TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
ĐINH THỊ THỦY
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VẰN HOÁ TRUYỀN
THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ, YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Ngưòi hướng dẫn khoa học:
ThS. Hoàng Thanh Son
HÀ NỘI, 2016
Để khóa luận tốt nghiệp hoàn thành và được phép bảo vệ, chúng tôi đã nhận
được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân và đơn vị.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến:
-
Giảng viên hướng dẫn Thạc sĩ Hoàng Thanh Sơn - người đã tận tình giúp đỡ tôi
ừong suốt quá trình học tập và nghiên cứu giúp nhờ đó tôi có được những định hướng
đúng đắn trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
-
Thầy, cô phản biện - những người đã góp ý chân thành, thẳng thắn để tôi hoàn thiện
3.1.
Giải pháp để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của người Thái Đen ở
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hoá là phương thức sinh tồn, là thành quả tinh thần không ngừng được tích
tụ hình thành trong việc giải quyết những mâu thuẫn vĩnh hằng giữa con người với
thiên nhiên, giữa con người và xã hội, văn hoá là tài sản chung của xã hội loài người
được hình thành trong lịch sử.
Văn hoá chính là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực, mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội. Văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong đa dạng đó là
sự thống nhất của nền văn hoá của 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc
Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời kì hiện nay văn hoá các dân tộc thiểu số đang có
nhiều biểu hiện phai nhạt đi các giá trị văn hoá truyền thống ừong khi đòi sống văn
hoá mới tại vùng đồng bào dân tộc còn diễn ra nghèo nàn, các giá trị văn hoá mới
chưa được xác lập một cách vững chắc đang đặt ra yêu cầu cấp bách cho những người
làm công tác lãnh đạo, quản lí ở vùng đồng bào dân tộc càn kịp thời giải quyết để phát
triển văn hoá ở địa phương.
Yên Bái là một tỉnh miền núi, là nơi cư trú của nhiều dân tộc anh em cùng chung
sống như dân tộc Kinh, Thái, Mường, Dao, Hoa, H’Mông, Kho Mú,.. .và ừong đó
người Thái ở Yên Bái có khoảng 41.000 người chiếm 6,1% dân số toàn tỉnh. Riêng ở
Mường Lò tập trung khoảng 90% tổng số người Thái ở Yên Bái, một số ít còn lại cư
trú ở huyện Trạm Tấu và huyện Mù Cang Chải.
Người Thái Đen sống tập trung tại các bản làng xung quanh cánh đồng Mường
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực văn hoá của người Thái Đen ở Mường Lò,
Yên Bái bao gồm hai nội dung chính là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần.
2.2.
Phạm vỉ nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu văn hoá của người Thái Đen tập trung chủ yếu ở Mường
Lò, Yên Bái, đề tài đề cập đến văn hoá truyền thống từ trước cho đến nay.
3. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Ở Yên Bái, người Thái Đen ở Mường Lò là một trong những tộc người tiêu
biểu. Tuy nhiên việc nghiên cứu về người Thái Đen noi đây chưa được quan tâm đúng
mức. Từ trước tói nay hàu như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện,
có hệ thống về văn hoá Thái ở Mường Lò, chỉ có một số công trình viết về người Thái
ở Tây Bắc có nhắc đến người Thái Mường Lò nhưng chỉ dừng lại ở mức độ so sánh,
liên hệ sơ lược có thể kể đến như:
Trước tiên là cuốn: “Văn hoá các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc”, của tác giả
Tràn Bình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; đã đi sâu nghiên cứu về văn hoá của
dân tộc thiểu số vùng tây Bắc, trong đó có dân tộc Thái.
Cuốn: “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, nhà nghiên cứu cầm Trọng,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1978. Công trình mang tính chất tổng quan về lịch sử
cư trú, văn hoá, xã hội, kinh tế của ngưòi Thái ở Tây Bắc từ khi di cư vào Việt Nam;
công trình có nhắc tới Mường Lò là quê tổ của người Thái Đen nhưng chỉ khái quát
chung về vùng đất này.
Cuốn: “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam” của cầm Trọng, Phan
Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn
hoá truyền thống của người Thái Đen ở Mường Lò, vốn đang bị mai một dần trong
quá trình phát triển dưới tác động của nền kinh tế.
