TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
ĐINH THỊ THỦY NGÂN
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY
GIÁ TRỊ VẰN HOÁ TRUYỀN THỐNG CỦA
NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ, YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Ngưòi hướng dẫn khoa học:
ThS. Hoàng Thanh Son
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Để khóa luận tốt nghiệp hoàn thành và được phép bảo vệ, chúng tôi
đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân và đơn vị.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến:
- Giảng viên hướng dẫn Thạc sĩ Hoàng Thanh Sơn - người đã tận
tình giúp đỡ tôi ừong suốt quá trình học tập và nghiên cứu giúp nhờ đó tôi có
được những định hướng đúng đắn trong suốt thời gian thực hiện khóa luận
tốt nghiệp.
- Thầy, cô phản biện - những người đã góp ý chân thành, thẳng thắn
để tôi hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp của mình.
- Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn đến gia đình và những người thân
yêu của tôi đã có những động viên, khích lệ và chia sẻ để tôi có thể vượt qua
3. Lịch sử nghiên cứu đề tài............................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................... 4
5. Mục đích nghiên cứu................................................................................. 4
6. Đóng góp của đề tà i................................................................................... 4
7. Bố cục của khoá luận................................................................................. 5
Chương 1. Cơ SỞ LÍ LUẬN VÀ THựC TIỄN CỦA VIỆC GIỮ GÌN VÀ
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI
ĐEN Ở MƯỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁ I.......................................................... 6
1.1. Cơ sở lí luận............................................................................................ 6
1.2. Cơ sở thực tiễn......................................................................................11
Chương 2. NHŨNG GIÁ TRỊ VĂN HOÁ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI
THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI.............................................. 25
2.1. Văn hoá vật chất...................................................................................25
2.2. Văn hoá tinh thần.................................................................................. 31
2.2.4. Dân ca, dân vũ.................................................................................... 44
Chương 3. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ GIỮ GÌN VÀ
PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI THÁI
ĐEN Ở MƯỜNG LÒ TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY............................. 49
3.1. giá tri và hạn chế cuả văn hóa người Thái Đen ở Mường Lò ừong thời
đại ngày nay................................................................................................. 49
3.2. Phương hướng để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của người Thái
Đen ở Mường Lò - Nghĩa Lộ...................................................................... 53
3.3. Giải pháp để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của người Thái Đen ở
Mường L ò .....................................................................................................54
3.4. Khuyến nghị để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Thái Đen
ở Mường Lò - Nghĩa L ộ .............................................................................. 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 57
PHỤ LỤC
1
và phát huy văn hoá dân tộc Thái ở Tây Bắc nói chung và người Thái Đen ở
Mường Lò nói riêng là vừa góp phần thấy được bản sắc văn hoá của tộc người
Thái trong giai đoạn hiện nay.
Văn hoá của người Thái Đen ở Mường Lò rất phong phú và đa dạng, về
cơ bản nó thể hiện giữa những giá ttị văn hoá rất đặc trưng của người Thái
Đen nơi đây, về văn hoá vật chất cũng như văn hoá tinh thần. Cho đến nay
các giá trị văn hoá truyền thống hầu như không còn nguyên vẹn, nhiều giá trị
đang bị phai nhạt và có nguy cơ mất đi hoàn toàn, nên việc nghiên cứu về văn
hoá của người Thái Đen ở Mường Lò là một việc làm có ý nghĩa trong giai
đoạn hiện nay, qua đó để thấy được mặt tốt mặt chưa tốt của nó để đưa ra
những biện pháp tối ưu cho việc giữ gìn và phát huy những nét đẹp văn hoá
đồng thời loại bỏ những hủ tục lạc hậu, những hủ tục mê tín dị đoan. Nhằm
góp phần giáo dục thế hệ trẻ biết tự hào về văn hoá đặc sắc của quê hương của
dân tộc mình.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước thì văn hoá có một vai trò quan trọng,
văn hoá là một trong ba mặt trận hàng đầu của công cuộc xây dựng đất nước
trong nghị quyết Trung Ương 5 khoá VIII của Đảng đã chủ trương: Xây dựng
nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc. Đây được coi là một
chủ trương đúng đắn trong giai đoạn hiện nay.
