MAI THỊ CHI
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
MAI THỊ CHI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ TRẺ EM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA …… ĐỢT…… NĂM……..
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI THỊ CHI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ TRẺ EM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ TRẺ
EM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ........................................... 34
2.1. Kết quả thực hiện mục tiêu chính sách bảo vệ trẻ em ............................. 34
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở thành phố Hà Nội .............. 39
2.3 Đánh giá chung về việc tổ chức, thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ở
thành phố Hà Nội ............................................................................................ 56
Chương 3. GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO VỆ TRẺ EM ......................................................................................... 62
3.1. Mục tiêu thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em........................................... 62
3.2. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em ...................... 63
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................... 77
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng viết:
Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan
Sinh thời Bác Hồ đã dành cho các em thiếu nhi những điều tốt đẹp
nhất. Các em là tương lai của đất nước. Nên Người đã đặt trọn niềm tin cũng
là giao trọng trách lớn lao cho thế hệ măng non của đất nước: “Non song Việt
Nam có vẻ vang sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không
chính nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu” cho nên Bác mong:
“Mong cháu ra công mà học tập
Mai sau cháu giúp nước non nhà”
(Tặng cháu Nông Thị Trưng)
Hay:
“Mong các cháu cố gắng
Thi đua học và hành”
lệch chuẩn của một số trẻ em đang trở thành nối lo của gia đình và xã hội.
Tình trạng trẻ em bị xâm hại tình dục, bạo lực, bị lạm dụng sức lao động có
xu hướng gia tăng, tính chất ngày càng nghiêm trọng. Tính trạng trẻ em phạm
tội, trẻ em lang thang bị tai nạn, bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS vẫn là những
vấn đề xã hội bức xúc. Các điểm vui chơi và các hình thức giải trí phù hợp
với trẻ em còn thiếu, không gian vui chơi thì ngày càng thu hẹp. Nguồn lực
trong xã hội dành cho sự nghiệp chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em chưa
đáp ứng được yêu cầu. Huy động cộng đồng vào chăm sóc, giáo dục và bảo
vệ trẻ em, nhất là ở nông thôn còn thiếu.
Đặc biệt từ năm 2008 Hà Nội mở rộng địa giới hành chính. Dẫn đến
việc chăm sóc trẻ em chưa có sự đồng bộ giữa các khu vực trong Hà Nội.
2
Hàng năm Hà Nội lại tiếp nhận thêm nhiều trẻ em di cư đến gây khó khăn
trong công tác quản lí, đặc biệt là nhóm trẻ di cư tự do.
Những hạn chế trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có thể thấy nhận
thức của từng gia đình của toàn cộng đồng chưa đấy đủ, năng lực của đội ngũ
cán bộ còn yếu kém, dịch vụ bảo vệ trẻ em còn nghèo nàn, chưa có mạng
lưới; thiếu hệ thống pháp lí thân thiện với trẻ em; vai trò của quản lí nhà nước
còn mờ nhạt, chưa hiệu quả.
Từ những lí giải trên, lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách bảo vệ
trẻ em từ thực tiễn thành phố Hà Nội” làm luận văn chính sách công là xuất
phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế và có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề bảo vệ trẻ em hiện nay vẫn luôn được các ngành các cấp và
địa phương quan tâm và chú trọng. Đã có nhiều bài viết trên sách báo, tạp chí,
bài luận văn, đề tài khoa học, công trình nghiên cứu về vấn đề bảo vệ trẻ em.
Dưới đây là một số bài viết có liên quan đến đề tài:
Ấn phẩm “Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam. Đánh giá
một thực tế khách quan của một xã hội và là sản phẩm của nền kinh tế thị
trường. Tình trạng này khiến các em không được đáp ứng đầy đủ những nhu
cầu thiết yếu, gây ảnh hưởng sâu sắc tới quá trình hình thành nhân cách và phát
triển toàn diện của trẻ em. Vì vậy những trẻ em này rất cần được quan tâm,
chăm sóc, giúp đỡ thường xuyên của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội. Giải
quyết vấn đề trẻ em lang thang là việc bảo đảm quyền được chăm sóc giúp đõ
đặc biệt của trẻ em. Mặt khác còn góp phần ổn định tình hình kinh tế xã hội đất
nước, và nhằm bổ sung cơ sở lí luận trong việc quản lí xã hội về trẻ em.