6. Đóng góp của đề tài
Khoá luận đi sâu vào việc tìm hiểu về nét sinh hoạt văn hoá của người Thái Đen
ở Mường Lò, là một vùng đất chứa đựng nhiều giá tri văn hoá cổ, là nơi sinh tụ của
nhiều tộc người, với một nền văn hoá dân gian đa sắc thái. Trải qua nhiều thăng tràm
lịch sử, sự tác động của điều kiện tự nhiên, xã hội ở vùng đất mới cùng với sự giao lưu
văn hoá các dân tộc trên địa bàn đã làm cho văn hoá truyền thống có sự biến đổi. Song
qua thời gian đã chứng minh sức sống lâu bền của các giá ttị văn hoá tiêu biểu của nền
văn hoá lớn. Qua đó để có thể lựa chọn những yếu tố tích cực để lưu giữ và phát huy
trong thời kì mới và loại bỏ các yếu tố lạc hậu không phù họp, đổng thời dự báo xu
hướng phát triển văn hoá dân tộc của người Thái Đen ở Mường Lò.
Khoá luận đóng góp thêm vào nguồn tư liệu cho những người quan tâm nghiên
cứu về văn hoá của người Thái Đen một cách cụ thể và từ đó giúp cho các thế hệ trẻ
đọc và biết về văn hoá dân tộc mình. Góp phần tìm hiểu lịch sử đại phương để giáo
dục các em trong trường học và qua đây cũng là tiếng nói muốn gửi đến các cấp lãnh
đạo của xã, của huyện nhằm có một số phương hướng giải pháp để lưu giữ và khôi
phục lại vốn văn hoá truyền thống của dân tộc trước sự vận động của thời kì kinh tế
thị trường đang có nguy cơ làm mai một đi nền văn hoá dân tộc. Góp phần làm phong
phú bản sắc văn hoá Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
7. Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục khoá luận được
chia làm 3 chương, 8 tiết.
niệm tập tục lễ giáo.
Theo quan niệm của Chủ nghĩa Mác -Lênin thì “Văn hóa” chỉ gắn liền với con
người và xã hội loài người, con người vừa sáng tạo ra bản thân mình vừa đồng sáng
tạo ra thế giới văn hóa. Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh
Gôta” c Mác đã vạch rõ nguồn gốc của văn hóa gắn liền với sự sáng tạo và năng lực
con người, sự sáng tạo đó bắt nguồn từ lao động chính lao động sáng tạo ra con người
đó chính là hoạt động sản xuất và tái sản xuất ra bản thân con người với tư cách là một
thực thể xã hội. Thể hiện quan hệ giữa con người với con người. Như vậy con người
là tác giả sáng tạo ra văn hóa và mang các giá trị văn hóa truyền từ đời này sang đời
khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác và trong quá trình đó có sự giao lưu, ảnh hưởng
của các nền văn hóa dân tộc.
Định nghĩa UNESCO về “Văn hóa” được đặc trưng bởi diện mạo và tinh thần,
vật chất trí lực, tình cảm...khắc họa tạo nên bản sắc của một quốc gia, cộng đồng, gia
đình, làng xóm...Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật văn chương mà còn cả lối
sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống
tín ngưỡng.
Còn ở Việt Nam cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, có nhiều
quan điểm khác nhau:
Theo giáo sư Đào Duy Anh “Văn hóa” là sinh hoạt, vì văn hóa là sinh hoạt nên
văn hóa của mỗi dân tộc khác nhau, do điều kiện tự nhiên, tính chất địa lý, điều kiện
kinh tế xã hội quy định mà còn có nền văn hóa riêng của mỗi dân tộc.
Theo giáo sư Phan Ngọc Thêm thì “Văn hóa” là hệ thống hữu cơ các giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn
trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình.
Khái niệm văn hóa theo nghĩa rộng: “Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá
trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình
dựng nước và giữ nước”[7, Tr.16]. Theo nghĩa hẹp: “Văn hóa là đời sống tinh thần của
xã hội”; “Văn hóa là hệ thống các giá trị truyền thống, lối sống”; “Văn hóa là năng lực
sau:
Lòng yêu nước nồng nàn, đoàn kết chống giặc ngoại xâm, lòng tự hào, tính
khiêm nhường, giữ gìn nhân phẩm, coi trọng thực tiễn, giản dị thanh lịch trong lối
sống. Như vậy, bản sắc văn hóa dân tộc được hiểu là những giá trị có tính lịch sử, trải
qua hàng nghìn năm lịch sử văn hóa Việt Nam đã vượt qua thế bị động để tiếp thu tinh
hoa văn hóa nhân loại, làm giàu thêm bản sắc văn hóa của mình.