Với những lí do như trên, Tôi đã chọn đề tài “Giữ gìn và phát huy giá
trị văn hoá truyền thắng của người Thái Đen ở Mường Lò, Yên Bái”. Làm
đề tài khoá luận của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực văn hoá của người Thái Đen ở
Mường Lò, Yên Bái bao gồm hai nội dung chính là văn hoá vật chất và văn
hoá tinh thần.
sử thi của ngưòi Thái là “Quắm tố mương” (kể chuyện bản mường) và “Táy
3
pú xấc” (dõi theo bước đường chinh chiến của cha ông) là hai tác phẩm đã
dựng nên quá trình di cư và sinh sống của người Thái Đen. Những công trình
trên ít nhiều có nghiên cứu về một số mặt của văn hoá Mường Lò, nhưng
chưa đi sâu vào nghiên cứu có hệ thống, chi tiết về văn hoá truyền thống của
người Thái Đen nơi đây. Vì thế đây cũng là một trong những lí do khiến tôi
chọn đề tài và địa điểm này để nghiên cứu ừên cơ sở nghiên cứu sâu thực
trạng văn hoá của người Thái Đen ở Mường Lò hiện nay để có phương hướng
đề ra các biện pháp cụ thể trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hoá của
người Thái Đen trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá hiện nay là
việc làm có ý nghĩa lí luận mà vừa đáp ứng được nhu cầu của hiện thực.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã sử dụng những phướng của khoa học
lịch sử như: phương pháp lôgic, phương pháp phân tích tổng hợp.
Ngoài ra còn sử dụng những phương pháp khác nhau như: quan sát, và
ghi chép lại những tư liệu qua truyền miệng trong nhân dân.
5. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm giới thiệu về nét văn hoá truyền thống của
người Thái Đen ở Mường Lò, Yên Bái. Bao gồm giá trị văn hoá vật chất và
văn hoá tinh thần.
Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy những giá
trị văn hoá truyền thống của người Thái Đen ở Mường Lò, vốn đang bị mai
một dần trong quá trình phát triển dưới tác động của nền kinh tế.
6. Đóng góp của đề tài
Khoá luận đi sâu vào việc tìm hiểu về nét sinh hoạt văn hoá của người
Thái Đen ở Mường Lò, là một vùng đất chứa đựng nhiều giá tri văn hoá cổ, là
NGƯỜI THÁI ĐEN Ở MƯỜNG LÒ, TỈNH YÊN BÁI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niêm văn hoá
m
Khái niệm văn hóa là một khái niệm đa chiều với nhiều gốc cạnh, cho
đến ngày nay người ta đã thống kê hơn bốn trăm định nghĩa khác nhau về văn
hóa. Song các nhà văn hóa đều có chung một nhận định đó là: văn hóa có văn
hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
Từ “Văn hóa” bắt nguồn từ tiếng la tinh ở Phương Tây “Cult” ban đầu
có nghĩa là canh tác đất đai và gieo trông thực vật. Sau này với sự phát triển
lịch sử thì văn hóa mang một ý nghĩa mới đó là sự mở rộng kiến thức, bồi
dưỡng về thể chất và tinh thần hay là “trồng trọt tinh thần”.
Sang thế kỷ XVII - XVIII thuật ngữ văn hóa có ý nghĩa là “Canh tác
tinh thần ” bên cạnh nghĩa gốc là quản lý nông nghiệp, canh tác nông nghiệp,
cho đến tận thế kỷ thứ XI thuật ngữ “văn hóa” được các nhà nhân loại học
Phương Tây sử dụng như một danh từ chính.
Còn ở Phương Đông thì từ “văn hóa” có ừong đời sống ngôn ngữ rất
sớm, trong Chu Dịch (Trung Quốc) có “quan hồ dĩ nhân hóa thành thiên hạ”
nói đến phép tắc để giải hóa làm cho thiên hạ được khai hóa, theo quan niệm
của Trung Quốc lấy học thuyết Nho Gia là chính với nội dung chủ yếu của
văn hóa là: thi, thư, lễ, nhạc. Còn ừên lĩnh vực chính trị là luôn thường, đạo
lý, chế độ lễ nghi và hàng loạt những quan niệm tập tục lễ giáo.