Nguyễn Hữu Quân (2013), “Hoạt động thực hiện chính sách trợ giúp xã
hội cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong hệ thống an sinh xã hội tại Ngọc
Hồi – huyện Thanh Trì – thành phố Hà Nội hiện nay”, luận văn thạc sĩ công
4
tác xã hội, đại học khoa học xã hội và nhân văn, Luận văn đã rà soát, đánh giá
các chính sách trợ giúp trẻ em và nghiên cứu thực trạng hoạt động chính sách
trợ giúp tập trung vào hai nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: Trẻ
em nghèo và trẻ em khuyết tật trên địa bàn Ngọc Hồi – huyện Thanh Trì –
thành phố Hà Nội.
Luận văn thạc sĩ chính sách công “Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em
từ thực tiễn Đà Nẵng” của Võ Thị Bích Trâm (2016). Luận văn đã đưa ra
những tồn tại, hạn chế của việc thực hiện chính sách bảo vệ quyền trẻ em ở
thành phố Đà Nẵng. Cũng như chỉ rõ các yếu kém, trách nhiệm của các chủ
thể tham gia vào việc thực hiện chính sách bảo vệ quyền trẻ em. Từ đó luận
văn đề xuất những giải pháp phù hợp với tình hình thực tế của thành phố Đà
Nẵng.
Tuy nhiên, vấn đề thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em tại Hà Nội chưa
có đề tài nào đi sâu nghiên cứu. Xuất phát từ những lí do trên tôi chọn đề tài
này làm luận văn thạc sĩ của mình, luận văn thực hiện có sự kế thừa, phát
triển những thành quả của các đề tài liên quan trước đó để đánh giá, phân tích
Biên, Cầu Giấy, Hà Đông, Huyện Gia Lâm, Thanh Trì)
- Nội dung: Nghiên cứu giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo
vệ trẻ em.
- Thời gian: nghiên cứu từ năm 2010 cho đến 2015.
- Nguồn thông tin dữ liệu: Dựa trên các báo cáo tổng kết của Sở
Thương binh, Lao động và Xã hội của thành phố Hà Nội.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp
giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế với cách tiếp cận đa ngành,
liên ngành.
6
Cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ
hoạch định đến xây dựng và thực hiện và đánh giá chính sách có sự tham gia
của các chủ thể chính sách. Lý thuyết chính sách công được soi sáng qua thực
tiễn của chính sách công giúp hình thành lý luận về chính sách chuyên ngành.
5.2.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp điều tra, khảo sát trực tiếp bằng các bảnh hỏi cho các đối
tượng là: Các nhóm trẻ em ở hai khu vực nội và ngoại thành thành phố Hà Nội.
- Phương pháp phỏng vấn sâu dành cho đối tượng là: Các lãnh đạo, cán
bộ chuyên trách của 9 quận, huyện kể trên. Đặc biệt là các nhà quản lí của
Trung tâm Bảo trợ trẻ em huyện Thanh trì. Các em lang thang tại quận Hoàn
Kiếm, Học sinh trường tiểu học Trần Quốc Toản trên phố Hàng Than, quân
Hoàn Kiếm; Các em huyện Thường Tín.
- Phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phân tích và tổng hợp,
nước ta.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sach bảo vệ trẻ em tại thành phố
Hà Nội.
Chương 3: Định hướng, giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bảo
vệ trẻ em từ thực tiễn thành phố Hà Nội.
8
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO VỆ
TRẺ EM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Các khái niệm: Trẻ em, bảo vệ trẻ em, chính sách bảo vệ trẻ em
1.1.1. Trẻ em
Theo Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em là
người dưới 18 tuổi” [3]
Còn theo Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, trẻ em là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Luận này quy định về quyền, bổn phận của
trẻ em; nguyên tắc, biện pháp bảo đảm thực hiện quyền trẻ em; trách nhiệm
của cơ quan tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện
quyền và bổn phận của trẻ em [24]
Đối tượng áp dụng là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế,
đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ sở giáo dục, gia đình, công
dân Việt Nam, cơ quan tổ chức quốc tế, tổ chức nước ngoài hoạt động trên
lãnh thổ Việt Nam, cá nhân là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam.
Giải thích từ ngữ trong luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1.1.2. Bảo vệ trẻ em
Bảo vệ trẻ em là thực hiện các biện pháp phù hợp để đảm bảo trẻ em
được sống an toàn; lành mạnh; phòng ngừa; ngăn chặn và xử lý các hành vi
xâm hại trẻ em, trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt [25]
Từ quan niệm về “chính sách công” và “bảo vệ trẻ em” nêu trên,
chúng ta có thể định nghĩa về chính sách bảo vệ trẻ em như sau: Chính sách
bảo vệ trẻ em là tập hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu,
giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề bảo vệ trẻ em theo mục
tiêu tổng thể đã xác định.
