Đại học Huế
Trung tâm Đào tạo Từ Xa
Phạm Thị Hoà
Giáo trình
Phơng pháp giáo dục âm nhạc
Trong trờng mầm non
Nhà xuất bản đại học s phạm
Lời nói đầu
Giáo trình Phơng pháp giáo dục âm nhạc trong trờng Mầm non đợc biên soạn nhằm đáp
ứng nhu cầu giảng dạy và học tập của môn học, nhằm trang bị cho giáo viên mầm non có kiến thức,
cơ sở lí luận và phơng pháp giáo dục âm nhạc.
Giáo trình bao gồm bốn chơng:
- Chơng một: Một số vấn đề chung về giáo dục âm nhạc trong trờng Mầm non.
- Chơng hai: Phơng pháp dạy các hoạt động âm nhạc.
- Chơng ba: Các hình thức tổ chức hoạt động âm nhạc.
- Chơng bốn: Soạn giáo án và thực hành dạy.
Nội dung cuốn sách chủ yếu đề cập đến phơng pháp dạy các hoạt động nh ca hát, vận động
theo nhạc, nghe hát, trò chơi âm nhạc ở trờng Mầm non. Ngoài việc nghiên cứu cơ sở lí luận của
phơng pháp giáo dục âm nhạc, giáo trình còn đề cập đến những đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi
mầm non liên quan đến hoạt động âm nhạc, các hình thức tổ chức giáo dục âm nhạc trong trờng
Mầm non, những vấn đề đổi mới hiện nay trong giáo dục âm nhạc. Phần Phụ lục bổ sung một số
bài dạy trẻ hát và bài hát cho trẻ nghe.
Sinh viên khoa Giáo dục Mầm non sử dụng tài liệu này trong các giờ lí thuyết, thực hành trên
lớp và ở trờng Mầm non. Giáo trình còn có thể là tài liệu dùng để tham khảo, nghiên cứu, hỗ trợ
trong công tác đào tạo các hệ giáo viên khác.
Để tiếp tục nâng cao chất lợng của sách, rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp của các bạn
bài hát, bản nhạc đH giúp trẻ tởng tợng, tập nói lên cảm xúc của mình, trẻ thấy đợc mình có thể
diễn tả những ý nghĩ, những mơ ớc, những cảm xúc mạnh mẽ hay dịu dàng.
Trong giáo dục âm nhạc, điều quan trọng không phải là dạy trẻ hát chuẩn xác, rõ ràng một cách
đơn giản mà trẻ phải đợc tham gia các hoạt động nh nghe nhạc, vận động theo nhạc, múa, trò chơi
âm nhạc. Đợc tiếp xúc với âm nhạc, ở một chừng mực nào đó, trẻ sẽ có cảm nhận, biết nhận xét,
trao đổi... ý nghĩa lời ca, âm điệu, tiết tấu... Đó chính là ý nghĩa của giáo dục thẩm mĩ. Tiếp xúc với
âm nhạc có quá trình sẽ tạo cho trẻ những ham thích, xuất hiện dần quan hệ lựa chọn, nghĩa là có
những sự ham thích khác nhau. Đó chính là cơ sở của việc hình thành thị hiếu âm nhạc. Bài hát là
phơng tiện để giáo dục trẻ nhiều mặt. Do đó, các bài hát giản dị, có tính nghệ thuật, phù hợp với
lứa tuổi sẽ hình thành ở trẻ thị hiếu âm nhạc trong sáng, lành mạnh, là cơ sở của tình cảm thẩm mĩ,
đạo đức tốt đẹp. Ví dụ: bài Đàn gà con - nhạc Phi-líp-pen-cô, lời Việt Anh, đH tạo dựng hình ảnh
"Đàn gà con lông vàng đi theo mẹ tìm ăn trong vờn, cùng tìm mồi ăn ngon". Lời ca trên giai điệu
bay bổng nh nhắn gửi, nhắc nhở các em biết vâng lời mẹ, biết yêu thơng mẹ và cùng chăm chỉ
làm việc.
Âm nhạc có sức lay động tâm hồn mạnh mẽ, không có gì có thể đánh thức tình cảm con ngời
bằng âm nhạc. Âm nhạc chân chính có giá trị nghệ thuật cảm hoá mọi ngời cùng hớng tới cái đẹp.
3
Những hình ảnh mang biểu trng về cái đẹp đợc thể hiện rõ trong các bài Con chim non, Chị Ong
Nâu và em bé, Cá vàng bơi, Màu hoa, Hoa trờng em, Mùa hè đến, Con cò cánh trắng, Búp bê, Con
gà trống, Sắp đến Tết rồi, Cháu yêu bà, Tạm biệt búp bê... Những hình ảnh đó đH nuôi dỡng cho
tâm hồn trẻ những nhận thức về cái đẹp. Từ nhận thức, cái đẹp đi vào chiều sâu thế giới nội tâm của
trẻ.
