1
CHƯƠNG I
TỒNG QUAN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN NGOẠI TỆ NƯỚC NGOÀI
2
• Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế được coi là một phần thu nhập mà
các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo quy định của
pháp luật.
• Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế được coi là khoản mất mát
của các doanh nghiệp hay hộ gia đình để hình thành nên qũy tiền tệ của Nhà
1.1.
LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THUẾ
1.1.1. Bản chất của thuế
Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước, do đó sự hiện
nước nhằm đáp ứng cho việc sử dụng các hàng hoá và dịch vụ công.
Dù được nhìn nhận dưới góc độ nào, có lẽ không ai có thể phủ nhận rằng thuế
là khoản đóng góp có tính chất bắt buộc cho Nhà nước, được thực hiện mà
diện của thuế trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan nhằm đảm bảo các
không đề cập đến lợi ích cụ thể của người đóng thuế. Cũng chính vì đặc điểm
nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. Các-Mác đã nói về quan hệ kinh
thân họ thì Nhà nước cũng không thể thu được thuế. Do đó, một điều kiện thứ
chi tiêu theo chức năng của Nhà nước.
hai rất quan trọng cần phải có để bảo đảm sự tồn tại của thuế đó là thu nhập xã
hội. Sự hình thành thu nhập trong xã hội chính là tiền đề cho việc động viên các
khoản thu của Nhà nước mà trong đó thuế là khoản động viên cơ bản nhất.
Tuỳ theo từng góc độ nghiên cứu mà người ta có những cách nhìn khác nhau về
thuế:
• Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị học, thuế được coi là hình thức
phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình
thành nên qũy tiền tệ của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức
năng của Nhà nước.
1.1.2. Phân loại thuế
Khi nghiên cứu lý luận, các nhà kinh tế có thể dùng nhiều tiêu thức để phân loại
thuế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu hoạch định chính sách thuế và tổ chức quản lý
thuế có hiệu quả.
1.1.2.1.
Phân loại theo tính chất kinh tế
Cách phân loại cổ điển và thường được nhắc nhiều là căn cứ vào tính chất kinh
tế, tính chất có thể chuyển dịch gánh nặng về thuế giữa người nộp thuế và
người chịu thuế. Người ta phân chia thuế thành hai loại chủ yếu, đó là thuế trực
thu và thuế gián thu.
3
Theo phương thức này, thuế được phân thành: Thuế tổng hợp và thuế chuyên
không phải nộp thuế.
dùng.
Thuộc loại thuế trực thu có thể kể đến các luật thế như: thuế Thu nhập Doanh
nghiệp, thuế Thu nhập Cá nhân, thuế Tài sản, thuế Tặng phẩm …
Thuế tổng hợp: Là loại thuế tuy được thu từ nhiều nguồn đơn lẻ khác nhau
-
nhưng được tập trung vào Ngân sách Nhà nước và được sử dụng chung cho các
Thuế gián thu :
mục đích phát triển kinh tế – xã hội có tính chất toàn quốc.
Thuế gián thu là loại thuế đánh vào việc sử dụng thu nhập của các tổ chức, cá
Thuế chuyên dùng: Là loại thuế thu từ một nguồn (hoặc một số nguồn) đơn lẻ
nhân khi tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. Thuế này do người sản
nhất định nào đó và được tập trung vào một qũy nhất định trong Ngân sách Nhà
xuất kinh doanh cung ứng hàng hoá, dịch vụ nộp cho Nhà nước, nhưng người
Hệ thống thuế bao gồm hệ thống chính sách thuế và hệ thống quản lý thuế.
Hệ thống chính sách thuế, gồm các sắc thuế được ban hành dưới các hình thức
Luật, Pháp lệnh. Mỗi sắc thuế có vai trò điều tiết riêng trong nền kinh tế, song
Phân loại theo tiêu thức này, thuế bao gồm các loại thuế sau:
chúng có mối quan hệ rất mật thiết và tác động lẫn nhau trong quá trình phát
-
Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, như: thuế Giá trị Gia tăng.
huy tác dụng điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
-
Thuế đánh vào sản phẩm đặc thù, như: thuế Tiêu thụ Đặc biệt, thuế Xuất
Tuy nhiên, hệ thống chính sách thuế dù được xây dựng một cách ưu việt, hoàn
khẩu, thuế Nhập khẩu.
chỉnh đến đâu cũng không thể phát huy tác dụng nếu không được vận hành
trong thực tiễn. Quá trình áp dụng luật thuế vào nền kinh tế đòi hỏi sự chấp
hành của các đối tượng nộp thuế (ĐTNT), mà qua đó số thuế được huy động từ
5
ngành thuế đã tiến hành hai giai đoạn cải cách thuế, nhờ đó đã hình thành được
một hệ thống chính sách thuế bao quát được hầu hết các nguồn thu, áp dụng
thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế. Hệ thống chính sách thuế đã trở
thành công cụ điều tiết vĩ mô có hiệu quả của Nhà nước. Bộ máy quản lý thuế
đã được xây dựng thống nhất, nghiệp vụ quản lý thuế từng bước được kiện toàn
theo tiến trình đổi mới và phát triển kinh tế của đất nước. Cơ chế quản lý thuế
đã có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng rõ ràng, công khai, dân chủ, minh
Tổ chức bộ máy là một khâu quan trọng trong công tác quản lý thuế (QLT), bao
bạch hơn. Các thủ tục hành chính thuế được thực hiện thống nhất trong cả nước
gồm việc xác định cơ cấu tổ chức bộ máy và phân bổ nguồn nhân lực một cách
và ngày càng được củng cố, tăng cường về mọi mặt, đảm bảo thực thi tốt và
hợp lý, nhằm xây dựng hệ thống QLT khoa học, phù hợp, đảm bảo tính thống
thống nhất các luật thuế trong cả nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của
nhất, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chức năng QLT nhằm thực thi chính
nền kinh tế thị trường, số lượng doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng, đồng thời
sách, pháp luật một cách nghiêm minh, đảm bảo thu đúng, đủ, kịp thời tiền thuế
quy mô, hình thức, cách thức hoạt động của các doanh nghiệp cũng đa dạng,
vào NSNN.
hợp lý, thực hiện đầy đủ các chức năng QLT thì bộ máy QLT sẽ phát huy được
của Việt Nam trong giai đoạn mới; đã hệ thống hoá và làm rõ được những vấn
tối đa hiệu lực của toàn bộ hệ thống chính sách thuế và hiệu quả quản lý sẽ cao.
đề cơ bản của mô hình quản lý thuế theo cơ chế TK-TN.
Ngược lại, một cơ cấu tổ chức quản lý không phù hợp sẽ kìm hãm, làm suy yếu
1.2.2.2.