Văn hóa dân tộc Việt Nam đã trải qua quá trình lịch sử lâu dài, nhân dân đấu
ừanh chống kẻ thù không chỉ bằng súng đạn, vũ khí mà còn cả văn hóa, văn hóa là
một vũ khí sắc bén để đấu tranh với kẻ thù. “Văn hóa” và “Dân tộc” là hai phạm trù
khác nhau nhung có liên quan chặt chẽ với nhau về văn hóa vì mỗi dân tộc có sự khác
nhau về văn hóa, có bản sắc riêng của dân tộc mình. Vì vậy, đánh mất bản sắc riêng là
đánh mất dân tộc.
Dân tộc Thái Đen ở Mường Lò - Nghĩa Lộ là một bộ phận trong cộng đồng các
dân tộc Việt Nam nói chung và dân tộc Thái Đen nói riêng. Trải qua hàng ngàn năm
sinh sống, đấu tranh những nét văn hóa dàn được hình thành và phát triển. Ngoài
những nét chung của dân tộc Việt Nam, cộng đồng dân tộc Thái còn mang những đặc
thù riêng của mình.
Bản sắc văn hóa Thái là những nét văn hóa vật chất và tinh thần truyền từ đời
này sang đời khác và trở thành phong tục, tập quán ăn sâu, bám rễ vào từng nếp nghĩ,
lối sống của người Thái Mường Lò. Như vậy, bản sắc văn hóa Thái bao gồm có văn
hóa ẩm thực, ở, mặc và các loại hình tín ngưỡng, các loại hình văn hóa dân gian.
1.1.3.
Cẩu trúc văn hóa
Do có nhiều cách trong việc tiếp nhận nghiên cứu văn hóa, cho nên có nhiều
quan điểm khác nhau về cấu trúc văn hóa. Một số tác giả chia văn hóa thành: Văn hóa
Chủ nghĩa Mác - Lênin coi văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần có quan hệ
biện chứng, thúc đẩy nhau cùng phát triển, khi xã hội phát triển nhu cầu vật chất tăng
lên, sự sáng tạo ra các giá trị vật chất kéo theo nhu càu tinh thần cũng phát triển, nhu
cầu tỉnh thần tới một mức độ nhất định tác động ừở lại làm cho nhu cầu vật chất phát
triển cao hơn. Do vậy, những sáng tạo vật chất và tinh thần có tác động thúc đẩy nhau
cùng phát triển.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1.
Khái quát về Mường Lò và người Thái Đen ở Mường Lò
1.2.1.1.
Khái quát về Mường Lò, tỉnh Yên Bái
* Điều kiện tự nhiên
Cánh đồng Mường Lò - vựa lúa thứ hai của khu vực Tây Bắc thuộc huyện Văn
Chấn và Thị xã Nghĩa Lộ của tỉnh Yên Bái. Mường Lò nổi tiếng với “gạo ừắng nước
trong”, nơi từ lâu được nhắc đến là một trong bốn cánh đồng lớn của miền Tây Bắc
qua câu nói quen thuộc “Nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc” (tức là Mường Thanh
- Điện Biên, Mường Than - Than Uyên và Mường Tấc - Phù Yên). Nơi đây còn biết
đến là cái nôi của người Thái Tây Bắc.
Mường Lò thuộc phía Tây của tỉnh Yên Bái là nới có địa hình đa dạng với nhiều
con suối, mương, ngòi. Là nơi được hình thành do sự chênh lệnh về độ cao của các
dãy núi và sự chia cắt đột ngột của dãy Hoàng Liên Sơn từ Nghĩa Lộ đến đèo Lũng
Lô, nơi có đường Yên Bái - Sơn La chay qua, những vùng đồi thấp và nùi thấp tỏa
rộng từ hữu ngạn sông Hồng tới tả ngạn sông Đà tạo ra những thung lũng và được phù
phía Tây Nam của tỉnh Yên Bái, phía Bắc giáp huyện Mù Cang Chải, phía Đông giáp
huyện Trấn Yên, phía Tây Nam giáp huyện Trạm Tấu, phía Nam giáp huyện Thanh
Sơn tỉnh Phú Thọ và huyện Phù Yên tỉnh
Sơn La. Huyện Văn Chấn có diện tích tự nhiên 122.390,6 ha, dân số trên 145.000
người, gồm 13 dân tộc anh em sinh sống trong đó người Kinh (Việt) chiếm 42%,
người Thái chiếm 23% ngoài ra còn một số dân tộc khác như, Tày, Mông, Dao. Huyện
Văn Chấn gồm 31 đơn vị hành chính trực thuộc: 28 xã, 3 thị trấn với 351 thôn, bản, tổ
dân phố. Văn Chấn được chia làm hai tiểu vùng: vừng ừong gồm 23 xã - thị trấn lấy
Đèo Ách làm ranh giới; vùng ngoài gồm 8 xã. Người Thái Đen sinh sống tại một số xã
của huyện Văn Chấn quanh cánh đồng Mường Lò như: Phù Nham, Sơn Thịnh, Hạnh
Sơn, Phúc Sơn, Sơn A, Thạch Lương, Gia Hội. Phần còn lại của vùng lòng chảo cánh
đồng Mường Lò thuộc địa giới của thị xã Nghĩa Lộ.
