DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Dân tộc thiểu số
DTTS
Nhà xuất bản
Nxb
Hệ thống chính trị
HTCT
Quan hệ dân tộc
QHDT
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1:
QUAN HỆ DÂN TỘC Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY 10
Lắk hiện nay
Giải pháp cơ bản tăng cường quan hệ dân tộc tốt đẹp
ở Đắk Lắk hiện nay
53
81
84
91
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc (QHDT) là vấn đề cơ bản và quan
trọng của mọi cuộc cách mạng; đồng thời luôn là một vấn đề nhạy cảm và phức
tạp. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: sự nghiệp cách mạng giải phóng dân
tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội chỉ thành công và thành công đến nơi khi giải
quyết tốt vấn đề trên; chỉ khi nào mối QHDT được giải quyết một cách thỏa
đáng sau khi cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa
thành công, tạo được sự bình đẳng, dân chủ, công bằng, cùng hướng tới những
giá trị tốt đẹp trên các mặt của đời sống xã hội giữa cộng đồng các tộc người
trong cùng một quốc gia, trên cùng một lãnh thổ nhất định thì khi ấy sự nghiệp
cách mạng dân tộc giải phóng và cách mạng xã hội chủ nghĩa mới thực sự có
giá trị và ý nghĩa.
Việt Nam là một quốc gia gồm 54 dân tộc. Cộng đồng các dân tộc Việt
Nam sống đan xen, đan cài trên địa bàn khắp cả nước. Song, vấn đề dân tộc
chính sách dân tộc, chính sách xã hội của hệ thống chính trị; sự chênh lệch về
khoảng cách giàu nghèo giữa các dân tộc; mức hưởng thụ giá trị đời sống vật
chất, tinh thần; tình trạng dân di cư (nhất là di cư tự do) có xu hướng tăng làm
phá vỡ không gian văn hóa sinh tồn của đồng bào các dân tộc tại chỗ; trình độ
dân trí thấp cộng với tâm lý tự ti, trông chờ, ỷ lại của một bộ phận đồng bào
dân tộc thiểu số với các luật tục cổ hủ chi phối; các thế lực thù địch lợi dụng
vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân trên
địa bàn…
Vì vậy, giải quyết vấn đề dân tộc nói chung và QHDT nói riêng có ý nghĩa
vô cùng quan trọng và cấp bách hiện nay. Theo đó, nghiên cứu và làm rõ
QHDT ở Đắk Lắk hiện nay là việc làm cần thiết, không những khẳng định
tính đúng đắn trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện QHDT của Đảng, Nhà nước
ta, mà còn đánh giá một cách khách quan, toàn diện năng lực tổ chức thực
hiện và giải quyết QHDT ở Đắk Lắk, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, trên cơ
sở đó rút ra những kinh nghiệm, đề xuất yêu cầu và giải pháp cơ bản làm căn
4
cứ khoa học cho việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt hơn nữa QHDT trên địa
bàn tỉnh trong những năm tới; góp phần xây dựng Đắk Lắk ngày càng giàu về
kinh tế, vững về chính trị, phát triển đời sống văn hóa tinh thần tốt đẹp, mạnh về
quốc phòng - an ninh, giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích, bình đẳng trong
cộng đồng các dân tộc, tạo động lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài" Quan hệ dân tộc ở Đắk
Lắk hiện nay" làm Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Quan hệ dân tộc và giải quyết QHDT có tác động mạnh mẽ và sâu sắc
tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
hệ đoàn kết dân tộc hiện nay.
* Nhóm luận văn, luận án đã bảo vệ:
Luận án Tiến sĩ Triết học, Nguyễn Như Trúc (2006) "Vai trò của Quân
đội nhân dân Việt Nam trong công tác vận động đồng bào có tôn giáo ở Tây
Nguyên hiện nay", Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, đã chỉ ra những đặc
điểm, xác định vai trò của Quân đội trong công tác vận động đồng bào có tôn
giáo, phát hiện mâu thuẫn và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy
vai trò của Quân đội ta trong công tác vận động đồng bào có tôn giáo ở Tây
Nguyên hiện nay. Luận án Tiến sĩ Triết học, Nguyễn Sỹ Họa (2006) "Thực
hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh",
Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội, đã làm rõ và chỉ ra những vấn đề cấp
bách trong thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên; đề xuất những giải
pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt vấn đề này trên địa bàn.