Lợi ích của Luật quản lý thuế
7
Trước đây, trong mỗi luật thuế của Việt Nam (thuế thu nhập, thuế giá trị gia
8
-
Các thủ tục hành chính thuế được quy định đơn giản, rõ ràng, minh bạch
tăng ...) đều có quy định về thủ tục quản lý thuế (thẩm quyền cưỡng chế, xử
nhằm nâng cao trách nhiệm và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người nộp
phạt, quyền của ĐTNT) để áp dụng cho loại thuế đó. Do đó, hình thức qui định
thủ tục hành chính thuế rải rác nhiều ngày trong tháng, giảm chi phí tuân thủ
Về phạm vi: Luật quy định đầy đủ các nội dung của công tác quản lý thuế, có
thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu), các khoản thu khác thuộc NSNN
pháp luật về thuế cho người nộp thuế.
-
thuế để giúp người nộp thuế biết được nhiệm vụ thanh toán các khoản nghĩa
Đối tượng điều chỉnh của luật gồm:
chức cá nhân làm thủ tục về thuế thay người nộp thuế.
-
Cơ quan quản lý thuế gồm cơ quan thuế và cơ quan hải quan.
-
Công chức quản lý thuế bao gồm công chức thuế và công chức hải quan.
-
vụ với ngân sách nhà nước, tránh bị rơi vào tình trạng nợ đọng kéo dài và
Người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế, các khoản thu
thuộc NSNN theo quy định của pháp luật, tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế, tổ
Cơ quan Nhà nước, tổ chức cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện
Luật còn quy định một số quyền của người nộp thuế như: yêu cầu cơ quan
thuế hướng dẫn, giải thích về chính sách thuế, thủ tục hành chính thuế để tự
giác thực hiện nghĩa vụ thuế của mình; yêu cầu cơ quan thuế thực hiện đúng
việc miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, bồi thường thiệt hại về thuế theo quy
định của pháp luật để đảm bảo lợi ích hợp pháp của mình; yêu cầu cơ quan
thuế giữ bí mật thông tin do mình và các tổ chức, cá nhân khác cung cấp
phục vụ cho việc quản lý thuế.
Luật xác định rõ ràng hơn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn:
9
-
-
10
Nhấn mạnh chức năng tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế. Công khai minh
Các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tham gia vào công tác quản lý thuế
bạch các thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ thuế. Quy định cụ thể quy trình
thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thuế và giám sát
tiếp nhận, xử lý hồ sơ thuế theo cơ chế một cửa. Gắn trách nhiệm của công
việc tuân thủ pháp luật thuế. Bên cạnh đó, Luật còn quy định nội dung cụ thể
Nhóm 2: cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, gồm ngân
phạm của người nộp thuế.
hàng thương mại, tổ chức tín dụng, cơ quan quản lý nhà nước về nhà đất, cơ
Quy định công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở của người nộp
quan công an, cơ quan chi trả thu nhập, cơ quan quản lý thương mại …
thuế. Riêng thanh tra thuế chỉ được áp dụng đối với một số trường hợp: (1)
-
quản lý thuế trong việc cưỡng chế thu thuế, bao gồm ủy ban nhân dân cấp
doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không quá một lần; (2) khi có dấu
xã nới thực hiện cưỡng chế, lực lượng cảnh sát nhân dân, kho bạc nhà nước,
hiệu vi phạm pháp luật về thuế; (3) để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo
ngân hàng, tổ chức tín dụng, cơ quan cấp giấy đăng ký kinh doanh, giấy
yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ
phép hành nghề …
-
nhân khác thì cơ quan quản lý thuế được áp dụng biện pháp mạnh.
-
Quy định các cơ quan, tổ chức phải có trách nhiệm phối hợp với cơ quan
đối với doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh
Tài chính. Trong quá trình thanh tra thuế, phát hiện người nộp thuế có dấu
-
Trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế của các cơ quan
QUẢN LÝ THUẾ CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI
1.3.1. Thuế và chính sách thuế đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN
1.3.1.1.
Chính sách thuế áp dụng đối với doanh nghiệp có vốn ĐTNN
11
12
• Thuế giá trị gia tăng (GTGT) :
• Thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu :
o Ổn định giá cả trong nước
Do thuế xuất khẩu dẫn đến hiệu ứng là gây tổn thất cho nhà sản xuất trong
nước, đồng thời gây thiệt hại phụ trội cho nền kinh tế, nên để khuyến khích các
ngành sản xuất trong nước phát triển thì chính phủ không đánh thuế xuất khẩu.
-
Thuế nhập khẩu cũng là một loại thuế gián thu và là một yếu tố cấu thành
-
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất.
-
Thuế GTGT ở Việt Nam đang áp dụng 2 phương pháp tính thuế: khấu trừ và
chi phí của việc đưa hàng hoá vào một nước. Tuy cũng là một loại thuế tiêu
trực tiếp trên giá trị tăng thêm hoặc doanh thu.
dùng, nhưng mục tiêu của thuế nhập khẩu có phần khác với thuế GTGT ở
nên giá cả hàng hoá nhập khẩu. Thuế nhập khẩu dẫn đến kết quả là làm tăng
chỗ ngoài việc cung cấp nguồn thu thì thuế nhập khẩu còn nhằm vào việc
• Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) :
-
-
Thuế tiêu thụ đặc biệt cũng là một loại thuế gián thu nhằm điều tiết thu
nhập, hướng dẫn tiêu dùng hàng hoá.
hàng hoá lớn có thu nhập cao theo quy định của Chính phủ). Ngoài ra, đối
-
Các cá nhân, tổ chức nước ngoài đầu tư vào Việt Nam có sản xuất mặt hàng
định khác thì thực hiện theo quy định đó.
thuộc diện chịu thuế TTĐB mà tiêu thụ trên thị trường Việt Nam đều phải
Căn cứ tính thuế TNDN là thu nhập chịu thuế và thuế suất.
nộp thuế.
13
-
Đối tượng của thuế là giá tính thuế đối với hàng hoá bán ra. Giá tính thuế
Một số địa bàn, lĩnh vực đầu tư được coi là địa bàn, lĩnh vực khuyến khích đầu
của mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán thực tế ghi trên hoá đơn
tư, nếu các chủ đầu tư tiến hành đầu tư vào đó thì sẽ được hưởng những ưu đãi
và cá nhân khác định cư tại Việt Nam có thu nhập, người nước ngoài làm
-
việc tại Việt Nam có thu nhập đều phải nộp thuế thu nhập theo quy định tại
hoặc đầu tư tại địa bàn được khuyến khích đầu tư sẽ được hưởng một số điểm
pháp lệnh này.