10
Việc thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em là việc thực hiện hóa các
quyết định chính trị về bảo vệ trẻ em. Đây là khâu đặc biệt quan trọng trong
chu trình chính sách bảo vệ trẻ em. Nó có nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách
bảo vệ trẻ em của nhà nước, đưa chính sách bảo vệ trẻ em của nhà nước vào
cuộc sống.
1.2. Vấn đề thiết kế chính sách bảo vệ trẻ em
1.2.1. Vấn đề của chính sách
Trong những năm qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy
phạm pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện chính sách bảo
vệ trẻ em. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (2004) quy định khá đầy
đủ các quyền trẻ em, trách nhiệm của Nhà nước, gia đình, cộng đồng và các tổ
chức xã hội trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Một số các
chương trình đã được xây dựng và triển khai nhằm giúp đỡ một số đối tượng
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó phải kể đến Chương trình ngăn ngừa
và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ
em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn
2004 – 2010 (được phê duyệt bởi Quyết đinh 19/2004/QĐ-TTG, ngày
12/02/2004) và Chương trình hành động quốc gia đấu tranh phòng chống
buôn bán người; Quyết định 312/2005/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt các đề án thuộc chương trình hành động phòng chống tội phạm
buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2005 đến năm 2010; Quyết định số
17/2007/QĐ-TTG ban hành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng
trình hòa nhập cộng đồng.
Điều tra quốc gia về lao động trẻ em công bố năm 2014 cho thấy
khoảng 1,75 triệu trẻ em đang làm việc dưới độ tuổi tối thiểu mà pháp luật
cho phép. Con số này tương ứng với gần 10% số trẻ từ 15-17 tuổi trên toàn
quốc. Đa phần nhóm trẻ em này đã bỏ học vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó
12
khăn và không có điều kiện vui chơi giải trí như bạn bè cùng trang lứa và
nguy cơ bị ngược đãi, bạo lực và bóc lột sức lao động từ rất cao. Đặc biệt số
lượng trẻ em bị đuối nước không ngừng ra tăng, để lại nỗi đau lớn cho gia
đình; nhà trường và xã hội.
Hà Nội mặc dù là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị và xã
hội của cả nước vấn đề chăm sóc, bảo vệ trẻ em luôn được các lãnh đạo các
cấp của thành phố quan tâm. Nhưng do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách
quan (Sẽ được đề cập trong mục 1.2.2.) mà việc thực hiện chính sách bảo vệ
trẻ em của thành phố còn nhiều hạn chế và chưa có sự đồng bộ giữa các quận
huyện của thành phố. Theo thống kê của Bộ Thương binh, lao động và Xã
hội, giai đoạn 2010-2015 Hà Nội đứng thứ 3 trên toàn quốc về số trẻ em bị
đuối nước. [10]
Những điều trên cho thấy, vấn đề chính sách bảo vệ trẻ em chính là
giải quyết tình trạng trẻ em chưa được sống trong môi trường sống an toàn,
thân thiện; trẻ em chưa được bảo vệ toàn diện, tập trung chủ yếu vào bốn
nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt có xu hướng ngày càng gia tăng nghiêm
trọng cụ thể là trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị vi
phạm pháp luật, trẻ em bị lao động sớm trong điều kiện nặng nhọc; trẻ em ở
những vùng ngoại thành, nông thôn chưa được bổ sung kĩ năng sống của
thành phố Hà Nội.
1.2.2. Nguyên nhân của những vấn đề chính sách
Nguyên nhân của những vấn đề chính sách nêu trên đây là:
như vào các trung tâm thương mại, xem mạng, TV. Tậm lí phụ huynh( đặc
biệt là trong những tháng hè) để quản lí các em các bậc phụ huynh đang kí
cho con mình theo học nhiều môn học khác nhau( đàn, hát, múa, vẽ, …). Dẫn
đến trẻ em ngày nay hết sức thụ động, lười vận động, ít suy nghĩ, nặng hơn
nhiều là trẻ em còn mắc phải một số bệnh liên quan đến thần kinh như: tự kỉ,
14
tăng động,… Ảnh hưởng rất lớn đến tương lai của các em và mang đến gánh
nặng cho gia đình và xã hội. Ở Thủ đô Hà Nội (nhất là khu vực nội thành),
công viên được xem là khu vưc sinh hoạt chung cho người dân trong đó có trẻ
em. Tuy nhiên mấy năn gần đây nhiêu công viên đã bị lấy xây trung tâm
thương mại, các chung cư đã thu hẹp không gian vui chơi tự nhiên của các em
điều này đã tác động không nhỏ đến tuổi thơ của các em.
