Tư tưởng hồ chí minh về vai trò của phụ nữ và sự vận dụng vào công tác vận động phụ nữ ở xã trực thái, huyện trực ninh, tỉnh nam định hiện nay - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
===£oQca===

ĐẶNG THỊ VÂN

T ư TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÊ VAI TRÒ
CỦA PHỤ NỮ VÀ S ự VẬN DỤNG VÀO CÔNG TÁC
VẬN ĐỘNG PHỤ NỮ Ở XÃ TRựC THÁI,
HUYÊN TRƯC NINH, TỈNH NAM ĐINH HIÊN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Tư tưởng Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:
Th.s Phạm Thị Thúy Vân

HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo,
Th.s Phạm Thị Thúy Vân - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tận
tình để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục chính
trị, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Tư tưởng Hồ Chí Minh và các bạn sinh viên
bong nhóm khóa luận đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2016

2.1. Sự cần thiết phải yận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ
vào viêc đẩy manh công tác vân đông phu nữ ở xã Trưc Thái, huyên Trưc
Ninh, tỉnh Nam Định hiện nay..........................................................................26
2.2. Công tác vận động phụ nữ ở xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam
Định giai đoạn từ 2011- 2016............................................................................ 35
2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác vận động phụ nữ ở
xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định............................................ 46
KẾT LUẬN............................................................................................................51
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................. 52


DANH MỤC C H Ữ V IẾT TẮT

LHPN

Liên hiệp phụ nữ

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh đã nhận rõ vai trò của phụ nữ chiếm một phần

phát triển kinh tế- xã hôi của địa phương, tình trạng thiếu viêc làm, phụ nữ
nghèo.. .diễn ra phức tạp. Do đó, phát huy vai trò của phụ nữ thông qua công tác
vận động phụ nữ ở xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định là yêu cầu
cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của
phụ nữ và sự vận dụng vào công tác vận động phụ nữ ở xã Trực Thái, huyện
Trực Ninh, tỉnh Nam Định hiên nay ” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động phụ nữ được nhiều nhà nghiên
cứu đề cập đến vói những hình thức và mức độ khác nhau:
Nhóm công trình là sách:
Nguyễn Văn Hùng (2005), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác
dân vận trong thời kì mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Linh Khiếu
(2003), Nghiên cứu phụ nữ giới và gia đình, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội;
Dương Thị Minh (2004), Gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong
giai đoạn hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nghiên cứu vấn đề phụ nữ trong tư tưởng Hồ Chí Minh có một số ấn phẩm
của Nhà xuất bản Phụ nữ như: “Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ”
(1970), “Bác Hồ vói phong trào phụ nữ Việt Nam” (1982); “Hồ Chí Minh với sự
nghiệp giải phóng phụ nữ” (1990). Tất cả các công trình trên đều đi vào phân
tíchnội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giải phóng phụ nữ.

2


Nhóm công trình là luận văn, luận án:
Đặng Thị Linh, “Vấn đề phụ nữ trong gia đình ở Việt Nam hiện nay. Thực
trạng và giải pháp”, (Luận án phó tiến sỹ triết học, Viện nghiên cứu chủ nghĩa
Mác-Lênin và tu tuởng Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1997). Ở Luận án này, tác giả đã
đi vào nghiên cứu thực trạng về vấn đề phụ nữ trong gia đình, tác giả đưa ra một

3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ và sự vận dụng
vào công tác vận động phụ nữ ở xã Trực Thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam
Định hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ vị trí, vai trò của phụ nữ, công tác vận động phụ nữ theo tư tưởng
Hồ Chí Minh.
- Chỉ ra thực trạng về công tác vận động phụ nữ trên địa bàn xã Trực Thái,
huyện Trực Ninh, tinh Nam Định theo tư tưởng Hồ Chí Minh và nguyên nhân
của thực trạng đó.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác vận động phụ nữ trên
địa bàn xã.
4. Đổi tượng và phạm vỉ nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng
Đề tài tập trung vào nghiên cứu sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vai
trò của phụ nữ vào việc nâng cao hiệu quả công tác vận động phụ nữ trên địa bàn
xã Trực thái, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của phụ nữ và sự
vận dụng vào công tác vận động phụ nữ trên địa bàn xã Trực Thái, huyện Trực
Ninh, tỉnh Nam Định giai đoạn từ 2011 - 2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lí luận: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, chính sách của Nhà
nước, nghị quyết của Đảng bộ địa phương về công tác vận động phụ nữ.
4


Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng
các phương pháp: duy yật biện chứng, duy yật lịch sử, logic, phân tích và tổng