Theo quan niệm của Chủ nghĩa Mác -Lênin thì “Văn hóa” chỉ gắn liền
với con người và xã hội loài người, con người vừa sáng tạo ra bản thân mình
vừa đồng sáng tạo ra thế giới văn hóa. Trong tác phẩm “Phê phán cương lĩnh
6
truyền thống, lối sống”; “Văn hóa là năng lực sáng tạo” của một dân tộc.
7
“Văn hóa là bản sắc” của một dân tộc, là cái phân biệt dân tộc này với dân
tộc khác.
Vì vậy, có thể nói rằng văn hóa là một khái niệm mở, là một phạm trù
rộng lớn phong phú và đa dạng, các định nghĩa khác nhau về văn hóa đã đưa
ra không nhằm bài trừ nhau mà bổ sung cho nhau làm khái niệm văn hóa càng
ừở nên đày đủ, toàn diện hơn.
1.1.2. Khái niêm bản sắc văn hóa
Bản sắc văn hóa dân tộc nếu nói theo triết tự thì “bản” là gốc, “sắc” là
mầu có nghĩa là mầu sắc ban đầu chưa bị pha ừộn gọi là bản sắc. Theo tạp trí
cộng sản (số 13 -1997) đặc thù của bản sắc riêng biệt của đời sống sinh hoạt
của xã hội của mỗi cộng đồng, dân tộc từ cách ăn mặc, ở, đi lại... cho đến
chiều sâu tâm hồn, tư duy và lối sống ứng xử.
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững,
những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc được vun đắp nên trong lịch sử đâu
ừanh hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Vì thế, nó kết tinh những gì đặc
sắc, đẹp nhất, độc đáo nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, biểu hiện
những giá trị đó là lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết,
ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xóm, Tổ quốc, đức tính càn
cù trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống.
Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể các giá trị đặc trưng bản chất của văn
hóa dân tộc, được hình thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu
dài của đất nước, các giá trị đặc trưng mang tính bền vững, trường tồn.
Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được hiểu một cách đa chiều cóc cách
nhìn thuận chiều và ngược chiều vì vậy mà bản sắc văn hóa Việt Nam gồm
các nội dung sau:
tưởng...song, cách tiếp cận phổ biến nhất và thường được nhiều người thừa
nhận hon cả là cách tiếp cận chia văn hóa thành hai lĩnh vực: Văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần, từ đó có các dạng tồn tại của văn hóa (văn hóa vật thể và
văn hóa phi vật thể) chính là cơ sở của cách phân chia này.
9
Văn hóa vật chất: là toàn bộ những giá trị của con người được thể hiện
trong các sản phẩm vật chất do xã hội tạo ra, kể cả từ liệu sản xuất cho đến
các tư liệu lao động của xã hội. Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của
xã hội, các sản phẩm do xã hội tạo ra cũng khác nhau, phản ánh các giai đoạn
khác nhau của xã hội... Những sản phẩm vật chất của con người được tạo ra
như đồ ăn, đồ mặc, đồ sinh hoạt hàng ngày, phương tiện đi lại...là những giá
trị văn hóa vật chất. Cùng với quá trình lao động sản xuất hoạt động khoa học,
con người không ngừng chinh phục tự nhiên, tôn tạo nên những cảnh đẹp
thiên nhiên để chúng ừở thành những danh lam thắng cảnh, những kỳ quan
phục vụ chính con người đó là Vịnh Hạ Long, phố cổ Hội An, Nhã nhạc cung
đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên... những giá trị văn hóa vật chất ngày các
phong phú theo sự phát triển của xã hội.
Văn hóa tinh thần là toàn bộ giá trị của đời sống tinh thần, bao gồm khoa
học và các mức độ áp dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất và sinh hoạt,
trình độ học vấn, giáo dục, y tế, nghệ thuật, chuẩn mực đạo đức ừong hành vi
của các thành viên ừong xã hội, trình độ phát triển nhu cầu của con người.
Văn hóa tinh thần con người thể hiện trong phong tục tập quán, trong những
phương thức giao tiếp và ngôn ngữ.