Luận văn Thạc sĩ Lịch sử Đảng của Nguyễn Anh Tuấn (2011) "Đảng bộ
tỉnh Bình Phước lãnh đạo công tác dân tộc từ năm 2000 đến năm 2010 ", Học
viện Chính trị, Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ Triết học của Đào Hồng Đức (2012)
"Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vào sự nghiệp đổi
mới ở nước ta hiện nay", Học viện Chính trị, Hà Nội. Luận văn Thạc sĩ Chủ
nghĩa xã hội khoa học của Vũ Thư (2014) "Vai trò của HTCT cơ sở trong
6
thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ở tỉnh Lâm Đồng hiện
nay", Học viện Chính trị, Hà Nội. Các công trình trên tuy đi sâu nghiên cứu ở
các cấp độ khác nhau, song đều có điểm chung là làm rõ vai trò, tầm quan
trọng của công tác dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân ở địa phương và cả
nước; góp phần đề ra các yêu cầu, chủ trương, giải pháp, khẳng định tính
đúng đắn về quan điểm dân tộc, chính sách dân tộc và xây dựng khối đại đoàn
kết dân tộc của Đảng, Nhà nước.
dân tộc tốt đẹp ở Đắk Lắk hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quan hệ dân tộc ở Đắk Lắk hiện nay.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ dân tộc ở Đắk Lắk hiện nay, rút
ra nguyên nhân.
- Đề xuất yêu cầu và giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quan hệ dân
tộc tốt đẹp ở Đắk Lắk hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Quan hệ dân tộc ở Đắk Lắk hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quan hệ giữa các dân tộc
thiểu số với dân tộc Kinh; quan hệ giữa các tộc người với cộng đồng dân tộc quốc gia ở Đắk Lắk hiện nay trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tài
liệu thu thập, đánh giá được tính từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Dựa trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm và chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước về vấn đề dân tộc, QHDT và giải quyết mối quan hệ dân tộc; kế thừa
có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học có nội dung sát
với đề tài; đồng thời, thông qua các nhận định, đánh giá và hệ thống số liệu trong
các văn kiện, nghị quyết, báo cáo tổng kết của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh
Đắk Lắk, cùng các cơ quan, ban ngành có liên quan và kết quả điều tra, khảo sát
của tác giả.
8
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp nghiên cứu lý luận và
tổng kết thực tiễn, với các phương pháp như: lôgíc - lịch sử, phân tích - tổng
hợp, so sánh - thống kê, điều tra xã hội học và xin ý kiến chuyên gia.
6. Ý nghĩa của đề tài
danh (dân tộc Kinh, Tày, Ê Đê, Chăm...). Theo nghĩa này, dân tộc có những
đặc trưng cơ bản: các thành viên sử dụng một ngôn ngữ chung (tiếng mẹ đẻ)
để giao tiếp; có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hoá vật chất, văn hoá
tinh thần, tạo nên bản sắc của văn hoá dân tộc; có chung ý thức tự giác dân
tộc (sự tự ý thức về dân tộc mình từ nguồn gốc nhân chủng, ngôn ngữ, sắc
thái văn hoá đến tên gọi; ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của dân
tộc mình). Ý thức tự giác dân tộc trở thành đặc trưng quan trọng nhất để phân
định dân tộc này với dân tộc khác. Ngoài ra, “dân tộc” còn được dùng với
hàm nghĩa chỉ DTTS.