ưu đãi liên quan đến việc sử dụng đất theo các văn bản pháp luật có liên quan.
Nhà đầu tư đầu tư vào các dự án thuộc các lĩnh vực khuyến khích đầu tư
Đối tượng của thuế là thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường
Chính phủ ban hành khung giá thuê đất chung, ổn định và rõ ràng cho các dự án
xuyên của từng cá nhân.
có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các mức giá áp dụng với đất đô thị, đất của
Chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
các xã tiếp giáp đô thị, đất các vùng còn lại (QĐ số 189/2000/QĐ-BTC ngày
• Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN):
24/11/2000 của Bộ Tài chính). Những ưu đãi về giá tiền thuê đất được quy định
• Một số ưu đãi tài chính khác
15
Ngoài những ưu đãi trong nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam kể
16
-
trên, dự án có vốn ĐTNN còn nhận được một số ưu đãi khác liên quan đến vấn
đề về chuyển lỗ kinh doanh, khấu hao tài sản.
Đơn giản, rõ ràng, giảm thiểu các bước luân chuyển xử lý công việc nếu
không cần thiết hoặc kém hiệu quả;
-
Phân định rõ trách nhiệm của các bộ phận trong cơ quan thuế, tránh chồng
Trong quá trình hoạt động, nhà đầu tư sau khi đã quyết toán thuế đối với cơ
chéo. Mỗi một bước trong quy trình chỉ do một bộ phận thực hiện và chịu
quan thuế mà bị lỗ thì được chuyển lỗ sang những năm sau; số lỗ này được trừ
trách nhiệm;
vào thu nhập chịu thuế TNDN. Tuy nhiên, việc chuyển lỗ này không được thực
-
Phải thể hiện kỹ thuật quản lý thuế theo rủi ro;
-
Phải có sự hỗ trợ cao của tin học;
-
Phải được hướng dẫn đầy đủ đến từng cán bộ thuế theo chức năng, nhiệm vụ
cũng đã dành những ưu đãi nhất định cho các dự án có vốn ĐTNN nhằm mang
được phân công theo nội dung nghiệp vụ được quy định và với sự trợ giúp
lại lợi ích cho các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án đầu tư ở Việt
của các sổ tay nghiệp vụ.
Nam.
1.3.2. Đặc trưng và những yêu cầu cơ bản của quy trình quản lý thuế
1.3.3. Nội dung của quy trình Quản lý thuế
Quy trình quản lý thuế được xây dựng bao gồm một hệ thống các quy trình theo
Nhằm mục tiêu xây dựng một hệ thống quy trình thực hiện các nghiệp vụ quản
từng chức năng quản lý thuế, trong mỗi quy trình đó, có thể có các quy trình
-
o Xây dựng các tài liệu, ấn phẩm tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT;
-
-
o Đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác hỗ trợ ĐTNT.
o Thu thập thông tin ĐTNT;
Hệ thống quy trình đăng ký thuế nhằm thực hiện các nhiệm vụ sau:
o Phân tích thông tin ĐTNT dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro;
o Đăng ký và cấp mã số thuế;
o Lựa chọn ĐTNT phải thanh tra;
o Quản lý mã số thay đổi của ĐTNT;
o Phân tích hồ sơ thanh tra;
o Xác định và xử lý vi phạm về đăng ký thuế.
o Thực hiện kiểm tra tại cơ quan thuế;
Hệ thống quy trình xử lý kê khai, nộp thuế và kế toán thuế nhằm thực hiện
vụ:
o Đánh giá kết quả công tác xử lý tờ khai thuế, hoàn thuế;
o Tiếp nhận yêu cầu của ĐTNT;
o Đánh giá kết quả công tác hoàn thuế.
o Thẩm tra hồ sơ, vụ việc;
Hệ thống quy trình thu nợ và cưỡng chế thuế nhằm thực hiện các nhiệm vụ:
o Thu thập bằng chứng;
o Xác định các khoản nợ phải thu;
o Ra quyết định xử lý kết quả khiếu nại của ĐTNT;
o Rà soát các khoản nợ, đánh giá mức độ ưu tiên thu nợ thuế dựa trên kỹ
o Quy trình đánh giá kết quả công tác giải quyết khiếu nại về thuế.
thuật quản lý rủi ro đối với từng khoản nợ;
o Lập kế hoạch và phân công thu nợ thuế;
o Thu thập thông tin liên quan đến khảon nợ của ĐTNT. Lập hồ sơ ĐTNT
nợ thuế;
o Thực hiện các biện pháp thu nợ thuế;
o Thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế;
o Đánh giá kết quả công tác thu nợ và cưỡng chế thuế.
-
dựng hệ thống thông tin về ĐTNT;
tra được lập kế hoạch và đặt mục tiêu đúng đắn, áp dụng các kỹ thuật thanh tra
tiên tiến, công nghệ thông tin hỗ trợ một cách hiệu quả trong hoạt động của hệ
thống quản lý thuế và được hiện đại không ngừng … Do vậy, cải cách quản lý
thuế tại các nước này chủ yếu nhằm duy trì mức độ tuân thủ cao, cố gắng giảm
chi phí quản lý thuế và chi phí tuân thủ của ĐTNT, đồng thời không ngừng áp
dụng các thành tựu mới của công nghệ thông tin vào quản lý thuế (ví dụ: việc
mở rộng đối tượng đăng ký, kê khai thuế điện tử).
Giám sát việc tuân thủ: duy trì các tài khoản vãng lai của ĐTNT và xây
-
Ngăn chặn việc không tuân thủ: xây dựng hệ thống thanh tra có hiệu quả và
hệ thống xử phạt công bằng, nghiêm minh.
1.4.2. Phân loại các ĐTNT để thực hiện các biện pháp quản lý khác nhau
Một cách tiếp cận quan trọng trong quản lý thuế từ các cuộc cải cách thuế thành
công là: quy mô ĐTNT khác nhau cần có những chế độ quản lý khác nhau. Các
ĐTNT thuộc các nhóm hoặc bộ phận dân cư khác nhau thường có các đặc điểm
Đối với các nước đang phát triển, nhìn chung, hệ thống quản lý thuế tương đối
khác nhau (có cơ hội và lý do khác nhau, có nhu cầu và mong muốn khác nhau)
không hiệu quả, ý thức tuân thủ của người dân chưa cao và chưa có nguồn lực
tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân trong việc tuân thủ nhằm tối đa hoá
số thuế thu được với nguồn lực có sẵn.