Nghĩa Lộ là một thị xã miền núi, là trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội vùng
phía Tây của tỉnh Yên Bái. Thị xã cách thành phố Yên Bái khoảng hơn 80km đường
quốc lộ 32. Phía Bắc, phía Đông, phía Nam giáp huyện Văn Chấn, Phía tây giáp
huyện Trạm Tấu của tỉnh. Với diện tích 2966,6 ha, dân số 25.486 người cư trú trên địa
bàn 4 phường (Trung Tâm, cầu Thia, Pú Chạng, Tân An) và 3 xã (Nghĩa An, Nghĩa
Phúc, Nghĩa Lợi). Thị xã có 17 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc
Thái chiếm 44,57%, dân tộc Kinh chiếm 43,35%.
Quá trình lịch sử và sự thay đổi địa giới hành chính, Mường Lò nằm trong địa
giới huyện Văn Chấn và sau này lại thuộc cả hai đơn vị hành chính là thị xã Nghĩa Lộ.
Như vậy, khi nhắc đến Văn Chấn - Nghĩa Lộ là nói đến Mường Lò. Mường Lò trở
thành điểm kết nối, hội tụ, kết tinh văn hóa đậm nét, riêng có của người Thái Đen ở
Yên Bái nói riêng và trung tâm văn hoá của người Thái Tây Bắc Việt Nam nói chung.
* Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội
Nằm trong khu vực hội tụ đông dân tộc anh em, khu vực Mường Lò có 17 dân
tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc Thái chiếm số đông, cùng một số dân tộc khác
như dân tôc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Mường, Mông, Dao, Khơ Mú... cư dân của
của tỉnh Yên Bái. Sau khi thị xã được tái lập, chợ Mường Lò đã được quy hoạch, đầu
tư xây dựng lại trở thành một trong những trung tâm thương mại lớn của tỉnh Yên Bái.
Hàng hóa ở đây khá phong phú, đa dạng. Bên cạnh những sản phẩm công nghiệp hiện
đại còn có rất nhiều nông sản, sản phẩm thủ công truyền thống phục vụ cho nhu cầu
thiết yếu của nhân dân và trao đổi thương mại. Có thể gọi chợ Mường Lò là chợ đầu
mối vì phần nào đã đáp ứng được nhu cầu trao đổi hàng hóa trong vùng và khu vực
lân cận.
Dịch vụ du lịch có nhiều tiềm năng đặc biệt khi Mường Lò là điểm đến nằm
trong Chương trình du lịch về cội nguồn của 3 tinh Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai. Dịch
vụ y tế, văn hóa, giáo dục bước đầu được mở rộng trong những năm gần đây.
Văn hóa - xã hội: Cùng với sự phát triển về kinh tế, các mặt văn hóa xã hội ở
Mường Lò đạt trình độ phát triển khá cao. Khu di tích lịch sử Căng - Đồn Nghĩa Lộ đã
được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, là nhà tù (căng)
giam giữ tù chính trị của thực dân Pháp. Đây không chỉ là nơi tưởng niệm mà còn là
một điểm du lịch thu hút du khách đến tìm hiểu truyền thống lịch sử cách mạng, văn
hóa của địa phương; Bảo tàng Yên Bái - Chi nhánh Nghĩa Lộ, Khu tưởng niệm Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã được công nhận là một trong hệ thống Bảo tàng Hồ Chí Minh cả
nước. Nhiều thôn, bản, tổ dân phố đã có nhà văn hóa. Nhìn chung đời sống vật chất
tinh thân của đồng bào các dân tộc trên địa bàn khu vụ đã được cải thiện ữong những
năm gần đây, song tỷ lệ hộ nghèo cũng còn khá cao (năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo theo
tiêu chí mới còn chiếm đến 31,7%).