Thứ hai, hệ thống luật pháp, chính sách về bảo vệ trẻ em chưa được
đồng bộ đầy đủ, thiếu hệ thống tư pháp thân thiện với người chưa thành niên.
Một số quy định về cơ sở trợ giúp trẻ em và cơ sở bảo trợ xã hội đang
thiếu hoặc có sự chồng chéo, mâu thuẫn về đối tượng, chức năng hoạt động
giữa hai loại hình trợ giúp này. Hiện nay luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ
em chưa quy định cụ thể cơ quan hưởng ứng tổ chức bộ máy cho quỹ bảo trợ
trẻ em, do vậy hoạt động của hệ thống quỹ này ở địa phương các cấp gặp
nhiều khó khăn. Cơ chế chính sách trợ giúp trẻ em vẫn chưa đáp ứng được
yêu cầu thực tiễn, trong đó mới chú ý đến trợ giúp, hòa nhập mà chưa chú
trọng việc phòng ngừa, can thiệp và phát triển. Chế tài xử phạt các hành vi vi
phạm quyền trẻ em chưa đủ mạnh. Một số nhóm đối tượng trẻ em đặc biệt
chưa được đưa vào luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em như trẻ em bị
lạm dụng, bạo lực, trẻ em bị tai nạn thương tích, trẻ em bị ảnh hưởng từ các
vụ ly hôn, con nuôi, trẻ em di cư, bị buôn bán, trẻ em sống trong các hộ
nghèo, trẻ em có biểu hiện khác về giới tính. Thiếu các số liệu đáng tin cậy
liên quan đến trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt. Thiếu các quy trình tư pháp
đầu tư cho sự nghiệp này vẫn còn nhiều hạn chế và phân tán, ngân sách chi
cho hoạt động sự nghiệp bảo vệ trẻ em quá thấp, chưa tương xứng với tăng
trưởng kinh tế và đầu tư cho các lĩnh vực khác ở cả cấp độ trung ương và địa
phương. Tổng kinh phí chi cho hoạt động sự nghiệp bảo vệ trẻ em giai đoạn
2006 – 2010 khoảng 2.416 tỷ đồng, trong đó chi cho trợ cấp xã hội hàng
16
tháng cho trẻ em khoảng 1.406 tỷ đồng; chi cho việc thực hiện các chương
trình đề án thuộc ngành lao động, thương binh và xã hội khoảng 260 tỷ đồng;
ngân sách địa phương bố trí cho các hoạt động sự nghiệp bảo vệ trẻ em
khoảng 250 tỷ đồng; huy động từ cộng đồng và tổ chức quốc tế khoảng 500 tỷ
đồng [30] Song song với đó, đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ, chăm sóc
trẻ em vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng lại luôn có sự biến động
do thay đổi cơ cấu tổ chức. Tính đến năm 2014, tổng số cán bộ làm công tác
bảo vệ trẻ em cấp tỉnh là 315 người, số cán bộ kiêm nghiệm hoặc trực tiếp
làm công tác này ở cấp huyện là 1.117 người, cấp xã có 11.708 cán bộ (kiêm
nghiệm là 10.598 người, chuyên trách là 1.110 người). Tuy nhiên vẫn còn
nhiều địa phương chưa bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác bảo vệ trẻ em
ở cấp huyện; chính sách hỗ trợ cho đội ngụ cán bộ và cộng tác viên làm công
tác bảo vệ trẻ em ở cơ sở còn rất eo hẹp và mới chỉ có 16/63 tỉnh, thành phố
(25%) bố trí nguồn ngân sách địa phương để chi trả thù lao cho đội ngũ cộng
tác viên thôn, bản với mức thù lao từ 50.000đ – 830.000đ/tháng [15]
1.2.3. Mục tiêu chính sách bảo vệ trẻ em
Mục tiêu tổng quan của chính sách bảo vệ trẻ em là:
- Tạo dựng được môi trường sống mà ở đó tất cả trẻ em đều được bảo
vệ, trong đó ưu tiên nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, nhóm trẻ có nguy cơ cao.
- Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu hoặc loại bỏ các nguy cơ tổn hại,
tạo cơ hội để các em tái hòa nhập cộng đồng và bình đẳng về cơ hội phát
triển, thông qua phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em đồng bộ và hoạt động có
Hai là, nhóm giải pháp tăng cường sự quản lý nhà nước, củng cố kiện
toàn tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em các cấp; tăng cường
công tác xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa các bộ ngành,
mặt trận tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội trong công tác bảo vệ trẻ em
nhằm phát huy các nguồn lực của Nhà nước và xã hội để chăm lo, bảo vệ trẻ
18
em phù hợp với hoàn cảnh đất nước; xây dựng chính sách đãi ngộ phù hợp với
đội ngũ cộng tác viên bảo vệ trẻ em, thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp
hành pháp luật chính sách liên quan đến trẻ em và thực hiện quyền trẻ em. Các
công cụ có thể được sử dụng là công cụ được dựa vào tổ chức là công cụ hành
chính, tổ chức như hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, mô hình tổ chức,
bộ máy các bộ công chức tham gia hoạch định, triển khai chính sách bảo vệ trẻ
em. Bên cạnh đó, nhóm công cụ dựa vào quyền lực là các quy định, mệnh lệnh
và kiểm soát, quy định xử phạt hành chính, xử lý trách nhiệm hình sự đối với
các đối tượng buôn bán trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em.
Ba là, nhóm giải pháp đẩy mạnh các chiến dịch truyền thông, trên cơ
sở hình thành chiến lược truyền thông với sự tham gia tích cực của các cấp,
các ngành, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức quốc tế để tạo dư luận xã hội
quan tâm hơn đến công tác bảo vệ trẻ em, đặc biệt là lên án các hành vi xâm
hại, ngượcđãi và bạo lực đối với trẻ em. Chủ động huy động và sử dụng có
hiệu quả mọi nguồn lực có thể được cho nhiệm vụ bảo vệ trẻ em đồng thời
mở rộng, nâng cao chất lượng dịch vụ và phúc lợi xã hội dành cho trẻ em.
Công cụ truyền thông trực tiếp và gián tiếp sẽ được sử dụng cho giải pháp
này: là các chiến dịch truyền thông, tuyên truyền, tư vấn trực tiếp cho sự tham
gia của cộng đồng. Đặc biệt là sự vào cuộc của hội phụ nữ, hội cựu chiến
binh, đoàn thanh niên,…tuy nhiên để công cụ chính sách này có hiệu lực thì
các tổ chức này phải được trao cho những quyền nhất định và được trang bị
đầy đủ về cả trí lực và vật lực. Các tổ chức cần phối hợp với các tổ chức
phương pháp tiếp cận “từ trên xuống, từ dưới lên” được xem là phương pháp
truyền thống nhất khi thực hiện chính sách:
- Phương pháp từ trên xuống:
20
* Ưu điểm: Cách tiếp cận này đảm bảo được tính thống nhất khi ban
hành chính sách, đảm bảo chính sách được triển khai nhanh gọn và tránh được
sự chồng chéo, mất tập trung khi thực hiện chính sách.
* Nhược điểm: Tuy nhiên phương pháp này không phát huy được tính
chủ động, sáng tạo của cơ sở và chưa thực sự phù hợp với hoàn cảnh, tình
hình kinh tế xã hội của từng địa phương thực hiện.
- Phương pháp từ dưới lên:
Khắc phục được nhược điểm của phương pháp tiếp cận “từ trên
xuống” nhưng vẫn phải gặp một số vấn đề khi thực hiện bởi vì nó chịu ảnh
hưởng mang tính chủ quan của những cán bộ chuyên trách.
Ngoài ra phương pháp tiếp cận trên chưa thực sự có sự tham gia của
người dân. Do đó, để đảm bảo phù hợp với tình hình mới cũng như mục tiêu
hướng tới cộng đồng phương pháp tiếp cận phù hợp nhất khi thực hiện chính
sách là tiếp cận theo hàng đọc (cách tiếp cận mang tính hai chiều)
Tiếp cận theo chiều ngang có sự phối hợp giữa cán bộ, các cơ quan ban
ngành: Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp và sự tham gia của các
bên liên quan và cộng đồng, người dân, các tổ chức trong nước và quốc tế.
Như vậy, cách tiếp cận đối với chính sách bảo vệ trẻ em đó là Đảng
cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và các tổ chức đoàn thể xã hội, chính
trị thông qua các chương trình, chiến lược, chính sách, nghị quyết và chỉ thị
về mặt chính trị. Quốc hội thực hiện vai trò giám sát tối cao các hoạt động
của nhà nước. Trong các cơ quan của Quốc hội, có một số ủy ban trực tiếp
liên quan đến trẻ em như Ủy ban văn hóa, giáo dục, thanh thiếu niên và nhi