nhất của bất kỳ ngành thuế nào đó là khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện của
Để đạt được điều đó, cơ quan thuế phân chia ĐTNT thành các nhóm đối tượng
ĐTNT. Bất kỳ hệ thống quản lý thuế nào cũng dựa trên nền tảng là ý thức tuân
theo ngành nghề, quy mô hoạt động kinh doanh, từ đó tổ chức bộ máy quản lý
thủ tự nguyện của đối tượng nộp thuế và mục tiêu của cải cách thuế trước hết là
thuế cho phù hợp, như phân chia thành: (1) doanh nghiệp lớn; (2) doanh nghiệp
tăng cường mức độ tuân thủ tự nguyện này. Để nâng cao sự tuân thủ tự nguyện,
vừa và nhỏ; (3) cá nhân, hộ gia đình; (4) ĐTNT khác. Trong từng bộ phận
cơ quan thuế tập trung chủ yếu vào ba nhiệm vụ quản lý chính của ngành thuế
ĐTNT này có thể chia ra thành các nhóm nhỏ hơn như theo ngành nghề…
gồm:
1.4.3. Áp dụng kỹ thuật quản lý thuế theo rủi ro
21
các sắc thuế được ban hành nhiều hơn, thì các bộ phận quản lý trong cơ quan
thuế ngày càng mở rộng. Số ĐTNT ngày một gia tăng, mỗi ĐTNT lại nộp nhiều
loại thuế khác nhau, do đó, ĐTNT phải làm việc với nhiều bộ phận trong cơ
quan thuế, dẫn đến sự trùng lắp và không hiệu quả giữa các chức năng ở các bộ
phận quản lý theo các sắc thuế này; sự trùng lắp làm hệ thống tin học cũng
không thể phát huy chức năng hỗ trợ công tác quản lý thuế. Do đó, các nước
chuyển sang mô hình tổ chức quản lý theo chức năng (theo các chức năng cơ
Sử dụng nhiều cách khác nhau, cơ quan thuế đã xây dựng được các kỹ thuật xác
bản là tuyên truyền hỗ trợ, xử lý tờ khai và kế toán thuế, quản lý thu nợ và
định mục tiêu cho biết khả năng không tuân thủ, thường là có liên quan đến
thanh tra, kiểm tra thuế), từ đó, từng bộ phận chức năng có điều kiện tập trung
việc đối chiếu các số liệu. Các kỹ thuật này gồm việc đối chiếu các số liệu kê
về những vấn đề tuân thủ của ĐTNT để có biện pháp quản lý thuế tốt hơn.
khai của ĐTNT với:
-
Đến giữa thập niên 80, đầu thập niên 90, một số nước phát triển như Hoa kỳ,
Số liệu trên mẫu tờ khai với số liệu bên ngoài (số liệu về tiền lãi, danh sách
New Zealand, Úc, … đã phát triển từ mô hình quản lý theo chức năng lên mô
khách hàng …);
tạo lại về cả kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng phục vụ. Cơ quan thuế
mô hình tuân thủ được hầu hết các nước sử dụng, các mức độ tuân thủ của
đặc biệt coi trọng việc đào tạo các kỹ năng ứng xử, giao tiếp có văn hoá, lịch sự
ĐTNT như sau: tuân thủ tốt (phần lớn các ĐTNT), tuân thủ nhưng đôi khi vẫn
để cung cấp các dịch vụ có chất lượng cho người dân, nhằm thay đổi mối quan
23
24
hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với dân theo phương hướng phục vụ, tạo
Phương thức quản lý tự tính - tự khai - tự nộp thuế ( Self-assessment) có thể sẽ
mọi thuận lợi cho người nộp thuế. Các hành vi ứng xử của nhân viên thuế với
được phát triển lên một tầm mức mới với phương thức tự phục vụ hay tự hỗ trợ
người dân được xây dựng thành chuẩn mực đạo đức của công chức ngành thuế
(Self-helped, self-assisted), trong đó ĐTNT tự tiếp cận tất cả các thông tin và
(Nhật Bản).Việc ứng xử, giao tiếp lịch thiệp, niềm nở, nhã nhặn, tận tình của
các phương tiện để thực hiện nghĩa vụ thuế với sự hỗ trợ đến mức cao nhất của
đầu về quản lý thuế đã tiếp tục điều chỉnh tồ chức và quy trình, ứng dụng mạnh
mẽ các tiến bộ của công nghệ thông tin để đáp ứng các thách thức do số lượng
ĐTNT tăng lên trong khu vực dịch vụ, thương mại điện tử …
25
26
Tóm tắt chương 1
CHƯƠNG 2
Chương 1 trình bày cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu cơng tác quản lý thuế đối
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁC
với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN tại Việt Nam, bao gồm một số khái niệm
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
liên quan đến thuế, lý thuyết về đầu tư nước ngồi, cơ chế quản lý thuế thuế đối
NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
với cơng tác quản lý thuế các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp có
vốn ĐTNN nói riêng.
Quản lý thuế cần được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn của một hệ thống quản lý
quản lý thuế hiện đại, đáp ứng được việc thực hiện các mục tiêu chiến lược của
quốc gia trong từng thời kỳ. Theo đó, hệ thống quản lý thế cần đáp ứng các tiêu
ký so với cùng kỳ, vốn đăng ký bình qn 2,2 tỷ đồng/doanh nghiệp, ngành
nghề đăng ký chủ yếu là thương mại dịch vụ (chiếm trên 70%), cơng nghiệp
(15%), còn lại là các doanh nghiệp khác. Ngồi ra, có 19.833 doanh nghiệp thay
đổi nội dung đăng ký kinh doanh; 819 doanh nghiệp và 944 chi nhánh, văn
phòng đại diện giải thể; thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của 43
doanh nghiệp.
-
Đầu tư trực tiếp của nước ngồi tăng cao, tổng vốn đầu tư kể cả tăng vốn là
2.234 tỷ USD, tăng gấp 2,32 lần về vốn đầu tư so với cùng kỳ, cao nhất trong
vòng 10 năm gần đây, trong đó có nhiều dự án đầu tư vào lĩnh vực cơng nghệ
cao như dự án đầu tư xây dựng nhà máy Mega của tập đồn Intel với tổng vốn
đầu tư sau khi điều chỉnh là 1,04 tỷ USD. Có 251 dự án được cấp phép với tổng
vốn 1.520 tỷ USD, tăng gấp 2,5 lần về vốn đầu tư so với cùng kỳ. Ngồi ra, có
27
28
117 dự án tăng vốn với vốn điều chỉnh tăng 713,2 triệu USD, tăng 2,1 lần về
STT
CHỈ TIÊU
vốn đầu tư so với cùng kỳ.