Bài hát giáo dục tình cảm thẩm mĩ cho trẻ, trong đó có cái đẹp về cách ứng xử, giao tiếp với ông
bà, cha mẹ, cô giáo, bạn bè và những ngời trong cộng đồng.
Vì vậy, giáo dục tình cảm thẩm mĩ cho trẻ thông qua hoạt động âm nhạc trong trờng Mầm non
làm phong phú thêm đời sống tinh thần của trẻ, giúp trẻ cảm thụ cái đẹp, tạo niềm tin cho các cháu
vui sống trong hiện tại và tơng lai.
2. Âm nhạc là phơng tiện giáo dục đạo đức
(*) Vai trò giáo dục của âm nhạc. A. Xôkhor, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1974, trang 51. Vũ Tự
Lân dịch.
4
thông minh hình tợng...
ở trẻ mẫu giáo, các hình thức t duy trực quan hành động, trực quan hình tợng và t duy trừu
tợng đợc biểu hiện trong bất kì hoạt động nào, trong đó có âm nhạc. Tiếp xúc với âm nhạc, đứa
trẻ dần dần có khả năng tổng hợp cùng với t duy lôgic. Ví dụ, khi đợc nghe các thể loại âm nhạc
khác nhau nh hát ru có tính chất êm dịu, tình cảm, nhẹ nhàng còn hành khúc có tính mạnh mẽ, trẻ
không những chỉ nêu dấu hiệu, đặc điểm, mà còn giải thích tại sao tác phẩm đó lại là hành khúc, là
hát ru. Trẻ có thể trao đổi về âm nhạc khi đH có khái niệm nhất định.
 nhạc giúp trẻ phát triển trí nhớ. Trí nhớ âm nhạc là khả năng thu nhận và ghi nhớ lại. Đặc
m
điểm của trẻ mẫu giáo là ghi nhớ âm nhạc bằng tai nghe dựa vào nhạc cảm. Trong quá trình hoạt
động học tập, trí nhớ không có khả năng nhắc lại toàn bộ ngay mà phải qua một quá trình rèn luyện.
Vì vậy khi tập hát, giáo viên nên gợi mở, giúp trẻ nhận thức và trên cơ sở ấy trí nhớ ngày càng phát
triển.
Tính tích cực và sự tập trung chú ý trong giờ học hát giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố
và phát triển trí nhớ. Khi trẻ hát là cùng một lúc phải ghi nhớ lời ca, giai điệu, tiết tấu. Trẻ yêu thích
ca hát bao nhiêu thì càng thuộc nhanh, nhớ chính xác và nhớ lâu bài hát đó bấy nhiêu. Điều này có
tác dụng rèn luyện đôi tai nhạy bén cho trẻ, đồng thời tăng cờng sự nhận thức của trẻ với thế giới
xung quanh.
Âm thanh là ngôn ngữ đặc thù của âm nhạc để tạo dựng hình tợng âm nhạc. Hình tợng âm
nhạc là loại hình tợng biểu hiện mang tính khái quát và ớc lệ cao. Chính vì điều này mà hình
tợng âm nhạc không mang tính xác định cụ thể nhng làm thức dậy ở trẻ mơ ớc và tởng tợng.
Ví dụ: Ngời lớn khuyến khích trẻ làm động tác múa minh hoạ một bài hát, trẻ sẽ suy nghĩ, tổng hợp
những chi tiết quen thuộc và chi tiết mới trong động tác. Mặt khác, trong mọi hoạt động âm nhạc, trẻ
II. đặc điểm lứa tuổi và khả năng âm nhạc của trẻ mầm non
Khả năng âm nhạc của trẻ đợc phát triển trong quá trình hoạt động tích cực. Nhiệm vụ của nhà
s phạm là hớng nó có hệ thống, có tổ chức ngay từ tuổi ấu thơ.
Trong trờng Mầm non, các nhóm trẻ đợc phân chia về độ tuổi nh sau:
ở nhà trẻ bao gồm những trẻ từ 36 tháng tuổi trở xuống:
- Trẻ từ 3 tháng đến 1 tuổi.
- Trẻ từ 1 đến 2 tuổi.
- Trẻ từ 2 đến 3 tuổi.
ở mẫu giáo gồm trẻ từ 3 đến 6 tuổi:
- Mẫu giáo bé (lớp mầm): 3 - 4 tuổi.
- Mẫu giáo nhỡ (lớp chồi): 4 - 5 tuổi.
- Mẫu giáo lớn (lớp lá): 5 - 6 tuổi.