Ở Mường Lò cùng với đa số người dân theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, cha mẹ
và những người có công với quê hương, đất nước còn một bộ phận giáo dân theo đạo
Công giáo. Với chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của Đảng và
Nhà nước, mỗi người dân theo tôn giáo cũng như không theo tôn giáo ở Mường Lò
đều lấy mục tiêu sống đoàn kết, tương thân, tương ái, chung sức, chung lòng xây dựng
quê hương đất nước.
Là một miền đất giàu truyền thống văn hóa, Mường Lò được coi là xứ sở của
Mường Lò, Tạo Ngần về Mường Bò Té. Còn Tạo Xuông ở lại, lấy vợ sinh con là Tạo
Lò. Tạo Lò lấy vợ sinh ra bẩy người con trai là: Ta Đúc, Ta Đẩu, Lặp Li, Lò Li, Lạng
Ngạng, Lạng Quang và Lạng Chượng...Tạo Lò chia đất cho các con đi làm chúa. Ta
Đúc ăn Lò Luông; Ta Đẩu ăn Lò Cha; Lặp Li ăn Lò Gia; Lò Li ăn Mường Min; Lạng
Ngạng ăn Mường Vân, Mường Vành; Lạng Quang ăn Xí xam bản Lọm...Riêng Lạng
Chượng là con út Tạo Lò không có mường để “ăn”...Chúa Lạng Lượng...triệu tập binh
tướng, dân chúng, kéo nhau đi tìm mường...
Khi người Thái Đen xuất hiện ở Mường Lò, vùng lòng chảo này đã được chia
làm ba vùng: Mường Lò Luông (tức là Mường Lò Lớn là nơi trung tâm của vùng lòng
chảo, cũng là trung tâm của toàn châu mường); Mường Lò Gia (gọi tắt là Mường Gia)
và Mường Lò Cha (gọi tắt là Mường Cha). Và do đó Mường Lò là Mường Xam Lò
(Mường Ba Lò). Ngoài phạm vi vùng lòng chảo, Mường Lò còn gồm những mường
nhỏ khác như Mường Hồng, mường Hằng (này thuộc huyện Trấn Yên - Yên Bái);
mường Nặm, mường Piu (nay là xã Thượng Bằng là huyện Văn Chấn, tinh Yên Bái,
mường Mẻng, mường Pục (nay thuộc xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái);
mương Min (nay là xã Gia Hội, huyện Văn Chấn; mường Lùng (nay là xã Tú Lệ,
huyện Văn Chấn).
Trong lịch sử người Thái Đen, Mường Lò là noi sinh quán của Lò Lạng Chượng
- người sau này dẫn dắt người Thái Đen đi chinh phục những vùng đất mới: vùng
Sông Đà, sông Mã và xâm nhập sâu hơn nữa những vùng đất đai miền Tây Bắc, kết
thúc bằng việc dựng mường trung tâm ở cánh đồng Mường Thanh ngày nay là Điện
Biên, biến nơi đây thành nơi thu hút người Thái từ nhiều miền về hội tụ cư trú. Đến
bây giờ người Thái Đen vẫn giữ được tập tục mỗi khi cha mẹ, ông bà qua đời đều đưa
hồn người chết trở lại quê Mường Lò quê tổ rồi mới tiếp tục về với Đẳm (tổ tiên) ở cõi
ừời.
Các tác phẩm của người Việt như “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “Đại Việt sử
ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê, “Kiến văn tiêu lục” của Lê Quý
Đôn, “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc Sử quán triều Nguyễn, hay những tác phẩm
là một vùng đất cổ giàu tiềm năng và phát triển du lịch sinh thái, du lịch nhân văn và
văn hóa tộc người mà còn là vùng đất lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa cổ truyền
mang tính chất nguyên sơ của văn hóa truiyền thống.
1.2.1.2.
Người Thái Đen ở Mường Lò
* Tên gọi, dân sổ và sự phân bổ dân cư
Ở Yên Bái, tên người Thái được dùng chính thức và phổ biến. Người Thái còn
tự gọi mình là “Táy”, “Táy Khao' là Thái Trắng, “Táy Đăm” là Thái Đen.