-
(%)
3.100
Tỷ
trọng
5
6
- NSTƯ
325
1,7
500
1,2
3.500
4.518
22,9
5.000
12,2
45.451.950
18,8
6.999.311
17,34
7.440.782
2
DNNN địa phương
3.338.634
9,1
3.647.589
9,03
4.408.917
8,2
3
DN có vốn ĐTNN
2.220.565
2.475.547
3.885.464
558
758
- Thuế tai nguyên
- Thuế chuyển LN
18.200
163.636
3.014
4.510
53.723
98.339
51.405
- Thuế mơn bài
3.919
21.700
- NSĐP
THỰC
HIỆN
DNNN Trung ương
Tổng 5 năm
(Tỷ đồng)
7,6
NĂM 2007
THỰC
HIỆN
1
Trong đó:
2. Vốn doanh nghiệp
Nhà nước
NĂM 2006
Tỷ
trọng
9,8
28.000
5
Thuế CTN (NQD)
5.610.972
15,3
7.276.373
18,02
10.336.103
19,22
4. Vốn doanh nghiệp
ngoài quốc doanh
2.574
13,1
5.000
12,2
4.940
15,3
25,1
15.440
6.000
556
2,8
2.460
19.701
100
41.000
37,6
14,6
6
1.878
1.132
1.442
439.248
12
Phí xăng dầu
937.580
853.558
877.045
13
Lệ phí trước bạ
808.509
893.322
1.661.304
14
Thu phí - lệ phí
593.788
760.121
4,64
4.382.921
8,1
Thu phí - lệ phí
Bảng 2.2 : TÌNH HÌNH THỰC HIỆN THU NGÂN SÁCH TỪ 2005 – 2007
15
Thu tiền bán nhà
279.233
715.203
728.967
16
Thu khác ngân sách
519.392
1.179.269
2.240.250
29
30
Kết quả thực hiện:
Thu nội địa không tính dầu thô thực hiện được 46.958 tỷ đồng, đạt 114,34% dự
• Năm 2005:
toán pháp lệnh, tăng 38,22% so với thực hiện năm 2006.
Trong đó, thu từ DN có vốn ĐTNN: Tổng thu đạt 9.514 tỷ đồng, đạt 90,40%
Thực hiện Quyết định số 86/2004/QĐ-BTC của Bộ Tài Chính, Cục Thuế đã
dự toán pháp lệnh và tăng 39,58% so với thực hiện năm 2005. Chiếm tỷ trọng
nhận dự toán pháp lệnh là 33.814 tỷ đồng. Tổng thu năm 2005 thực hiện được
17,9% trong tổng thu ngân sách. Tốc độ tăng thu từ khu vực này giảm so với
36.606 tỷ đồng, đạt 108,26% dự toán pháp lệnh và tăng 13,89% so với thực
năm 2006, nhưng lại có tốc độ tăng cao hơn các khu vực khác thể hiện ở tỷ
hiện năm 2004.
trọng ngày càng tăng của khu vực ĐTNN.
ngày 18/6/2007 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, quản lý hồ sơ của khu
năm 2005.
vực các Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp thuộc KCN-
Thu nội địa không tính dầu thô thực hiện được 33.971 tỷ đồng, đạt 95,78% dự
KCX.
Phòng Kiểm tra Thuế số 2 được thành lập theo Quyết định 728/QĐ-TCT
toán pháp lệnh, tăng 12,04% so với thực hiện năm 2005.
-
Trong đó, thu từ DN có vốn ĐTNN: Tổng thu đạt 6.816 tỷ đồng, đạt 76,43%
chịu trách nhiệm thực hiện dự toán thu đối với người nộp thuế thuộc khu vực
dự toán pháp lệnh và tăng 10,11% so với thực hiện năm 2005.Chiếm tỷ trọng
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp hoạt động trong các
Giúp Cục trưởng Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh kiểm tra, giám sát kê khai;
16,89% trong tổng thu ngân sách. Tốc độ tăng thu từ khu vực này giảm so với
KCN-KCX trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ( chức năng cụ thể được quy
• Trưởng phòng phụ trách chung và nhiệm vụ cụ thể theo QĐ 728
• Văn hoá: 100% tốt nghiệp phổ thông trung học
• Bộ phận Tổng hợp:
• Chuyên môn, nghiệp vụ:
o Báo cáo tổng hợp
o Đại học và trên đại học: 50 (97%)
o Đối chiếu xác minh hoá đơn
o Trung cấp, cao đẳng: 2 người (3%)
o Văn thư hành chính
2.2.2.2.
o Thư viện lưu hồ sơ.
Tình hình thu ngân sách của khối ĐTNN :
Hiện nay, phòng Kiểm tra Thuế số 2 đang quản lý hồ sơ gần 3.500 doanh
nghiệp, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 2.900 doanh nghiệp và
o Học Tập.
600 doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
THỰC
HIỆN
3
NĂM 2005
THỰC
HIỆN
4
5.122.697
NĂM 2006
SO
SÁNH
5
6.190.010
120,83
THỰC
HIỆN
6
NĂM 2007
SO
SÁNH
104,51
3.145.589
144,66
2
- Thuế TTĐB
1.436.407
1.818.189
126,57
2.054.268
112,98
2.258.991
109,96
o Nợ thuế
3
- Thuế TNDN
114,9
o Nhiệm vụ cụ thể theo QĐ 728.
5
- Thu từ khí thiên nhiên
o Tăng, giảm đối tượng quản lý
• Bộ phận Kiểm tra trước hoàn thuế
o Kiểm tra trước hoàn thuế
6
- Thuế chuyển LN
7
- Thuê M.Đ, M nước
8
9
163.636
3.069
3.014
98,2
107,14
- Thu khác
1.358
9.536
702,2
4.784
50,16
3.693
77,19
o Hoàn thuế, xử lý hoàn thuế
o Xác nhận xét, xoá mã số thuế.
o Nhiệm vụ cụ thể theo QĐ 728.
Trình độ công chức:
149,63
Nguồn: Cục thuế TP.HCM
2.2.3. Thực trạng Quản lý thuế đối với các Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài tại Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.3.1.
Hoạt động kinh doanh của các Tập đoàn xuyên quốc gia thường rất phức
tạp, đa ngành nghề.
-
Các doanh nghiệp ĐTNN sang Việt Nam đầu tư chỉ quan tâm và vì một mục
đích duy nhất đó là lợi nhuận.
-
Các hình thức trốn thuế, gian lận về thuế của đối tượng này thường rất tinh
vi, khó phát hiện thông qua chuyển giá, giao dịch thương mại điện tử ...
Tóm lại, doanh nghiệp có vốn ĐTNN có nhiều đặc điểm khác biệt so với doanh
nghiệp trong nước nên đã và đang đặt ra những yêu cầu quản lý thuế hết sức
phức tạp.
2.2.3.2.