Khái niệm "phát triển âm nhạc" đối với trẻ bao gồm các mặt:
- Tri giác âm nhạc là cảm giác tai nghe, nghe âm nhạc, cảm xúc âm nhạc.
- Kĩ năng hát, vận động theo nhạc ở mức độ đơn giản.
1. Đặc điểm lứa tuổi
a) Trẻ dới 1 tuổi
Các nhà tâm lí học cho rằng, sự nhạy cảm và nghe ở trẻ phát triển rất sớm. Theo tài liệu của Liublin-xkaia: Trẻ sơ sinh từ 10 - 12 ngày tuổi đH xuất hiện những phản ứng về âm thanh. Tháng thứ 2
có biểu hiện nghe giọng nói (hóng chuyện). Trẻ 4 - 5 tháng tuổi hớng theo nơi phát ra âm thanh.
Thí dụ: nghe tiếng xúc xắc, trẻ ngoái nhìn theo nơi phát ra âm thanh. Trẻ có biểu hiện hởng ứng với
tính chất âm thanh trong đó có âm nhạc nh lắng nghe khi có tiếng nhạc, đang khóc khi nghe ru hát
thì nín khóc... Cuối năm thứ nhất, khi nghe ngời lớn hát, trẻ bắt chớc bập bẹ theo.
b) Trẻ từ 1 - 2 tuổi
ở độ tuổi này, những bài hát vui tơi, nhộn nhịp dễ tạo cho trẻ xúc cảm, sự chú ý. Trẻ hát theo
ngời lớn câu hát đơn giản. Trẻ thích nghe hát ru, âm điệu của ngời thân, ruột thịt và thờng hởng
ứng với âm nhạc bằng những động tác đơn giản nh vẫy tay, nhún chân, vỗ tay... tuy cha hoàn toàn
6
khớp với nhịp điệu nhạc.
Lịch sử cho thấy ở lứa tuổi này, những năng khiếu âm nhạc đặc biệt xuất hiện nhiều hơn ở bất
cứ lĩnh vực nào khác. Nhiều công trình nghiên cứu sự phát triển của trẻ đH xác định rằng, tiến hành
việc giáo dục âm nhạc ở tuổi mẫu giáo sẽ thu đợc kết quả tốt. Bỏ qua giai đoạn này là một thiệt
thòi lớn cho các cháu trong các lứa tuổi sau. Đặc điểm lứa tuổi về sự phát triển âm nhạc của các
cháu giúp cho các nhà s phạm soạn bài tập, nội dung phù hợp.
2. Đặc điểm phát triển vận động của trẻ
Vận động theo nhạc nhằm giáo dục nhịp điệu cho trẻ thông qua sự vận động của cơ thể, phù hợp
với tính năng động của trẻ. ở thể loại hoạt động này, cần chú ý một số đặc điểm dẫn tới sự khác
biệt về phơng pháp đối với từng độ tuổi.
7
- Trẻ 1 tuổi: là giai đoạn tập đi, tay biết cầm, lắc, vỗ tay, hay lặp đi lặp lại một vài động tác đơn
giản bằng tay trong sự khích lệ của ngời lớn.
- Trẻ 2 - 3 tuổi: trẻ đi lại, leo trèo dễ dàng hơn, do đó có thể học đi theo nhạc nhng cha thật
khớp với nhạc, lặp đi lặp lại động tác đơn giản theo nhịp điệu nhất định (kéo ca lừa xẻ...).
- Trẻ 3 - 4 tuổi: biết làm các động tác phối hợp đơn giản, động tác đối xứng, thực hiện các bớc
chuyển động phù hợp với tính chất êm dịu hay mạnh mẽ của âm nhạc với tốc độ vừa phải; tự mình
bắt đầu, kết thúc các bớc chuyển động, ghi nhận đợc sự bắt đầu và kết thúc theo tiếng vang; nắm
đợc các bớc nhảy: nhảy thẳng, nhảy hai chân chuyển đổi nhau và nhảy một chân (tay có cầm đạo
cụ: cờ, hoa...).
- Trẻ 4 - 5 tuổi: biết chuyển động nhịp nhàng theo tính chất của điệu nhạc, thay đổi bớc
chuyển động theo điệu nhạc; từ tốc độ nhịp nhàng có thể chuyển sang tốc độ nhanh hơn hoặc thực
hiện các bớc nhảy: bớc nhảy thẳng, xoay tròn, biết xoay xung quanh bạn và nhảy vòng tròn một
mình, nhảy đổi nhiều nhóm, từ nhóm nhảy toả ra theo các hớng rồi tụ lại, nhảy có cầm đạo cụ; biết
chuyển đội hình đơn giản, làm các động tác nhảy chân sáo, đá chéo chân, cùng với ngời lớn tập
dợt các bài hát, truyền đạt các bài mẫu trò chơi.