Hai Bà Trưng và là lực lượng trong quốc tế phụ nữ” [10, tr.339]. Thêm nữa, Bà
Triệu với câu nói đầy khí phách: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp sóng dữ,
chém cá kình ở biển Đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi vòng chìm đắm,
chứ đâu có chịu cúi đầu khom lưng làm tì thiếp cho người” [12, tr.245]. Bằng
bản lĩnh chỉ huy chiến trận, Bà đã lãnh đạo đội quân làm nên thắng lọi lẫy lừng,
đuổi cổ giặc Ngô về nước. Điều đó khẳng định rằng, dù trong trận mạc đầy rẫy
hiểm nguy, đòi hỏi người chỉ huy phải có đầu óc linh hoạt, nhạy bén, dùng binh
khéo thì nữ giới vẫn có thể làm được và làm rất tốt.
Tiếp nối bản lĩnh của các nữ tướng, phụ nữ Việt Nam tiếp tục khẳng định
vai trò, vị trí cũng như khả năng của mình, chẳng hạn như: bà Bùi Thị Xuân thay
cha lãnh đạo nghĩa quân khi cha vừa tử trận, với gồm một đạo quân gần 5000
người, cùng với sự chỉ huy bản lĩnh của Bà, nghĩa quân đã làm cho quân địch
6


nhiều lần thất bại trong đó có trận Trấn Ninh đã đi vào sử sách ở thế kỷ XVIII.
Đến thế kỷ XIX, có một phụ nữ tên thật yến Phi hay còn gọi là “bà Ba Cai
Vàng” đã chỉ huy cuộc nổi dậy của nông dân chống lại triều đại phong kiến nhà
Nguyễn, được nhân dân ta mãi truyền tụng cho đến ngày nay. Bên cạnh đó, phụ
nữ còn tham gia đảm nhiệm công việc tổ chức và quản lý xã hội, ví như: Nguyên
Phi Ỷ Lan từng thay vua Lê Thánh Tông trông coi việc triều đình để Vua yên
tâm khi đem quân đánh Chiêm Thành, đồng thời, gọi ý cho vua trong việc bảo vệ
trâu bò nhằm đảm bảo việc cày bừa của dân gian; Thái hậu Dương Vân Nga,
người đã thay chồng lãnh đạo việc nước, đưa đất nước vượt qua những khó khăn,
thử thách. Ngoài ra, phụ nữ cũng đạt được thành tựu to lớn trong lĩnh vực văn
học, nghệ thuật, ví như: bà Đoàn Thị Điểm, bà Huyện Thanh Quan, bà Hồ Xuân
Hương,... là những nữ sĩ nổi tiếng với những áng thơ đầy khí phách và hoài bão
lớn, đấu tranh chống lại những áp bức, bất công. Thể hiện sự phản kháng lại
những định kiến áp đặt lên vai người phụ nữ trong chế độ phong kiến, những lễ
giáo Khổng, Mạnh. Do hoàn cảnh lịch sử, ở thế kỷ X và XV, nước ta đã phải huy

trong thòi kỳ mới cũng có sự tiếp thu, tiếp nối để khẳng định thêm vị thế của
mình. Người nói: “Như buổi ấy là buổi phong kiến mà đàn bà, con gái còn biết.
Huống chi bây giờ hai chữ “nữ quyền” đã rầm rầm khắp thế” [14, tr.520, 521] và
“Nhờ Phụ nữ Quốc tế mà các đảng cộng sản mới lập ra như đảng ở Java, đảng
viên đàn bà mỗi ngày một thêm nhiều. An Nam cách mệnh cũng phải có nữ giói
tham gia mới thành công, mà nữ giới An Nam muốn cách mệnh thì phải theo
Phụ nữ Quốc tế chỉ bảo” [11, tr.315]. Từ chỗ đánh giá cao vai trò của phụ nữ,
thấy được những phẩm chất tốt đẹp của họ là một phần không thể thiếu, làm nên
sự trọn vẹn của cuộc cách mạng. Người nói: “Các chị em phụ nữ, chẳng những
khôn khéo, hăng hái mà lại gan góc vô cùng” [13, tr.412], “Chị em rất hăng hái,
rất chịu khó và tổ chức rất khéo” [11, tr.412], cho nên, trong hai cuộc kháng
chiến trường kỳ, gian khổ, với chủ trương kháng chiến toàn dân, thành phần phụ
8