Theo nghĩa thứ hai (nghĩa rộng), dân tộc là một cộng đồng người cùng
chung sống trên một lãnh thổ, có chung một chế độ kinh tế, thể chế chính trị,
nền văn hoá, có một ngôn ngữ chung để giao tiếp và có chung đặc điểm tâm
lý dân tộc, tạo nên ý thức quốc gia - dân tộc. Trong đó, cùng chung một thể
10
chế kinh tế, chính trị - xã hội là đặc trưng quan trọng; cùng chung một nền
văn hoá là đặc trưng tạo nên bản sắc của mỗi dân tộc.
Từ cách tiếp cận trên, trong phạm vi của đề tài, tác giả chủ yếu tập trung
làm rõ quan hệ dân tộc ở Đắk Lắk hiện nay theo nghĩa dân tộc, tộc người.
Quan hệ theo Từ điển tiếng Việt: là trạng thái tác động lẫn nhau, ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các sự vật [52, tr. 990].
* Quan niệm về quan hệ dân tộc ở Việt Nam:
Theo PGS,TS Vương Xuân Tình, từ trước đến nay đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu về QHDT. Tuy vậy, để đi đến một quan niệm cụ thể về
QHDT ở Việt Nam hiện nay là như thế nào thì vẫn còn nhiều điều phải bàn và
tiếp tục nghiên cứu. Song, quan hệ tộc người ở nước ta hiện nay chủ yếu là
quan hệ giữa toàn bộ các tộc người với quốc gia - Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa; giữa tộc người đa số với các tộc người thiểu số; giữa các tộc người
quan tâm lớn lao đến lợi ích của các dân tộc khác thì mới loại trừ được nguồn
gốc của mọi sự xung đột, mới trừ bỏ được lòng nghi ngờ lẫn nhau, mới trừ bỏ
được nguy cơ gây ra những mưu đồ nào đó, mới tạo ra được lòng tin. Theo đó,
V.I. Lênin đã chỉ ra những nội dung cơ bản mang tính chất cương lĩnh về vấn
đề dân tộc như sau:
Một là, các dân tộc đều có quyền bình đẳng: Bình đẳng là quyền của
mọi dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ kinh tế, văn hóa cao
hay thấp, không phân biệt chủng tộc, màu da. Quyền bình đẳng giữa các dân
tộc được bảo đảm trên tất các các lĩnh vực của đời sống - xã hội. Đây cũng là
cơ sở lý luận, phương pháp luận để giải quyết các QHDT trên thế giới, trong
các khu vực hay trong một quốc gia. Theo Lênin: Nguyên tắc bình đẳng hoàn
toàn gắn chặt với việc bảo đảm quyền lợi của các DTTS, bất cứ một thứ đặc
quyền nào dành riêng một cho dân tộc và bất cứ một sự vi phạm nào đến
quyền lợi của một DTTS, đều bị bác bỏ. Thực chất của bình đẳng dân tộc là
xóa bỏ nạn nô dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác, khắc phục sự chênh
lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc, để các dân tộc được tham gia bình
đẳng vào các hoạt động của cộng đồng quốc gia và quốc tế.
12
Hai là, các dân tộc đều có quyền tự quyết: Quyền tự quyết của các dân
tộc chính là quyền tự chủ đối vận mệnh và con đường phát triển của các dân
tộc, bao gồm: quyền tự quyết định về thể chế chính trị, kể cả quyền phân lập
về chính trị (vì mục đích chung của dân tộc - quốc gia và dân tộc - tộc người)
hoặc quyền tự nguyện liên hiệp lại thành khối liên minh các dân tộc trên cơ sở
bình đẳng, đáp ứng nguyện vọng, lợi ích nhân dân lao động các dân tộc và vì
mục tiêu phát triển hòa bình, phồn thịnh, hữu nghị giữa các dân tộc.