- Trẻ 5 - 6 tuổi: biết chuyển động nhịp nhàng theo tính chất của âm nhạc, thay đổi bớc chuyển
động theo điệu nhạc; từ tốc độ nhịp nhàng có thể chuyển sang tốc độ nhanh hoặc chậm; thực hiện
giác và xúc giác... Dựa vào đặc điểm này, ngời ta có thể tiến hành phục hồi chức năng cho những
trẻ bị khiếm hoặc khuyết một chức năng nào đó, mặt khác khai thác và phát triển các chức năng
không bị khiếm khuyết một cách dễ dàng, thuận lợi hơn. Ví dụ: dạy nhạc cho những trẻ em bị mù thì
trẻ tiếp thu khá thuận lợi.
Tính hình tợng ở trẻ mẫu giáo phát triển mạnh gần nh chi phối mọi hoạt động tâm lí làm cho
các em dễ gần gũi với nghệ thuật. Hoạt động vui chơi của trẻ em gần gũi với hoạt động sáng tạo sự
vật trong tính toàn vẹn của nó chứ không tách nó ra từng mảng, từng bộ phận. Những thuộc tính cụ
thể, cảm tính sinh động của âm thanh có tác động mạnh mẽ lên giác quan và ghi dấu ấn sâu đậm
trong tâm trí trẻ.
Tính chất ớc lệ tợng trng trong cách nhìn của trẻ rất gần gũi với các loại hình nghệ thuật cổ
truyền nh chèo, tuồng... nhờ tởng tợng. ở đây, óc tởng tợng là một trong những thành phần cơ
bản trong hoạt động vui chơi của trẻ và tởng tợng là điều không thể thiếu đợc đối với nghệ sĩ. Do
quan niệm của trẻ đối với thế giới xung quanh không bị gò bó nên khi trẻ có chiếc gậy thì lúc này sử
dụng làm ngựa để phi, lúc khác làm đàn để gẩy... Vì vậy ca cảnh là thể loại khá phù hợp với trẻ mẫu
giáo.
Sự ra đời của chức năng kí hiệu tợng trng chứng tỏ trẻ đH bớc sang một loại hình mới của
việc nhận thức hiện thực: đó là nhận thức thông qua một hệ thống kí hiệu trong đó có kí hiệu âm
nhạc. Âm nhạc đợc dùng làm phơng tiện giao tiếp giữa ngời với ngời, chủ yếu là thể hiện tình
cảm, tái tạo những mặt khác nhau của hiện thực.
Sự phát triển mạnh những xúc cảm thẩm mĩ kết hợp với trí nhớ máy móc vốn có ở trẻ khiến cho
lứa tuổi này rất nhạy cảm với văn học nghệ thuật. Những nét tâm lí đặc trng của tuổi mẫu giáo là
tiền đề cho việc tiếp thu, giáo dục âm nhạc. Âm nhạc đH đem lại cho trẻ một thế giới âm thanh nhiều
màu sắc, gợi cho trẻ sự thú vị, hấp dẫn và sự hài hoà tinh tế, tạo điều kiện cho trẻ thể hiện chính bản
thân mình.
IV. Nhiệm vụ và phơng hớng giáo dục âm nhạc
Âm nhạc đợc coi là một trong những phơng tiện tạo nên sự hình thành và phát triển nhân cách
toàn diện cho trẻ. Trong chơng trình giáo dục hiện hành, âm nhạc là một môn học từ trờng Mầm
non, trờng Tiểu học, Trung học cơ sở và các trờng s phạm đào tạo giáo viên âm nhạc, do đó
mang tính hệ thống, liên tục, góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của con ngời. Trẻ
nghe hiểu âm nhạc, nắm đợc một số kĩ năng cơ bản, thờng xuyên ca hát, vận động theo nhạc
phong phú nguồn giai điệu để trẻ dễ tiếp thu. Việc sử dụng các trò chơi dân gian, hát cho trẻ nghe
dân ca càng thể hiện rõ ý thức dân tộc trong giáo dục âm nhạc.
Muốn thực hiện tốt việc giáo dục âm nhạc, giáo viên phải có khả năng, kiến thức âm nhạc, biết
biểu diễn, vì hiệu quả giáo dục ảnh hởng trực tiếp tới trẻ. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần phải biết
đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của trẻ trong mối quan hệ với âm nhạc, đặc điểm cơ quan phát âm của
trẻ... để có phơng pháp dạy thích hợp. Đặc biệt, giáo viên cần phải biết truyền đạt, biết thể hiện âm
nhạc thật hấp dẫn và phù hợp với trẻ.