nữ là không thể thiếu. Hồ Chí Minh khẳng định: “Toàn dân kháng chiến nghĩa là
toàn cả dân, ai cũng đánh giặc. Bất kỳ đàn ồng đàn bà, ngưòi già con trẻ, ai cũng
tham gia kháng chiến” [18, tr.540]. Cả trong lòi kêu gọi toàn quốc kháng chiến,
Người lại một lần nữa nhấn mạnh: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già,
người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc” [10, tr.534]. Bởi vì, phụ nữ
không chỉ giỏi trong lao động, sản xuất, trong công việc gia đình, nữ công gia
chánh “các chị em phụ nữ, họ tranh nhau giúp nấu cơm, gánh nước, giặt áo, vá
quần cho bộ đội, họ coi các chiến sĩ như anh em ruột” [19, tr.84]. Từ đó, Người
yêu cầu: “Ngày xưa, Bà Trưng, Bà Triệu, đã phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu
dân. Trong lịch sử của dân tộc ta nhất là những thời kỳ cách mạng và kháng
chiến, phụ nữ đã rất dũng cảm.
Hiện nay, phụ nữ đang góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ - Diệm ở miền Nam” [19, tr.523].Phụ
nữ đã luôn có mặt trong các cuộc khỏi nghĩa và đấu tranh, giành độc lập và
thống nhất tổ quốc. Họ tham gia vói số lượng ngày càng đông, ý chí quyết tâm

lớn vào công cuộc khôi phục đất nước lúc bấy giờ: “Từ ngày dân Việt Nam tranh
được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến sĩ,
tăng gia sản xuất. Nào chống nạn mù chữ, tham gia tuyển cử, Tuần lễ Vàng, Đòi
sống mói, v.v..., việc gì phụ nữ cũng hăng hái.Các bà đại biểu nghe vậy, rất là
vui lòng. Rồi ân cần gửi lòi thân ái chúc phụ nữ Việt Nam gắng sức phấn đấu, và
mong rằng phụ nữ ta sẽ giúp sức vào cuộc vận động phụ nữ thế giới” [20,
tr.394].
Không lâu sau đó, thực dân Pháp lại tái chiếm.Phụ nữ Việt Nam, một lần
nữa, đứng lên cùng toàn dân kiên cường kháng chiến chống Pháp. Họ bất chấp
gian lao nguy hiểm, bất kể không gian, thòi gian, bảo vệ cán bộ cách mạng bằng
một sự lạc quan, tin tưởng vào sự thắng lọi của cách mạng. Người ca ngợi:
“Trong các chiến dịch, phụ nữ đi dân công, tải lương thực, đạn dược, làm đường,
10


v.v... rất đông; 2/3 số dân công là phụ nữ. Mặc dầu bị máy bay địch theo dõi thả
bom dữ dội nhưng chị em vẫn vui vẻ ca hát, động viên nhau làm tròn nhiệm vụ”
[22, tr.510]. Trong các vùng địch tạm chiếm, thực dân Pháp âm mưu dùng người
Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, tình thế cách mạng rơi
vào cảnh khốn khó. Thế nhưng phụ nữ đấu tranh rất bền chí, chị em kiều bào ở
nước ngoài cũng ủng hộ kháng chiến trong nước về mọi mặt; phụ nữ trong nước
thì đào hầm bí mật để nuôi giấu cán bộ, gan dạ, luồn lách qua các đồn bốt, vượt
qua mạng lưới do thám của kẻ thù để chuyển thư từ, công văn một cách an toàn.
Nhiều chị kiên trì, móc liên lạc trong các thôn xóm để xây dụng cơ sở, gây dụng
phong trào, vận động những người lầm đường, lỡ bước theo giặc quay về vói
cách mạng. Tích cực chăm sóc thương binh, bộ đội bằng tất cả tình yêu thương
và tấm lòng của mình, Người viết: “Phải chăng vì danh, vì lợi, vì địa vị mà họ
làm như vậy? Không phải. Đó là vì lòng nồng nàn yêu nước. Đó là vì lòng chí
công vô tư mà chúng ta đều phải học tập theo” [23, tr.134]. Người nhiều lần gửi
thư tỏ lòng biết ơn đến các nữ anh hùng, đồng thòi ghi nhận công lao của họ:

hàng vạn chiến sĩ toàn là phụ nữ. Họ rất mưu trí và dũng cảm làm cho địch phải
khiếp sợ và gọi là “đội quân tóc dài”. Phó tư lệnh quân giải phóng là cô Nguyễn
Thị Định. Cả thế giói chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang
cho miền Nam, cho cả dân tộc ta” [14, tr.173]. Ở miền Bắc, phụ nữ cũng tích cực
tham gia đấu tranh nhằm hỗ trợ cho đồng bào và phụ nữ miền Nam chống lại
những hành động dã man của Mỹ - Diệm. Sau chiến lược “chiến tranh đặc biệt”
mà Mỹ đã triển khai và cuối cùng thất bại, chúng liền tiến hành ném bom phá
hoại những thành tựu đầu tiên trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của ta.
Trước tình thế đó, phụ nữ miền Bắc hăng hái thi đua thực hiện phong trào “ba
đảm đang”, chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội và chi viện tối đa
cho chiến trường miền Nam vói tinh thần “thóc không thiếu một hạt, quân không
thiếu một người”. Hồ Chí Minh cũng đã nhiều lần gửi thư khen ngợi phụ nữ
12