Trước khi có Luật Quản lý Thuế
• Cơ chế Quản lý Thuế:
Thực hiện quản lý thuế theo cơ chế chuyên quản. Nhìn chung cơ chế quản lý
34
Điều này đã dẫn đến hậu quả là:
-
Giảm nhẹ nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế.
-
Ứng dụng công nghệ tin học trong việc quản lý thuế còn ở mức thấp, mới
tập trung chủ yếu vào công việc quản lý về đăng ký thuế, cấp mã số thuế, quản
lý biên lai, ấn chỉ. Đại bộ phận công việc quản lý thuế vẫn là thủ công, năng
thuế chưa được xây dựng trên cơ sở đề cao tính chủ động, nghĩa vụ, trách
suất, hiệu quả quản lý thuế còn thấp dẫn đến hạn chế khả năng kiểm soát và
nhiệm của các tổ chức, cá nhân phải tự tính, tự khai, tự nộp thuế vào Ngân sách
quản lý thuế của cơ quan thuế.
Nhà nước, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Điều này biểu hiện:
-
Làm thay các chức năng thuộc trách nhiệm của người nộp thuế như: tính
toán xác định mức thuế để ra thông báo thuế, xác định mức miễn, giảm thuế …
-
Một bộ phận cán bộ quản lý thuế trình độ hiểu biết và thực thi về chính sách
thuế còn hạn chế chưa đáp ứng yêu cầu quản lý hiện đại và yêu cầu cải cách
hành chính trong quản lý thu. Thái độ và phong cách ứng xử của cán bộ thuế
các Luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ
-
Một số doanh nghiệp cố ý tìm mọi thủ đoạn, dưới mọi hình thức gian lận
khai thuế và nộp thuế đúng thời hạn. Cơ quan thuế không can thiệp vào việc
các khoản tiền thuế phải nộp như kê khai khống để chiếm đoạt tiền hoàn thuế
thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế nếu người nộp thuế tự giác tuân thủ
GTGT từ NSNN.
• Đối với các cơ quan chức năng và tổ chức có liên quan:
nghĩa vụ. Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để
người nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát
chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của người nộp thuế và thông qua công tác
Một số chính quyền địa phương chưa có sự quan tâm đúng mức và chưa thực sự
kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian
coi công tác thuế là nhiệm vụ của địa phương mình. Các cơ quan chức năng,
lận, trốn thuế của người nộp thuế.
các tổ chức, cá nhân có liên quan ở từng nơi, từng lúc thiếu sự phối hợp chặt
o
đem lại nhiều thuận lợi cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế trong việc thực
Người dân phải có được hiểu biết cơ bản về nghĩa vụ thuế, ĐTNT có ý thức
tuân thủ nghĩa vụ thuế, cộng đồng xã hội lên án những hành vi gian lận, trốn
hội nhập kinh tế quốc tế.
2.2.3.3.
Các điều kiện để thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế hiệu quả:
-
Chính sách thuế phải rõ ràng, dễ hiểu và dễ thực hiện như: thuế giá trị gia
hiện nghĩa vụ và trách nhiệm với NSNN. Một trong những nội dung cơ bản của
tăng (GTGT), Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) …, các quy định về kê
Luật quản lý thuế là việc chính thức áp dụng cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế
khai, nộp thuế thuận lợi, phù hợp với điều kiện kinh doanh của ĐTNT.
37
-
-
Bộ máy quản lý thuế ở cơ quan thuế các cấp phải tổ chức tập trung theo các
đủ điều kiện về cưỡng chế thuế để phát hiện và xử lý ngiêm, kịp thời những
thông tin, giữ liệu nhanh chóng, tạo thuận lợi cho công tác quản lý thuế giữa
trường hợp gian lận, trốn thuế, chây ỳ nợ thuế, thu hồi đủ số tiền thuế cho
cục thuế và các chi cục thuế, tiết kiệm nhiều chi phí so với trước đây. Các ứng
NSNN và đảm bảo sự công bằng trong quản lý thuế.
dụng hỗ trợ người nộp thuế, kê khai thuế theo công nghệ mã vạch hai chiều,
ứng dụng tra cứu thông tin về nghĩa vụ thuế và kiểm soát xử lý thủ tục hành
-
Hệ thống giải quyết khiếu nại hoạt động hiệu quả.
-
Quản lý thuế phải dựa trên kỹ thuật quản lý hiện đại - kỹ thuật quản lý rủi
rộng khắp. Nhờ đẩy mạnh phát triển ứng dụng công nghệ thông tin vào các
ro, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả quản lý thông qua việc tập trung phân bổ
khâu quản lý thuế, cho nên chất lượng phục vụ người nộp thuế được nâng cao,
nguồn lực quản lý đối với các ĐTNT không tuân thủ nghĩa vụ thuế gây rủi
-
lợi để nâng cao hiệu quả công tác thuế của Đảng và Nhà nước. Luật Quản lý
Khi trách nhiệm kê khai nộp thuế được trao hoàn toàn cho người nộp thuế thì
mặc dù khối lượng công việc sự vụ của cơ quan thuế giảm đi đáng kể nhưng
chất lượng quản lý lại đòi hỏi cao hơn, theo đó hệ thống cơ quan thuế từ trung
ương tới địa phương phải xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin đầy đủ, chính xác về
người nộp thuế, từ đó làm nền tảng để triển khai các kỹ năng mới như kiểm tra,
thanh tra, quản lý kê khai, nợ thuế, quản lý rủi ro … Chính những chuyển đổi
Qua thực hiện, bước đầu cho thấy tổ chức quản lý thuế theo chức năng tạo
cơ bản về chất đã tạo điều kiện để ngành thuế kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng
điều kiện thuận lợi cho việc chuyên môn hoá, tránh được sự trùng lắp,
cao năng lực cho CBCC.
chồng chéo, nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý.
Việc thực hiện quản lý thuế theo phương pháp truyền thống với ba bộ phận độc
lập đã tồn tại trong một thời gian khá dài nên không phủ nhận nó đã in sâu vào
39
40
nếp nghĩ của nhiều thế hệ CBCC thuế. Bởi vậy để chuyển đổi sang một phương
trình quản lý thuế trên máy tính cũng như các phần mềm hỗ trợ khác chưa bắt
quy định về kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế; các thủ tục về hành chính thuế
nhịp kịp thời với sự thay đổi của chính sách thuế gây khó khăn trong quản lý.