V. Hệ thống các phơng pháp dạy học âm nhạc
1. Phơng pháp trực quan thính giác - Phơng pháp trình bày tác phẩm
Đây là phơng pháp đặc thù của giáo dục âm nhạc bởi vì âm nhạc chỉ có thể gợi cảm xúc tới
ngời nghe khi đợc trình diễn. Việc tổ chức cho trẻ tiếp xúc với âm nhạc nhằm mục đích gợi lên
những tâm trạng, cảm xúc, tình cảm đa dạng, gần gũi trẻ, giúp trẻ có sự liên tởng. Tác phẩm hay
rất quan trọng đồng thời cũng cần ngời trình bày tốt mới truyền cảm tới ngời nghe.
Giáo viên tuy không phải là nghệ sĩ biểu diễn nhng tiếng đàn, giọng hát chuẩn xác, diễn cảm
kết hợp động tác, điệu bộ phù hợp với trẻ mang đến cho trẻ niềm vui sớng, thán phục. Giáo viên
nghiên cứu, tìm tòi cách thể hiện sáng tạo, trình bày tác phẩm dới các hình thức khác nhau để thu
hút sự tập trung, chú ý của trẻ, lôi cuốn trẻ mong muốn đợc tự thể hiện mình.
10
Thông qua phơng pháp trình bày tác phẩm, giáo viên cho trẻ đợc tri giác chi tiết cách hát to
nhỏ; ngân ngắt; to dần ở cao trào bài hát hay nhỏ dần và chậm lại ở cuối câu...
Trong hoạt động múa vận động, phơng pháp này giúp trẻ quan sát tỉ mỉ các động tác, điệu bộ
thể hiện nội dung âm nhạc của giáo viên, từ đó trẻ bắt chớc theo.
2. Phơng pháp dùng lời (giảng giải, chỉ dẫn, đặt câu hỏi, đàm thoại)
Trong quá trình tổ chức cho trẻ hoạt động âm nhạc, giáo viên sử dụng lời nói để hớng tới ý
thức của trẻ. Đối với trẻ mầm non, cách diễn đạt mạch lạc, thong thả, cụ thể, dễ hiểu của cô giáo là
một trong những phơng tiện nhận thức đặc biệt.
Khi giới thiệu tác phẩm cho trẻ nghe hoặc bài trẻ chuẩn bị hát, cần diễn giải sinh động, gây
hứng thú tập trung để trẻ chờ đón đợc thởng thức (có thể kết hợp câu thơ, câu đố, trò chơi... liên
4. Phơng pháp sử dụng đồ dùng trực quan
Trong các hoạt động giáo dục âm nhạc nh hát, vận động - múa, nghe nhạc, trò chơi âm nhạc
đều sử dụng đồ dùng trực quan. Với trẻ mẫu giáo, đồ chơi, đồ dùng học tập là phơng tiện hữu hiệu
giúp trẻ nhận thức và thể hiện cảm xúc.
Những đồ chơi, tranh ảnh, con rối... có liên quan đến nội dung tác phẩm thờng đợc giáo viên sử
dụng minh họa trong giờ học để thu hút sự chú ý của trẻ. Trong khi học hát, trẻ gõ đệm theo bằng
phách tre, trống lắc, nhạc cụ trẻ em... sẽ tăng cờng cảm giác nhịp điệu, tạo sự hng phấn. Khi vận
động - múa, các đạo cụ , hóa trang giúp trẻ thể hiện tự tin, sinh động, hấp dẫn hơn.
Hoạt động dạy và học âm nhạc sẽ kém hiệu quả nếu không có các phơng tiện đồ dùng dạy học
nh nhạc cụ, băng, đĩa hình... Dạy trẻ hát sẽ chuẩn hơn, lôi cuốn trẻ hơn, nếu giáo viên có sử dụng
nhạc cụ. Mặt khác, trớc khi học hát nếu trẻ đợc làm quen bằng cách nghe băng, xem đĩa hình bài
sắp học sẽ tiết kiệm thời gian hơn trong quá trình học thuộc. Khi dạy hát, việc sử dụng đàn để lấy
giọng giúp trẻ hát đúng âm vực, tránh bị cao quá hoặc thấp quá. Sửa câu hát sai bằng cách cho nghe
đàn giai điệu nhiều lần giúp trẻ dần dần tự điều chỉnh tai nghe để hát cho đúng. Việc dùng bộ nhớ
của đàn phím điện tử để thu giai điệu bài hát cho trẻ nghe, bài dạy trẻ hát, bài múa-vận động... giúp
giáo viên chủ động trong giờ dạy, đỡ vất vả và giờ dạy sẽ hiệu quả hơn.
Đồ dùng trực quan có thể do giáo viên tự làm hoặc đợc trang bị. Với các nhạc cụ và phơng
tiện nghe nhìn đợc trang bị, giáo viên phải học cách sử dụng và biết sử dụng cho phù hợp, đúng
lúc, đúng chỗ tránh lạm dụng, để mọi đồ dùng trực quan có tác dụng hỗ trợ tốt trong giáo dục âm
nhạc.