miền Bắc, Người nhấn mạnh: “Trong phong trào thanh niên xung phong chống
Mỹ, cứu nước, nhiều cháu thanh niên gái đã nêu gương dũng cảm trong sản xuất
và chiến đấu như thanh niên gái Vĩnh Linh vừa sản xuất giỏi, vừa chiến đấu giỏi,
tổ cầu đường Trần Thị Lý ở Quảng Bình và tiểu đội 9, đại đội 814 đã bảo đảm
tốt giao thông dưới làn bom đạn, đội dân quân gái ở Nam Ngạn đã góp phần bắn
được nhiều máy bay giặc Mỹ v.v...” [11, tr.174]. Hồ Chí Minh không chỉ đánh
giá cao vai trò của phụ nữ trực tiếp tham gia vào cuộc kháng chiến, Ngưòi còn
đánh giá cao vai trò của các bà mẹ, đã che chở cho bộ đội, chịu đựng mất mát,
đau thương để khuyến khích con em mình đi chiến đấu, Người nói: “Các bà mẹ
chiến sĩ đã khuyến khích con cháu mình vào bộ đội đánh giặc cứu nước. Ngoài
ra còn ân cần nuôi nấng, giúp đỡ, bảo vệ cán bộ và chiến sĩ khác như con cháu
của mình, như: bà mẹ Suốt ở Quảng Bình đã xồng pha bom đạn, không sợ sóng
to gió lớn, suốt ngày đêm chèo thuyền đưa bộ đội cán bộ qua sồng để chiến đấu.
Bà mẹ Cán, người Thái ở Sơn La có sáu con thì hai con đi bộ đội, bốn vào du
kích, bản thân bà mẹ cũng hăng hái vào bạch đầu quân. Bà mẹ Đích ở Thái Bình

cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của người đàn ông dũng cảm có thể làm, dù
nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực” [17, tr.121]. Đồng thời,
Người cũng căn dặn thêm: “Từ đây, phụ nữ ta càng phải gắng sức làm thế nào để
trong thì đoàn kết toàn thể chị em, đặng giúp việc xây dựng nước nhà; ngoài thì
cộng tác vói những đoàn thể dân chủ phụ nữ thế giới. Như thế mới xứng đáng
địa vị của phụ nữ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” [17, tr.395].
1.2.

Các biện pháp phát huy vai trò của phụ nữ theo quan điểm của

Hồ Chí Minh
1.2.1.

Thực hiện phát huy vai trồ của phụ nữ phải gắn liền với công tác

vận động phụ nữ
Theo Hồ Chí Minh, muốn phát huy vai trò của phụ nữ, trước hết phải đẩy
mạnh công tác vận động phụ nữ. Cụ thể:
14


*

về nội dung vận động phụ nữ

Thứ nhất, trên lĩnh vực chính trị: Theo Hồ Chí Minh để phụ nữ tiến bộ thì
trước tiên phải vận động và làm cho họ thực sự hiểu được quyền bình đẳng về
chính trị, nghĩa là phải bắt đầu từ việc hang bị cho phụ nữ công cụ lý luận, tổ
chức họ tự giác tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng chính mình, từ
người dân mất nước trở thành công dân của một nước tự do, độc lập, có chủ