Ba là, đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc: Thực chất của nội dung
này là đảm bảo sự thống nhất giữa phong trào công nhân với phong trào giải
âu vàng”, trường tồn đến ngày nay mà không kẻ thù nào có thể đồng hóa. Vì
vậy, trong Thư gửi Đại hội các DTTS miền Nam (ngày 19/4/1946), Người
nhấn mạnh: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Giarai hay Ê đê, Xơ
đăng hay Bana và các DTTS khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em
ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp
nhau...sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta
không bao giờ giảm bớt” [37, tr. 217]. Đánh giá cao vị trí, vai trò của đồng
bào các DTTS và miền núi trong sự nghiệp cách mạng, ngày 30/11/1968,
trong Điện gửi đồng bào, chiến sĩ và cán bộ Tây Nguyên, Người viết: “Quân
và dân Tây Nguyên, già trẻ, gái trai, Kinh hay Thượng đoàn kết một lòng,
luôn luôn nêu cao truyền thống anh hùng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ,
thi đua giết giặc, lập công, giữ gìn buôn rẫy, thu được những thành tích to lớn,
cùng đồng bào cả nước đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Đồng bào và chiến sĩ
Tây Nguyên đã đoàn kết, càng phải đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng không
ngừng, phát huy mạnh mẽ thắng lợi đã giành được, luôn nêu cao cảnh giác,
sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của địch, ra sức củng cố và phát triển vùng giải
phóng và phục vụ tiền tuyến” [37, tr. 414 - 415].
Với Hồ Chí Minh, trong kháng chiến đã vậy, thì ngày nay, các dân tộc
anh em muốn tiến bộ, muốn phát triển văn hóa của mình thì chúng ta phải tẩy
trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phải đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ
nhau như anh, em một nhà [38, tr. 496], đồng bào các dân tộc, không phân
biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ nhau, để cùng xây dựng Tổ quốc
14
chung, xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho tất cả các dân tộc hạnh phúc, ấm
no [40, tr. 282]. Chống áp đặt, kỳ thị, phân biệt đối xử hay ban ơn trong quan
hệ dân tộc.
Những quan điểm, tư tưởng trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải quyết
Đảng khóa IX về Công tác dân tộc trong tình hình mới đã nêu lên những quan
điểm cơ bản về công tác dân tộc:
Một là, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản,
lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
Hai là, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết,
tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.
Ba là, phát triển toàn diện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế
với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm
phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ
DTTS, giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa DTTS trong sự
nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
Bốn là, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và
miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa
đói giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi
đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự
lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ
trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.
Năm là, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ
thống chính trị.
Ngày 14/1/2011, Chính phủ ra Nghị định số: 05/2011/NĐ - CP về Công
tác dân tộc, tiếp tục khẳng định nhất quán nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn
16
trọng, giúp nhau cùng phát triển. Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển
toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào
chính sách của Đảng, Nhà nước đều nhằm củng cố, tăng cường mối quan hệ tốt
đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam ngày càng bền vững và phát triển.
1.1.2. Quan niệm và nội dung xem xét, phân tích, đánh giá quan hệ
dân tộc ở Đắk Lắk hiện nay
* Vài nét về tỉnh Đắk Lắk hiện nay
Về điều kiện địa lý và dân số: Đắk Lắk nằm ở trung tâm Tây Nguyên,
đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong
khoảng tọa độ địa lý từ 107028'57" đến 108059'37" kinh độ Đông và từ
1209'45" đến 13025'06" vĩ độ Bắc, diện tích 13.125,37 km 2, với độ cao trung
bình 400 - 800 mét so với mặt nước biển, nằm cách Hà Nội 1.410 km và cách
Thành phố Hồ Chí Minh 350 km; phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp
Phú Yên và Khánh Hoà, phía Nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông, phía Tây
giáp Cămpuchia. Do đó, Đắk Lắk có điều kiện thuận lợi để giao lưu với các đô
thị lớn trong vùng và ngoài nước. Địa hình Đắk Lắk có đặc trưng nổi bật là sự
tồn tại mờ nhạt của vùng trũng giữa núi và sự hiện diện đậm nét của cao
nguyên, bình nguyên bên cạnh các sơn khối nhỏ và tương đối bằng phẳng. Khí
hậu thuộc loại nhiệt đới ẩm gió mùa, nhưng do bị chắn bởi gờ Trường Sơn
Nam nên ảnh hưởng của gió mùa không đậm nét. Một năm chia thành hai mùa
rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến thắng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3.