Hớng dẫn tự học
Tài liệu tham khảo
1.Trần Hữu Du. Giáo dục âm nhạc trong trờng mẫu giáo. NXB Giáo dục 1983.
2. Ngô Thị Nam và cộng sự. Âm nhạc và phơng pháp giáo dục âm nhạc trong trờng mầm non.
Hà Nội 1994.
3. Vetlughina- Kenheman. Lí luận và phơng pháp giáo dục âm nhạc trong trờng mẫu giáo,
1985 (tài liệu dịch).
4: Nguyễn ánh Tuyết (chủ biên). Tâm lí học lứa tuổi mầm non, ĐHSP Hà Nội 1993.
5. Nguyễn ánh Tuyết. Giáo dục cái đẹp cho trẻ thơ. NXB Giáo dục, Hà Nội 1989.
Câu hỏi
1. Tại sao nói: "Âm nhạc góp phần hình thành và phát triển nhân cách của trẻ"?
Gợi ý:
- Nêu khái quát về đặc điểm, ngôn ngữ đặc trng của âm nhạc. Có thể so sánh cách thởng thức
của âm nhạc với một vài loại hình nghệ thuật khác: hội họa, văn học...
- Phân tích các chức năng giáo dục của âm nhạc: giáo dục thẩm mĩ, đạo đức, trí tuệ và thể chất.
Lấy ví dụ từ các hoạt động âm nhạc (nghe, hát, vận động, trò chơi) và từ nội dung tác phẩm để
chứng minh.
2. Trình bày đặc điểm khả năng âm nhạc của trẻ ở các giai đoạn
Gợi ý:
- Nêu các biểu hiện tri giác của trẻ về khả năng nghe âm thanh, các vận động, khả năng phát
âm...
- Lu ý quá trình phát triển của trẻ ở các giai đoạn để thấy sự khác biệt về nội dung, phơng
pháp giáo dục của lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo.
3. Những đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo có liên quan đến sự tiếp nhận âm nhạc?
Gợi ý:
- Tuổi mẫu giáo là giai đoạn trẻ rất nhạy cảm, dễ xúc cảm với những cảnh vật xung quanh, do
đó trẻ đến với nghệ thuật một cách tự nhiên và tác động của nghệ thuật đối với tuổi thơ rất mạnh mẽ.
- Trẻ học thông qua bắt chớc, có trí nhớ máy móc (cho ví dụ).
13
- Hệ thần kinh mềm dẻo, có khả năng bù trừ cao (cho ví dụ).
- Tính hình tợng phát triển.
- Tính chất ớc lệ tợng trng trong tri giác của trẻ gần gũi với hoạt động nghệ thuật.
- Sử dụng kí hiệu tợng trng là cơ sở giúp trẻ nhận thức âm nhạc.
Cần phân tích các đặc điểm trên trong sự liên quan với âm nhạc (cảm thụ, thể hiện).
4. Trình bày nhiệm vụ và phơng hớng giáo dục âm nhạc trong trờng mầm non?
Gợi ý:
Phơng pháp dạy các hoạt động âm nhạc
Giáo dục âm nhạc đợc thực hiện trong điều kiện có sự tiếp xúc trực tiếp của giáo viên với trẻ,
sự giúp đỡ của giáo viên trong quá trình học tập tích cực và hoạt động âm nhạc độc lập của trẻ.
Đặc điểm lứa tuổi liên quan đến mức độ phát triển âm nhạc nói chung. Từ những luận điểm chủ
yếu của lí luận Mác - Lê nin về nhận thức cho thấy: Trẻ nhận thức thế giới xung quanh qua âm nhạc
có hình ảnh và cảm xúc. Đặc trng của âm nhạc là bằng âm thanh tác động lên tri giác, gợi lên sự
đồng cảm với các hình tợng nghệ thuật. Hoạt động t duy đợc phản ánh trong lời nói của giáo
viên ảnh hởng đến ý thức, suy nghĩ, tởng tợng, sự sáng tạo của trẻ. Và hoạt động nghệ thuật âm
nhạc giúp trẻ kiểm tra các hình tợng.
Giáo dục âm nhạc đợc thực hiện bằng các phơng pháp tích cực, thể hiện rõ trong mối quan
hệ không ngừng giữa nghe, nhìn, cảm xúc, trao đổi. Vấn đề là phải đa trẻ đến với nghệ thuật, tạo
cho trẻ cảm xúc, tạo các phơng tiện giúp trẻ thực hiện nghệ thuật.