... được quy định tập trung thống nhất theo hướng rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ
Bên cạnh đó, công tác thu thập thông tin từ người nộp thuế, từ các tổ chức, cá
thực hiện, thời gian giải quyết từng hồ sơ, vụ việc được quy định cụ thể, và đặc
nhân có liên quan chưa thực hiện được tốt nên thiếu căn cứ để xem xét tính
biệt là áp dụng nguyên tắc tự tính, tự khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm trước
trung thực, chính xác việc kê khai thuế, do đó chưa phát hiện kịp thời các khoản
pháp luật, bên cạnh sự hướng dẫn, giải đáp, tư vấn của cơ quan thuế.
trốn thuế, các hành vi gian lận về thuế. Đối với công tác thanh tra, kiểm tra, quy
Từ những thuận lợi trên, người nộp thuế đã giải phóng khỏi những thủ tục
định thành lập đoàn thanh tra tại Thông tư 60/2007/TT-BTC ngày 14/6/2007
trong quá trình kê khai, nộp thuế để tập trung mọi nguồn lực vào việc phát triển
của Bộ Tài chính trên thực tế đã gây ra khó khăn khi ngành thuế, nhất là cấp cơ
quan thuế đã cân bằng được chức năng quản lý và chức năng cung cấp dịch vụ
để nâng cao ý thức tự giác của các bên liên quan trong việc thực hiện nghĩa vụ
Tình hình nộp tờ khai: Luật Quản lý thuế đã tạo hành lang pháp lý rõ ràng
công cho người nộp thuế, để họ cảm nhận không phải là đối tượng bị quản lý
với NSNN. Tuy nhiên, trong thời gian đầu thực hiện vẫn còn tình trạng nộp tờ
mà là một đối tác, là khách hàng của cơ quan thuế, chỉ bị áp dụng các chế tài
khai chậm do cơ sở kinh doanh chưa kịp thích ứng với những quy định mới như
khi cố ý làm trái các quy định của pháp luật về thuế. Đây là một bước tiến thể
mẫu tờ khai thay đổi, địa điểm nộp tờ khai mới, thời hạn kê khai mới. Qua một
hiện sự dân chủ trong công tác quản lý thuế.
năm đầu triển khai Luật, tỷ lệ số tờ khai thuế được nộp đúng hạn đạt trên 90%,
• Về phía đối tượng nộp thuế:
số tờ khai lỗi số học giảm hẳn, chỉ còn khoảng từ 5-6%.
41
chặn kịp thời.
Đối với các hành vi lách luật, tránh thuế của ĐTNT, cơ quan thuế phải có biện
pháp hiệu quả để ngăn chặn các hành vi này. Nguyên nhân của tình trạng tránh
thuế là do luật thuế quy định phức tạp, không rõ ràng, quy định của Luật thuế
có thể có cách hiểu khác nhau …
Cùng với hiện tượng lách luật, tránh thuế, các hành vi gian lận về thuế của các
ĐTNT ngày càng tinh vi khi quá trình hội nhập kinh tế càng sâu rộng. Cơ quan
Thuế không thể bao quát hết các hành vi gian lận này, chủ yếu phát hiện trong
quá trình thanh tra thuế. Các hành vi gian lận thuế thường gặp là:
-
ĐTNT không khai báo hoạt động kinh doanh của mình, vì vậy, cơ quan
thuế không biết sự tồn tại của ĐTNT.
cơ quan chi trả lương hưu, cơ quan chi trả các khoản bảo hiểm phải khai báo bắt
buộc các khoản thu nhập mình đã chi trả, thanh toán …; Chính nhờ cơ chế cung
cấp thông tin bắt buộc từ bên thứ 3 mà cơ quan thuế quản lý hiệu quả hoạt động
kinh doanh của các ĐTNT, ngăn chặn các trường hợp gian lận kinh doanh
không khai báo.
-
Giảm cơ sở tính thuế: Luật thuế thu nhập đưa ra các ngưỡng tính thuế,
các trường hợp chiết trừ gia cảnh đối với người nộp thuế. Vì vậy, các ĐTNT
đã lợi dụng các quy định này để trốn thuế bằng việc chia nhỏ cơ sở tính thuế,
che dấu cơ sở tính thuế …
Để đối phó với hành vi gian lận này, cơ quan thuế ngoài việc dựa vào nguồn
thông tin về hoạt động kinh doanh của ĐTNT do bên thứ ba cung cấp, cơ quan
thuế phải cải cách nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra thuế; thực
vượt mục tiêu đề ra.
đó làm giảm thiểu số thuế phải nộp. Bù vào đó, họ sẽ định chi phí đầu vào thấp
-
ở những nước có thuế suất thấp hơn để tăng lợi nhuận.
thành phần kinh tế trong nước; thu hẹp chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa doanh
Những gian lận này mang tính chất quốc tế, vì vậy để phòng chống những gian
nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài … tạo môi
lận này một cách hiệu quả cần có sự phối hợp quốc tế về thuế, hải quan giữa
trường cạnh tranh bình đẳng trong cơ chế thị trường.
Hệ thống chính sách thuế đã xoá bỏ sự chênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa các
các nước…
-
-
nghiệm … ứng dụng chính sách thuế tiên tiến và quản lý thuế hiện đại của
Những hành vi gian lận thuế thông qua việc sử dụng công nghệ cao trong
2.3.1. Những kết quả đạt được
2.3.1.1.
-
Về Chính sách thuế
Hình thành một hệ thống chính sách thuế bao quát được hầu hết các nguồn
thu, áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế và từng bước thích ứng
với yêu cầu chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN.
-
Hệ thống chính sách thuế đã trở thành công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước
đối với nền kinh tế góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, khuyến
sống không bị đánh thuế trùng lắp, thực sự được hưởng chính sách ưu đãi thuế
của Việt Nam, tạo môi trường thuận lợi khuyến khích đầu tư nước ngoài vào
Việt Nam; thu hút các nhà nghiên cứu, các giáo sư, các chuyên gia nước ngoài
đầu tư chất xám vào Việt Nam.
-
Hệ thống chính sách thuế từng bước tiến tới đơn giản, rõ ràng, tạo điều kiện
giảm chi phí hành chính thuế cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế.
2.3.1.2.