Việc phân chia văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần chỉ là tương đối,
không thể tách biệt giữa các lĩnh vực. Bởi lẽ ngay ừong văn hóa vật thể lại có
văn hóa phi vật thể và ngược lại. Những giá trị văn hóa thường găn với cá
nhân đó là thể hiện tính xã hội, cá nhân tạo ra sản phẩm văn hóa dựa trên
Đà tạo ra những thung lũng và được phù xa bồi lấp khá rộng ở Tú Lệ, Gia Hội
và Mường Lò.
Cánh đồng Mường Lò rộng khoảng 2300 ha, dốc dần từ phía nam xuống
phía bắc. Độ cao tuyệt đối so với mực nước biển từ 260 đến 280 mét. Cao nhất
của vùng lòng chảo là địa bàn xã Phúc Sơn, Thạch Lương (thuộc huyện Văn
Chấn), thấp nhất là xã Sơn A, Sơn Lương (thuộc Thị xã Nghĩa Lộ). Mường Lò
được thiên nhiên ưu đãi với hệ thống sông ngòi phong phú chảy vào cánh
11
đồng như: Ngòi Thia (156km) phàn chảy vào lòng chảo là 20km, bắt nguồn từ
xã Phúc Sơn kết thúc tại xã Sơn Lương; Ngòi Nậm Tăng; Ngòi Nhì; ngòi
Nậm Đông (Ngòi Nung); ngòi Min (Gia Hội). Các suối, ngòi này là nguồn
thủy sinh cho việc cấp nước ở cánh đồng Mường Lò - cũng là nơi có tổng chữ
năng về điện khá lớn, cung cấp thức ăn về thủy sản. Toàn bộ vùng lòng chảo
Mường Lò là đất phù xa của các con sông ngòi bồi tụ từ xa xưa (thời cổ). Đất
vùng ven lòng chảo là đất diệp thạch (được phân hóa từ cây) và sa thạch
(được phân hóa từ đá) do đất ừôi từ núi sau những ừận mưa. Đất đai ở
Mường Lò vì thế chủ yếu là đất phù sa, đây là điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển nông nghiệp, thâm canh mùa vụ của đồng bào ở nơi đây.
Khí hậu nơi đây mang tính chất á nhiệt đới. Trong năm có hai mùa rõ rệt:
mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (thường gây lũ lụt), mùa khô từ tháng 11
đến tháng 4 năm sau (lượng mưa ít, thời tiết khô hanh, do đó mùa đông ở đây
lạnh nhưng không ẩm ướt). Cũng do địa thế của vùng lòng chảo nên ở đây ít
có bão lớn mà chỉ có lốc cục bộ hoặc lũ quét.
Đặc điểm khí hậu như trên có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống cũng như
tập quán của người Thái nơi đây, nhất là văn hóa mặc. Khí hậu nơi đây phù
họp cho việc trồng cây bông, cây chám, cây dâu - nguyên liệu chính để làm ra
ừang phục, thêm vào đó người Thái có tập quán trồng cây chàm, cây hỏm
Quá trình lịch sử và sự thay đổi địa giới hành chính, Mường Lò nằm
trong địa giới huyện Văn Chấn và sau này lại thuộc cả hai đơn vị hành chính
là thị xã Nghĩa Lộ. Như vậy, khi nhắc đến Văn Chấn - Nghĩa Lộ là nói đến
Mường Lò. Mường Lò trở thành điểm kết nối, hội tụ, kết tinh văn hóa đậm
nét, riêng có của người Thái Đen ở Yên Bái nói riêng và trung tâm văn hoá
của người Thái Tây Bắc Việt Nam nói chung.
* Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội
Nằm trong khu vực hội tụ đông dân tộc anh em, khu vực Mường Lò có
17 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc Thái chiếm số đông, cùng một
13
số dân tộc khác như dân tôc Kinh, dân tộc Tày, dân tộc Mường, Mông, Dao,
Khơ Mú... cư dân của Mường Lò mang đặc trưng của cư dân thành thị miền
núi Tây Bắc.
về nông - lầm nghiệp: Mường Lò là một trong bốn cánh đồng lớn của
Tây Bắc. Cánh đồng Mường Lò rộng lớn, bằng phẳng, đất đại màu mỡ, khí
hậu ôn hòa rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với nhiều loại gạo ngon,
đặc sản. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc định cư, tụ cư và sinh sống lâu
đời của người Thái Đen nơi đây cũng như các dân tộc anh em khác.