Trong khi tởng tợng, trẻ có thể nghĩ ra các động tác để nói lên cảm xúc của mình. Trẻ thấy
mình có thể diễn tả những ý nghĩ, những ớc mơ mà trẻ muốn diễn tả hoặc trao đổi. Khi đó trẻ có
hứng thú xây dựng, sáng tạo để cho trí tởng tợng của mình bay bổng và học để có thể diễn đạt
đợc tốt nhất trong khả năng của mình.
Các phơng pháp cơ bản:
- Phơng pháp trực quan thính giác (trực quan truyền cảm): là phơng pháp đặc thù của giáo
dục âm nhạc, trong đó âm nhạc gợi lên những tâm trạng, cảm xúc, tình cảm đa dạng, gần gũi trẻ.
- Phơng pháp dùng lời (giảng giải, chỉ dẫn...) hớng tới ý thức của trẻ. Đối với trẻ, lời nói cụ
thể và có hình ảnh của giáo viên là một trong những phơng tiện nhận thức đặc biệt gần gũi, dễ
hiểu.
- Phơng pháp thực hành nghệ thuật: Trẻ hát, chơi trò chơi âm nhạc, vận động (múa), sử
dụng nhạc cụ, hoạt động sáng tạo dới sự hớng dẫn của giáo viên là kết quả của giáo dục âm nhạc.
Sự phát triển trí tuệ, năng khiếu của trẻ đợc bắt nguồn từ hát múa và các cuộc thử nghiệm khác.
Những buổi thực hành làm cho trẻ nâng cao trình độ âm nhạc và phát triển trí nHo.
Trong quá trình giáo dục âm nhạc, các phơng pháp trực quan thính giác, dùng lời và thực hành
nghệ thuật quan hệ mật thiết với nhau. Sự kết hợp các phơng pháp phụ thuộc vào nhiệm vụ giáo
dục cụ thể, nội dung, mức độ khó dễ của tác phẩm âm nhạc và lứa tuổi của trẻ.
của các cháu với âm nhạc nảy sinh trực tiếp và mạnh mẽ nhng nhanh chóng biến mất, ít giữ lại ấn
tợng. Trẻ mẫu giáo nhỡ có sự tập trung chú ý hơn, ít bộc lộ cảm xúc bên ngoài nh mẫu giáo bé
nhng có biểu hiện ghi nhớ bài hát, bản nhạc đợc nghe và hay đàm thoại về nội dung lời ca của bài
hát. Trẻ mẫu giáo lớn nếu đợc nghe có quá trình có thể hình thành thói quen tập trung lắng nghe,
theo dõi sự phát triển của bài hát, hiểu đợc tính chất chung và một số đặc điểm của bài hát đợc
nghe, so sánh một số đặc điểm của bài đợc nghe với các hiện tợng gần gũi trong cuộc sống. Đặc
biệt, các cháu thể hiện rõ sự lựa chọn bài mình thích trong số các bài đợc nghe, thậm chí có cháu
giải thích tại sao cháu thích nghe bài hát đó.
* Sự phát triển của hoạt động nghe âm nhạc đối với tuổi mẫu giáo
Trẻ 3 - 4 tuổi:
Nhận biết các bài hát và bản nhạc nhỏ, nghe bản nhạc đến hết; kể lại đợc nội dung bài hát và
cảm nhận đợc tính chất thể hiện của âm nhạc.
Tiếp nhận sự đối lập về đặc trng âm thanh: to - nhỏ; cao - thấp; nhanh - chậm và các cách cảm
thụ âm nhạc.
Nhận biết tác phẩm, bài hát có cấu trúc hai phần, phân biệt đợc âm thanh của một số nhạc cụ
và thờng có mong muốn nghe nhạc.
Trẻ 4 - 5 tuổi:
Nghe nhạc một cách thích thú và lôi cuốn, biểu hiện tình cảm hởng ứng. Trẻ cảm nhận tính
đặc trng của âm nhạc và nhận biết tác phẩm theo giai điệu. Trẻ cũng phân biệt đợc âm thanh
theo độ cao và sắc thái cờng độ.
16
Trẻ 5 - 6 tuổi:
Hiểu đợc nội dung của tác phẩm âm nhạc, phân biệt khái quát tính thể loại (hành khúc, ngợi
ca, nhảy múa...); cảm nhận đợc sắc thái thể hiện trong âm nhạc, nhận biết đợc tác phẩm biểu
diễn; phân biệt đợc các âm thanh cao - thấp, dài - ngắn và âm sắc của nhạc cụ; nhận xét đợc
giọng hát đúng, giọng hát sai của bạn mình.