Trên địa bàn tỉnh có 8 nhóm đất chính, nhưng lấy độ phì nhiêu làm tiêu chí thì
có ba nhóm đất chính: đất banzan, đất phù sa và đất mùn xám. Rừng là nguồn
tài nguyên quan trọng, đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của con người, với hệ động
thực vật phong phú và đa dạng. Đất, rừng là nguồn tài nguyên vô giá cho phát
triển kinh tế, nhất là kinh tế lâm nghiệp và nông nghiệp [42, tr. 17 - 18].
Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 13 huyện, 01 thành
phố và 01 thị xã),184 xã, phường, thị trấn; 2.470 buôn, thôn, tổ dân phố; trong
đó có 608 buôn đồng bào DTTS tại chỗ [64, tr. 1].
Dân số toàn tỉnh hiện có hơn 1,8 triệu người, phân bố không đều trên địa
bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn, huyện
ra hết sức phức tạp, với nhiều hoạt động chống phá của các thế lực thù địch,
làm cho QHDT trên địa bàn tỉnh thêm căng thẳng và tiềm ẩn những nguy cơ
19
khó lường, điển hình là các cuộc bạo loạn, biểu tình diễn ra năm 2001, 2004.
Tuy nhiên hiện nay, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, linh hoạt, kịp thời
của Đảng và Nhà nước, cùng với tinh thần chủ động, sáng tạo của hệ thống
chính trị (HTCT) ở Đắk Lắk, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của cộng
đồng các dân tộc trong và ngoài tỉnh, nên tình hình chính trị ở đây luôn ổn
định, kinh tế - xã hội phát triển, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, mối
QHDT tốt đẹp ngày càng phát triển, gắn bó bền vững.
Về cơ cấu dân tộc: Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk có 47 dân tộc
cùng sinh sống, tổng số DTTS gồm có 130.743 hộ, với 626.304 khẩu, trong
đó cơ cấu thành phần DTTS tập trung phần lớn là dân tộc Ê đê, gồm: 58.966
hộ, 319.833 khẩu; dân tộc M’nông: 9.781 hộ, 43.849 khẩu; dân tộc Gia Rai:
970 hộ, 13.361 khẩu; Chăm: 45 hộ, 174 khẩu; Cơ Ho: 35 hộ, 158 khẩu; Ba
Na: 60 hộ, 276 khẩu; H’rê: 32 hộ, 167 khẩu; Vân Kiều: 764 hộ, 3.732 khẩu;
Xơ Đăng: 812 hộ, 4.562 khẩu; dân tộc thiểu khác: 45.601 hộ, 204.186 khẩu…
Trong 47 dân tộc anh em thì đồng bào các DTTS có trên 33% dân số
(riêng đồng bào DTTS tại chỗ có 24%), sống xen ghép ở tất cả 184 xã,
phường, thị trấn trong tỉnh [65, tr. 1]. Ngoài ra, còn có các dân tộc nhập cư
khác, như: người Xơ Đăng, Bahnar,... (phía Bắc Tây Nguyên); Xtiêng, Mạ,
K’ho,… (Nam Tây Nguyên) và các dân tộc phía Bắc, như: Tày, Nùng, Dao,
Thái, H’mông…
Về văn hóa - xã hội: Là tỉnh đa dân tộc, mỗi dân tộc có những nét đẹp văn
hoá riêng, đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Ê Đê, M'Nông, Gia
Rai,… với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùa xuân; kiến trúc nhà
sàn, nhà rông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như cồng chiêng, đàn đá, đàn
Quan hệ về chính trị ở Đắk Lắk là các dân tộc đều có quyền liên hiệp với
nhau và với các tầng lớp, lực lượng trên địa bàn, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, quản lý của Nhà nước và hệ thống chính trị ở Đắk Lắk;
các dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật và được phát luật bảo vệ, có nghĩa
vụ, trách nhiệm và quyền hạn như nhau trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
quyền dân chủ, được tham gia và hoạt động trong các tổ chức chính trị, xã hội;
được phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần. Thực chất của QHDT về
chính trị ở Đắk Lắk hiện nay là thể hiện quyền dân chủ, bình đẳng, tôn trọng,
giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc, không dân tộc nào được coi
thường, kỳ thị, chia rẽ dân tộc nào; các dân tộc bên nhau đoàn kết vì một Đắk
Lắk ổn định và phát triển bền vững, vì một Việt Nam hòa bình và thịnh vượng.
