRUYỀN THÔNG MỚI.

Để thực hiện được 3 tiêu chí trên, sinh viên cần trang bị hành trang chủ yếu
là Anh văn, vi tính kiến thức và các kỷ năng nghiên cứu học tập cơ bản để chủ

cụ thể hơn, thu hẹp phạm vi nghiên cứu, chỉ ra trọng điểm cần xem xét cụ thể
nhằm tạo ra nhu cầu của học sinh đối với kiến thức, gây hứng thú và động cơ
học tập; đồng thời cũng vạch ra nội dung và dàn ý cần nghiên cứu.
4


Bước 3. Giải quyết vấn đề
Giáo viên có thể tiến hành giải quyết vấn đề theo 2 logic phổ biến: quy nạp
hoặc diễn dịch.
Theo logic quy nạp, giáo viên có thể áp dụng 3 cách trình bày khác nhau
tuỳ đặc điểm của nội dung:
a. Quy nạp phân tích từng phần: Nếu nội dung các vấn đề đặt ra (ở bước 2)
tương đối độc lập với nhau, ta có thể giải quyết dứt điểm từng vấn đề, rồi sơ bộ
kết luận về vấn đề đó. Giải quyết xong vấn đề thứ nhất rồi chuyển sang vấn đề
thứ 2,...
b. Quy nạp phát triển: Các vấn đề cụ thể được giải quyết theo lối “móc
xích”. Nói chung đáp số của vấn đề trước là tiền đề giải quyết vấn đề sau.
c. Quy nạp so sánh (hay song song- đối chiếu): Nếu nội dung của tài liệu
giáo khoa chứa đựng những mặt tương phản đối lập chẳng hạn tính kim loại và
tính phi kim, tính axit và tính bazơ… giáo viên có thể so sánh những thuộc tính
này ở 2 đối tượng tương phản (magie và lưu huỳnh, Mg(OH) 2 và H2SO4…) để
rút ra kết luận cho từng điểm so sánh.
Theo logic diễn dịch, giáo viên đưa ra kết luận sơ bộ, khái quát. Sau đó
tiến hành giải quyết vấn đề theo 3 chác vừa nói trên (phân tích từng phần, phát
triển, so sánh- đối chiếu). Ba cách giải quyết này giữ vai trò minh hoạ cho kết
luận sơ bộ nói trên.
Bước 4. Kết luận
Kết luận phải là sự kết tinh dưới dạng cô đọng, chính xác, đầy đủ những
khái quát bản chất nhất của vấn đề đưa ra xem xét. Kết luận chính là câu trả lời
cô đọng cho những câu hỏi đã được nêu lên ở bước 1, 2. Kết luận có giá trị đức

chỉnh âm sắc.
- Điệu bộ và nét mặt là một phương tiện quan trọng nâng cao sức truyền
cảm của lời nói nếu được phối hợp nhịp nhàng với nội dung trình bày, nhưng
không nên lạm dụng.

6


- Nhịp điệu lời nói vừa phải, những chỗ khó được trình bày chậm hơn, chỗ
dễ được trình bày nhanh hơn. Trong khi đang trình bày, giáo viên không nên đi
lại ở trong lớp mà nên đứng cạnh bảng đen, nhưng vào lúc chuyển sang vấn đề
mới thì có thể đi lại ở trong lớp.
Thay đổi nhịp điệu giọng nói hoặc ngắt quãng lâu hơn khi nhấn mạnh
những thuật ngữ mới, định nghĩa, công thức hoá học mới…
- Khi trình bày, có thể viết lên bảng các tiểu mục, các thuật ngữ mới, công
thức, phương trình phản ứng và vẽ một số sơ đồ tóm tắt.
4. Đánh giá phương pháp thuyết trình
- Phương pháp thuyết trình có nhiều ưu điểm:
+ Phương pháp thuyết trình cho phép giáo viên truyền đạt những nội dung
lí thuyết tương đối khó, phức tạp mà học sinh không dễ dàng tự mình tìm hiểu
lấy được.
+ Nội dung học tập được trình bày có logic và lập luận chặt chẽ. Phương
pháp cho phép giáo viên trình bày một mô hình mẫu của tư duy logic, của cách
đề cập và lí giải một vấn đề khoa học. Do đó phương pháp này giúp học sinh mô
hình mẫu của tư duy khoa học, qua đó sẽ giúp trò phát triển trí tuệ.
+ Lời giảng của giáo viên có thể gây cảm xúc mạnh mẽ và ấn tượng sâu
sắc. Sức truyền cảm mạnh của lời nói giáo viên cùng với toàn bộ nhân cách của
giáo viên khi tiếp xúc trực tiếp sẽ giúp học sinh hình thành những tư tưởng và
tình cảm lành mạnh, cao đẹp, những niềm tin và hoài bão.
+ Tiết kiệm thời gian nhất. Có thể truyền đạt một lượng thông tin lớn cùng

phương pháp có nhiều ưu điểm lớn trong dạy học.
Tài liệu tham khảo:
Trong quá trình làm bài tập, ngoài việc nghiên cứu giáo trình, bài giảng của
Giảng viên, học viên còn tham khảo thêm một số bài viết liên quan đến lĩnh vực
này trên mạng Internet./.

________________________________
8




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status