Trong sản xuất nông nghiệp, đồng bào đã tích cực chuyển đổi cơ cấu
mùa vụ, giống cây trồng, công tác khuyến nông được cán bộ địa phương đẩy
mạnh, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Vì vậy năng xuất
một số loại cây trồng nhất là cây lúa tăng nhiều so với những năm trước đây.
Sản xuất lâm nghiệp quy mô nhỏ.
về tiểu thủ công nghiệp: Các ngành nghề thủ công truyền thống tiêu biểu là
dệt vải thổ cẩm, chế biến gỗ, các ngành cơ khí sửa chữa, cớ khí xây dựng, sản xuất
Lào Cai. Dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục bước đầu được mở rộng trong những
năm gần đây.
Văn hóa - xã hội: Cùng với sự phát triển về kinh tế, các mặt văn hóa xã
hội ở Mường Lò đạt trình độ phát triển khá cao. Khu di tích lịch sử Căng Đồn Nghĩa Lộ đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp
quốc gia, là nhà tù (căng) giam giữ tù chính trị của thực dân Pháp. Đây không
chỉ là nơi tưởng niệm mà còn là một điểm du lịch thu hút du khách đến tìm
hiểu truyền thống lịch sử cách mạng, văn hóa của địa phương; Bảo tàng Yên
Bái - Chi nhánh Nghĩa Lộ, Khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được
công nhận là một trong hệ thống Bảo tàng Hồ Chí Minh cả nước. Nhiều thôn,
bản, tổ dân phố đã có nhà văn hóa. Nhìn chung đời sống vật chất tinh thân của
đồng bào các dân tộc trên địa bàn khu vụ đã được cải thiện ữong những năm
gần đây, song tỷ lệ hộ nghèo cũng còn khá cao (năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo
theo tiêu chí mới còn chiếm đến 31,7%).
15
Ở Mường Lò cùng với đa số người dân theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên,
cha mẹ và những người có công với quê hương, đất nước còn một bộ phận
giáo dân theo đạo Công giáo. Với chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự
do tôn giáo của Đảng và Nhà nước, mỗi người dân theo tôn giáo cũng như
không theo tôn giáo ở Mường Lò đều lấy mục tiêu sống đoàn kết, tương thân,
tương ái, chung sức, chung lòng xây dựng quê hương đất nước.
Là một miền đất giàu truyền thống văn hóa, Mường Lò được coi là xứ sở
của nhiều lễ hội, cái nôi tạo nên sắc thái văn hóa khá riêng biệt, đậm đà bản
sắc dân tộc, nhất là mỗi khi Tết đến Xuân về, mùa màng thu hoạch xong xuôi.
Lễ hội nào cũng chứa đựng một tâm tưởng vừa kín đáo, vừa lan tỏa, bao trùm
lên nó là sự thờ cúng, tôn vinh các vị thần linh, các siêu nhân có công với bản,
với quê hương, đất nước, với tổ tiên. Lễ hội cũng là dịp giải trí, vui chơi giao
lưu, củng cố tình làng xóm, từ lễ hội này trai gái được giao duyên, nhiều đôi
Đúc, Ta Đẩu, Lặp Li, Lò Li, Lạng Ngạng, Lạng Quang và Lạng Chượng...Tạo
Lò chia đất cho các con đi làm chúa. Ta Đúc ăn Lò Luông; Ta Đẩu ăn Lò
Cha; Lặp Li ăn Lò Gia; Lò Li ăn Mường Min; Lạng Ngạng ăn Mường Vân,
Mường Vành; Lạng Quang ăn Xí xam bản Lọm...Riêng Lạng Chượng là con
út Tạo Lò không có mường để “ăn”...Chúa Lạng Lượng...triệu tập binh tướng,
dân chúng, kéo nhau đi tìm mường...