3. Nội dung nghe
Nghe nhạc dới hình thức chung nhất là nhạc hát và nhạc đàn (thanh nhạc và khí nhạc). Nhạc
- Trống cơm
Dân ca Quan họ Bắc Ninh
- Ma rơi
Dân ca Xá
- Anh phi công ơi
Nhạc: Xuân Giao
Lời thơ: Xuân Quỳnh
- Bài ca đi học
Nhạc và lời: Phan Trần Bảng
- Màu áo chú bộ đội
Nhạc và lời: Nguyễn Văn Tý
- Mùa xuân ơi
Nhạc và lời: Nguyễn Ngọc Thiện
- Nhạc rừng
Nhạc và lời: Hoàng Việt
Bài hát diễn tả niềm hạnh phúc cha con trong gia đình của bé. Chiều con, bố sẵn sàng làm tàu
lửa, xe hơi, làm ngựa cho con cỡi,... chơi với con để con vui. Giai điệu bài hát trong sáng, viết ở
điệu thức trởng cùng với tiết tấu nhịp nhàng, có đảo phách càng tăng thêm tính chất âm nhạc dí
dỏm, nhộn nhịp.
Âm nhạc dân gian chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của trẻ thơ. Các
bài dân ca với những nét giai điệu điển hình, lời ca mô tả sinh hoạt của ngời dân, thiên nhiên Việt
Nam. Một trong số đó là bài Hò ba lí - Dân ca Quảng Nam thể hiện nhịp điệu lao động rắn rỏi, sinh
động. Kết hợp với hát, cô giáo làm động tác mô phỏng chèo thuyền, chẻ tre, đầu chít khăn búa rìu,
áo thắt lng, quần túm ống... là hình ảnh của ngời dân lao động miền Trung sẽ rất hấp dẫn trẻ bởi
sự tiếp cận đồng bộ.
19
Hò ba lí
Dân ca Quảng Nam
Nhiều bài dân ca đợc tuyển chọn ở khắp mọi miền có giai điệu súc tích, dễ nhớ, lời ca miêu
cảnh tả thiên nhiên sinh động hoà với hình ảnh con ngời cần cù lao động là nét đẹp truyền thống
Việt Nam. Ví dụ:
20
Ma rơi
Vừa phải
Dân ca Xá
Dân ca Nam Bộ
- Địu con đi nhà trẻ
Nhạc và lời: Đào Ngọc Dung
- Ru em
Dân ca Xơ-đăng
- Hát ru
M. Blan-te
Các bài hát ru đợc các nhạc sĩ sáng tác hay những bài hát ru trong dân gian đều có nhịp độ
chậm, vừa phải. Nhiều bài ở nhịp 86 nh nhịp đa của chiếc võng ru càng làm cho giai điệu thêm
thắm thiết. Ví dụ:
22
Ru con mùa đông
Nhạc và lời: đặng hữu phúc
b) Các bài hát trữ tình
- Em mơ gặp Bác Hồ
Nhạc và lời: Xuân Giao
Lời: Tuấn Dũng
- Làng tôi
Nhạc và lời: Văn Cao
- Những cô gái Quan họ
Nhạc và lời: Phó Đức Phơng
- Lí cây bông
Dân ca Nam Bộ
- Ngày đầu tiên đi học
Nhạc: Nguyễn Ngọc Thiện
Lời: Viễn Phơng
- Việt Nam quê hơng tôi
Nhạc và lời: Đỗ Nhuận
- Cánh én tuổi thơ
Nhạc và lời: Phạm Tuyên
- Đa cơm cho mẹ đi cày
Nhạc và lời: Hàn Ngọc Bích
trong việc hình thành văn hoá âm nhạc chung.
Cần tuyển chọn tác phẩm chứa đựng tính nhân đạo, đi sâu vào thế giới tình cảm của trẻ, có hình
ảnh vừa sức (phù hợp) với trẻ em. Khó có thể quy định đợc một cách đầy đủ trong chơng trình tất
cả những bài hát hoàn toàn sát hợp với mọi miền đất nớc. Trẻ em lại ham thích điều mới lạ, vì vậy
chọn thêm bài hát cho các cháu nghe là điều đáng khuyến khích.
So với việc chọn bài để dạy các cháu hát thì bài chọn cho các cháu nghe có phạm vi rộng rãi
hơn. Khi nghe đàn hoặc một bài hát nào đó, trẻ thờng quan tâm trớc hết là bài hát kể về điều gì
và mức độ phát triển nhạc cảm, hiệu quả tri giác, trí nhớ âm nhạc dựa vào sự phù hợp của bài hát
với sở thích và năng lực cảm thụ của trẻ. Vì vậy, trừ nhạc không lời, những bài hát cho trẻ nghe
cần có nội dung phản ánh những vấn đề mà trẻ quan tâm và có thể hiểu đợc. Về nghệ thuật, cần
đạt chất lợng cao trong đó phơng tiện diễn tả âm nhạc không bị hạn chế bởi khả năng biểu diễn
của trẻ (tốc độ, âm vực).
25