Người Thái ở Yên Bái có khoảng 41.000 người chiếm 6,1% dân số toàn tỉnh.
Riêng ở Mường Lò tập trung khoảng 90% tổng dân số người Thái ở Yên Bái, một số ít
còn lại cư trú ở huyện Trạm Tấu và huyện Mù Cang Chải.
Người Thái Đen sống tập trung tại các bản xung quanh cánh đồng Mường Lò
men theo những con suối, thuộc địa giới hành chính của một số xã vùng trong của
huyện Văn Chấn và địa bàn của thị xã Nghĩa Lộ. Người Thái ở Mường Lò cũng sống
xen kẽ với một số dân tộc khác như: H'Möng, Dao, Hoa, Mường, Khơ Mú, Kinh... do
đó cũng chịu sự tác động và ảnh hưởng qua lại nhất định về văn hóa, kinh tế, xã hội.
Mặt khác một số bộ phận người Thái Đen sinh sống ở khu vực thị xã Nghĩa Lộ,
đặc biệt ở các phường và các khu trung tâm gàn trục đường giao thông chính, đã ít
nhiều bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa. Tuy vây, đa số người Thái Đen noi đây
vẫn giữ được những nét văn hóa cơ bản của dân tộc mình và bảo tồn chứng trong
những nếp nhà sàn, trong từng thiết chế thôn bản.
* Lịch sử cư trú
Với những điều kiện về địa hình, đất đai, khí hậu thuận lợi, vùng Văn Chấn,
Nghĩa Lộ từ rất sớm có người cư trú.
Các nhà khảo cổ học đã phát hiện những hóa thạch của một số loại động vật như
cư dân Môn - Khơ me) là dân tộc chủ thể ở Tây Bắc cư trú khắp ba tỉnh Sơn La, Lai
Châu, Nghĩa Lộ và một phần những người Xá này đã hòa hợp với dân tộc Thái sau
này.
Như vậy, lịch sử cư trú của người Thái Đen ở Mường Lò không chỉ bó hẹp trong
phạm vi tộc người mà còn có liên hệ mật thiết với những dân tộc khác. Nhưng ta có
thể dễ nhận thấy đó là sức mạnh về dân số, sự cấu kết cộng đồng, tổ chức bản mường
chặt chẽ, người Thái Đen đã nổi bật lên ở Mường Lò với tư cách là dân chủ thể. Đó
cũng là đặc điểm về sự xen kẽ đa dạng địa hình phong phú của dải đất hình chữ s, từ
đó đã tạo ra đặc điểm về sự xen kẽ của các dân tộc Việt Nam trong 54 dân tộc anh em
nói chung và vùng đất Mường Lò nói riêng.
* Hoạt động kinh tế
Mường Lò - vựa lúa lớn thứ hai của khu vực Tây Bắc, từ lâu đã nổ tiếng với
“gạo trắng, nước trong” qua câu ca:
“Mường Lò gạo trắng nước trong,
Ai đi đến đó lòng không muốn về”.
Cánh đồng Mường Lò rộng lớn, bằng phẳng, đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa rất
thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp với nhiều loại gạo ngon, đặc sản (nếp Tú Lệ,
tẻ Mường Lò). Đây là điều kiện thuận lợi cho việc định cư, tụ cư và sinh sống lâu đời
của người Thái Đen nơi đây cũng như một số dân tộc khác. Với truyền thống lâu đời
người Thái Đen ở Mường Lò vẫn giữ được truyền thống canh tác nông nghiệp lúa
nước, đây là hoạt động kinh tế chủ đạo. Người dân nơi đây từ lâu đã có kỹ thuật cao
ừong việc thâm canh tăng vụ, xây dựng hệ thống thủy lợi phù hợp. Trước đây đồng
bào chỉ ừồng lúa nếp một năm một vụ, sau này đồng bào học theo người Kinh đã
trồng lúa tẻ và từ một vụ lên hai vụ ừong năm. Người Thái Đen nơi đây nổi tiếng với
kỹ thuật canh tác như phương pháp “dẫn thủy nhập điền” bằng hệ thống mương - phai
- lái -lịn, mà trong đó chiếc cọn nước là một phát minh lớn của đồng bào trong việc
lợi dụng chính sức nước để đưa nước từ thấp lên cao, phương pháp “Hỏa - canh - thủy
- nậu” (đốt rơm rạ cày bừa ngâm ngấu để cấy) để sản xuất nông nghiệp, hệ thống này