Khi người Thái Đen xuất hiện ở Mường Lò, vùng lòng chảo này đã được
chia làm ba vùng: Mường Lò Luông (tức là Mường Lò Lớn là nơi trung tâm
của vùng lòng chảo, cũng là trung tâm của toàn châu mường); Mường Lò Gia
(gọi tắt là Mường Gia) và Mường Lò Cha (gọi tắt là Mường Cha). Và do đó
Mường Lò là Mường Xam Lò (Mường Ba Lò). Ngoài phạm vi vùng lòng chảo,
Mường Lò còn gồm những mường nhỏ khác như Mường Hồng, mường Hằng
(này thuộc huyện Trấn Yên - Yên Bái); mường Nặm, mường Piu (nay là xã
Thượng Bằng là huyện Văn Chấn, tinh Yên Bái, mường Mẻng, mường Pục
(nay thuộc xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái); mương Min (nay là xã
Gia Hội, huyện Văn Chấn; mường Lùng (nay là xã Tú Lệ, huyện Văn Chấn).
17
Trong lịch sử người Thái Đen, Mường Lò là noi sinh quán của Lò Lạng
Chượng - người sau này dẫn dắt người Thái Đen đi chinh phục những vùng
đất mới: vùng Sông Đà, sông Mã và xâm nhập sâu hơn nữa những vùng đất
đai miền Tây Bắc, kết thúc bằng việc dựng mường trung tâm ở cánh đồng
Mường Thanh ngày nay là Điện Biên, biến nơi đây thành nơi thu hút người
Thái từ nhiều miền về hội tụ cư trú. Đến bây giờ người Thái Đen vẫn giữ
được tập tục mỗi khi cha mẹ, ông bà qua đời đều đưa hồn người chết trở lại
quê Mường Lò quê tổ rồi mới tiếp tục về với Đẳm (tổ tiên) ở cõi ừời.
Các tác phẩm của người Việt như “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “Đại
Việt sử ký toàn thư” của Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê, “Kiến văn tiêu
khỏi thị xã Nghĩa Lộ và xây dựng trung tâm huyện tại khu vực xã Sơn Thịnh.
Đất Mường Lò cổ ngày trước rất rộng trên cả bốn huyện phía Tây của
tỉnh Yên Bái, không riêng ở vùng lòng chảo Mường Lò; bởi vậy mà địa bàn
cư trú của người Thái rất rộng. Cùng với người Thái, các dân tộc anh em khác
cùng cư trú đã tạo ra một vùng văn hóa đa sắc màu, phong phú và đặc sắc.
Mường Lò ngày này không chỉ còn là một vùng đất cổ giàu tiềm năng và phát
triển du lịch sinh thái, du lịch nhân văn và văn hóa tộc người mà còn là vùng
đất lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa cổ truyền mang tính chất nguyên sơ của
văn hóa truiyền thống.
1.2.1.2. Người Thái Đen ở Mường Lò
* Tên gọi, dân sổ và sự phân bổ dân cư
Ở Yên Bái, tên người Thái được dùng chính thức và phổ biến. Người Thái
còn tự gọi mình là “Táy”, “Táy Khao' là Thái Trắng, “Táy Đăm” là Thái Đen.
Người Thái ở Yên Bái có khoảng 41.000 người chiếm 6,1% dân số toàn
tỉnh. Riêng ở Mường Lò tập trung khoảng 90% tổng dân số người Thái ở Yên
Bái, một số ít còn lại cư trú ở huyện Trạm Tấu và huyện Mù Cang Chải.
Người Thái Đen sống tập trung tại các bản xung quanh cánh đồng
Mường Lò men theo những con suối, thuộc địa giới hành chính của một số xã
19
vùng trong của huyện Văn Chấn và địa bàn của thị xã Nghĩa Lộ. Người Thái
ở Mường Lò cũng sống xen kẽ với một số dân tộc khác như: H'Möng, Dao,
Hoa, Mường, Khơ Mú, Kinh... do đó cũng chịu sự tác động và ảnh hưởng qua
lại nhất định về văn hóa, kinh tế, xã hội.
Mặt khác một số bộ phận người Thái Đen sinh sống ở khu vực thị xã
Nghĩa Lộ, đặc biệt ở các phường và các khu trung tâm gàn trục đường giao
thông chính, đã ít nhiều bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa. Tuy vây, đa số
người Thái Đen noi đây vẫn giữ được những nét văn hóa cơ bản của dân tộc