22
Quan hệ về kinh tế ở Đắk Lắk hiện nay diễn ra trong quá trình mưu sinh,
cải thiện cuộc sống, trao đổi hàng hóa giữa tộc người này với tộc người khác;
quá trình hợp tác, giúp nhau phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần giữa tộc người có trình độ sản xuất cao với tộc người có trình độ sản
xuất thấp; các dân tộc đều tham gia vào quá trình sản xuất, cung ứng sản
phẩm, dịch vụ, tạo nên mối liên hệ, liên kết trong sản xuất và tiêu dùng, góp
phần thúc đẩy xã hội ngày càng phát triển, nhân dân các dân tộc trong tỉnh có
cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Quan hệ về văn hóa ở Đắk Lắk hiện nay là quá trình giao lưu, tiếp biến văn
hóa giữa các dòng tộc, tộc người với nhau; là sự tôn trọng phong tục, tập quán, tự
do tín ngưỡng, tự do không tín ngưỡng của mỗi tộc người mà không trái với thuần
phong mĩ tục, định hướng phát triển văn hóa của Đảng, Nhà nước ta; các dân tộc
có quyền được tự do sáng tạo những giá trị văn hóa tinh thần, vật chất tốt đẹp;
những giá trị đặc sắc văn hóa của mỗi dân tộc phải được bảo tồn và phát huy; các
dân tộc đều có quyền được nâng cao dân trí, được tiếp xúc, hưởng thụ những giá
người khác trên cùng địa bàn hoặc địa vực cư trú khác nhau của tỉnh; giúp
nhau nâng cao dân trí, xóa đói, giảm nghèo; cùng nhau đoàn kết đấu tranh với
âm mưu của các thế lực thù địch; qua các hoạt động chính trị xã hội, vì mục
tiêu chung xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
* Nội dung xem xét, phân tích, đánh giá quan hệ dân tộc ở Đắk Lắk hiện
nay
Một là, nhận thức, trách nhiệm quán triệt của các chủ thể quan hệ dân
tộc, giải quyết quan hệ dân tộc thông qua nội dung triển khai, thực hiện chính
sách dân tộc, chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở Đắk Lắk hiện nay
Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến kết quả quan hệ dân tộc ở Đắk
Lắk trong giai đoạn hiện nay. Thực chất là đánh giá nhận thức, trách nhiệm của
các chủ thể (Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa
phương và đồng bào các dân tộc ở Đắk Lắk), trực tiếp là HTCT và đồng bào
các dân tộc ở Đắk Lắk trong việc quán triệt, vận dụng, thực hiện chính sách
dân tộc và công tác dân tộc của Đảng, Nhà nước ta vào hoạch định hệ thống
chủ trương, chính sách, nhất là những chính sách ưu tiên, tạo điều kiện đối với
24
đồng bào các DTTS. Vì chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta là
đúng, nhưng nếu quán triệt, thực hiện không đúng, không thiết thực sẽ tạo nên
sự hoài nghi, giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính
quyền địa phương, tạo kẻ hở để các thế lực thù địch chống phá, chia rẽ khối đại
đoàn kết toàn dân. Suy cho cùng mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước ta đều hướng đến mục tiêu: thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ, nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc trên thực tế.
Trên cơ sở hệ thống chính sách chung phải vận dụng để đề ra những chính
sách cụ thể cho từng vùng, từng địa phương. Nghĩa là, chính sách phải phù hợp
với đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hoá, dân tộc và con người Tây Nguyên nói