Về Quản lý thuế
khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước, thúc đẩy
hội Đảng toàn quốc đề ra. Hơn 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng thuế và phí bình
và tin cậy cho ĐTNT, trong khi thực hiện nghĩa vụ của mình. Đó là các quyền
quân mỗi năm trên 10%. Đặc biệt, trong năm năm 2001 - 2005 đạt 780 ngàn tỷ
như: được hướng dẫn thực hiện pháp luật thuế, cung cấp thông tin, tài liệu liên
đồng, tăng gấp đôi so với năm năm 1996 - 2000. Tỷ lệ thuế và phí trong tổng
quan; yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích việc tính thuế, ấn định thuế, yêu
thu NSNN từ 76,8% năm 1990 đã được nâng lên 95,7% năm 2007.
cầu cơ quan có thẩm quyền giám định chất lượng, chủng loại hàng hoá xuất,
Thực hiện chiến lược cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 đã được Bộ chính trị
nhập khẩu; yêu cầu cơ quan quản lý thuế giữ bí mật thông tin. Đặc biệt, Luật
phê duyệt, cùng với việc hoàn thiện và xây dựng mới các luật về chính sách
Quản lý Thuế quy định ĐTNT có thể thuê các tổ chức dịch vụ làm thủ tục về
thuế, dự án luật quản lý thuế đã được xây dựng nhằm khắc phục các hạn chế
thuế (đại lý thuế). Đây là điều đảm bảo sự thuận lợi lớn cho ĐTNT, tránh phiền
trong công tác quản lý thuế, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
vào việc hoà thành và hoàn thành vượt mức dự toán thu ngân sách Nhà nước
nhiều cách khác nhau, như: trực tiếp nộp tiền mặt, chuyển khoản qua ngân
hàng năm đã được Quốc hội thông qua.
hàng, tổ tức tín dụng hoặc nộp qua đại lý thuế.
-
-
Đề cao trách nhiệm và tính chủ động của ĐTNT
Quản lý thuế theo phương pháp hiện đại
Cơ chế tự khai, tự nộp, đã đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp thuế
Các quy định về kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình chấp hành Luật Thuế
trước pháp luật; cơ quan thuế tăng cường được chức năng tuyên truyền, giáo
cũng được quy định theo từng cấp độ tuân thủ của ĐTNT. Chức năng quan
dục, hướng dẫn, đôn đốc thu nộp, kiểm tra, thanh tra xử lý vi phạm về thuế.
trọng nhất của cơ quan quản lý thuế là kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật
Thay vì cơ chế chuyên quản, ĐTNT thụ động trong tất cả các khâu, với phương
nghiệp trên thị trường Việt Nam đang được hình thành.
tra thuế các trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận liên quan đến nhiều tổ
Tuy vậy, nhiều nhược điểm của hệ thống luật pháp Việt Nam đã được phát
chức, cá nhân, cơ quan Thuế được quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi
hiện, nhưng chậm được khắc phục, đang gây trở ngại cho việc thu hút ĐTNN
phạm…
và cho các hoạt động kinh doanh trên thị trường Việt Nam:
Bên cạnh đó, hệ thống thông tin về ĐTNT là cơ sở cho việc quản lý thuế hiện
Thứ nhất, thiếu sự minh bạch, nhất quán trong tổ chức, thực hiện hệ thống
đại, dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro; là cơ sở để ngành Thuế phân tích, dự báo
pháp luật Thuế. Việc thực thi pháp luật, cũng như các quyết định của Chính phủ
số thu phục vụ công tác điều hành ngân sách nhà nước. Luật quản lý thuế quy
còn nhiều nhược điểm. Các văn bản pháp quy từ luật, pháp lệnh cho đến nghị
định bảo đảm cho việc xây dựng hệ thống thông tin tổng hợp và toàn diện về
định, thông tư chưa bảo đảm nhất quán về nội dung và thời hiệu thi hành. Nhiều
từng địa phương, từng doanh nghiệp với lợi ích chung. Trong khi môi trường
xảy ra trong công tác quản lý thuế và có hình thức xử lý nghiêm minh; quy định
đầu tư cần được cải thiện, cần giảm mạnh chi phí cơ hội cho các dự án đầu tư
thời hạn giải quyết công việc cụ thể.
nước ngoài, thực hiện bình đẳng về luật pháp giữa các doanh nghiệp trong nước
Luật Quản lý Thuế được đánh giá là cơ sở pháp lý quan trọng để thực hiện
và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài … thì lợi ích cục bộ đã trở thành lực cản lớn
chiến lược cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế, một trong những yêu cầu
trong quá trình phát triển chung của nền kinh tế.
quan trọng của việc triển khai Luật là công tác ứng dụng công nghệ thông tin
Thứ hai, hệ thống chính sách thuế chưa bao quát hết đối tượng chịu thuế, đối
trong toàn ngành.
tượng nộp thuế dẫn đến trốn thuế thông qua nhiều phương thức khác nhau. Khu
2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân
2.3.2.1.
Về chính sách thuế
thống kê trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh có đến 70% doanh nghiệp có vốn đầu tư
làm cho mục tiêu quan trọng của nước ta là thông qua các dự án đầu tư nước
nước ngoài đều khai lỗ.
ngoài để nắm bắt được công nghệ tiên tiến gặp trở ngại mà còn biến Việt Nam
Vấn đề cần xem xét ở đây là liệu có chuyện “lỗ giả, lãi thật” bằng phương pháp
thành “bãi rác” công nghiệp, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống.
chuyển giá, tìm mọi “thủ đoạn” để làm cho hoạt động kinh doanh không sinh lãi
Chính sách của Chính phủ là khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng
trong khi thực tế công ty mẹ vẫn sinh lãi.
qua tình hình thu ngân sách từ khu vực kinh tế này, chúng ta cần đánh giá chính
Đây là một vấn đề rất được các nước quan tâm nhằm chống chuyển giá của các
xác những đóng góp của khu vực kinh tế ĐTNN đối với nền kinh tế.
công ty xuyên quốc gia, vẫn chưa có một biện pháp hữu hiệu nào để chống việc
Thứ tư, hệ thống chính sách thuế chưa thực sự đảm bảo bình đẳng, công bằng
chuyển giá tại Việt Nam, vì những gian lận này mang tính chất quốc tế, vì vậy
Về Quản lý thuế
Thực tiễn công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp nói chung và đặc biệt
ngoài có quan hệ liên kết ( mối quan hệ về vốn, quyền kiểm soát chủ yếu hoặc
đối với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng đang bộc lộ một số
tỷ lệ về giao dịch bằng 20% hoặc hơn); được áp dụng cả với giao dịch trong và
tồn tại, hạn chế, đó là:
ngoài nước.
Một là, chưa tổ chức quản lý theo đối tượng: Quản lý thuế hiện nay đã có
Thứ ba, hệ thống chính sách thuế còn nhiều mức thuế suất nên chưa thúc đẩy
những quy trình quản lý cụ thể, các doanh nghiệp đều được quản lý giống nhau,
mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong sản
tuy nhiên các doanh nghiệp có quy mô khác nhau thì sẽ có độ rủi ro cũng như
xuất kinh doanh, thậm chí còn tạo kẽ hở cho việc trốn thuế. Khu vực kinh tế có
cách hoạt động khác nhau. Vì vậy để quản lý thuế hiệu quả, tránh thất thu cho
vốn đầu tư nước ngoài được kỳ vọng là sẽ là nguồn mang lại công nghệ - kỹ