thực giúp đỡ cho phong trào năm tốt không ngừng tiến lên” [22, tr.259]. Khi tiến
hành vận động phụ nữ trên lĩnh vực kinh tế, Hồ Chí Minh đòi hỏi: “Phải đặc biệt
chú ý đến sức lao động phụ nữ. Phụ nữ là đội quân lao động rất đông. Phải giữ
gìn cho phụ nữ để chị em tham gia sản xuất được tốt” [25, tr.194].
Thứ ba, trên lĩnh vực văn hóa, xã hội: Hồ Chí Minh khẳng định: “Một dân
tộc dốt là một dân tộc yếu”, chỉ có tri thức, trình độ mới giải phóng được con
người, đưa con ngưòi tói mọi sự bình đẳng, tiến bộ. Để giải phóng phụ nữ đòi
hỏi phụ nữ phải học tập, nâng cao nhận thức và hiểu biết về mọi mặt.
Ở Việt Nam, do ảnh hưởng của chính sách cai trị, một chính sách “ngu
dân”, hạn chế mở trường học nhằm “không muốn cho dân biết chữ để dễ lừa dối
và bóc lột dân ta” [15, tr.36]. Vì thế, “số người Việt Nam thất học so vói số
người trong nước là 95%, nghĩa là hầu hết người Việt Nam mù chữ” [17, tr. 36],
trong đó phụ nữ chiếm số đông. Ngay sau Cách mạng tháng Tám Hồ Chí Minh
vạch rõ: “Một trong những công việc phải thực hiện cáp tốc trong lúc này là
nâng cao dân trí” [17, tr. 36]. Vì thế, ngay sau khi giành độc lập năm 1945, mặc
dù bộn bề với công việc phát động chiến dịch diệt “giặc dốt” trong cả nước để
xóa dần tình trạng lạc hậu, dốt nát của nhân dân do chính sách ngu dân để lại.
Trong chiến dịch diệt giặc dốt, Người đặc biệt quan tâm tới phụ nữ, bởi lẽ
phụ nữ đã bị “kìm hãm quá lâu”, do vậy, “phụ nữ càng cần phải học, đã lâu chị
em bị kìm hãm, đây là lúc chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng
mình là một phần tử trong nước” [18, tr. 37], có kiến thức tham gia vào công
16


cuộc xây dựng nước nhà. Người cho rằng, chỉ có nâng cao trình độ cho phụ nữ
mới có thể giải thoát họ khỏi những trói buộc của chế độ cũ. Chính sự dốt nát đã
làm cho phụ nữ lâm vào bước đường cùng khổ, nó cũng là nguồn gốc sâu xa dẫn
tới sự kéo dài của những thiên kiến lạc hậu, hà khắc. Do người phụ nữ ít được
học hành, mặt khác bị công việc trói buộc cho nên đầu óc càng “u mê, đần độn”.
Không thể khác, chỉ có nâng cao trình độ văn hóa cho phụ nữ thì mói thực sự

phải giải phóng phụ nữ ra khỏi sự trói buộc của tư tưởng “trọng nam khinh nữ”
ra khỏi sự bất công ngay trong gia đình. Người lên án mạnh mẽ quan điểm “đàn
bà phải quanh quẩn trong bếp” và các hiện tượng phân biệt đối xử với phụ nữ.
Bởi “Như thế thì còn gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là cực kì
dã man” [23, tr.195].
Hồ Chí Minh đòi hỏi bản thân chị em phụ nữ phải có ý chí tự cường, tự lập,
phải đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của mình “chị em phụ nữ không nên ngồi chờ
Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình” [25, tr.524]. Bên cạnh đó,
Người thường xuyên phê phán những quan niệm đơn giản, hình thức về vấn đề
bình đẳng trong gia đình theo kiểu “Hôm nay anh rửa bát, quét nhà, hôm sau em
rửa bát, quét nhà, nấu cơm”. Đáng trách hơn cả là trước những hành động xấu xa
và phạm pháp đối với phụ nữ, chi bộ, chính quyền và nhân dân địa phương
thường nhắm mắt làm ngơ, như thế thì làm sao đảm bảo quyền lọi của phụ nữ
được. Hồ Chí Minh khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa gia đình và xã hội,
Người từng nói: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia
đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình”
[47, tr.523]. Khi phụ nữ được bình đẳng về mặt xã hội sẽ có điều kiện để xây
dựng hạnh phúc gia đình, góp phần để nam giới đề cao, tôn trọng phụ nữ. Do đó,
muốn đạt tói sự tiến bộ của phụ nữ phải bắt đầu giải phóng họ từ gia đình, gắn
liền vói giải phóng họ ngoài xã hội, nâng cao vị thế của phụ nữ ngoài xã hội sẽ

18


tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào công tác xã hội, tiến tói
bình đẳng vói nam giới trong nhiều lĩnh vực.
Như vậy, vấn đề vận động phụ nữ tiến tới bình đẳng trên mọi lĩnh vực và
trong gia đình đã được Hồ Chí Minh đánh giá: “Dưới chế độ Việt Nam dân chủ
cộng hòa, phụ nữ ta đã được bình quyền về mọi mặt” [22, tr.132]. Sự nghiệp đổi
mới sẽ tiếp tục phát triển và làm sâu sắc thêm tư tưởng Hồ Chí Minh.

lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hiểu rõ đối tượng
hoàn cảnh, tìm mọi cách để giải thích cho mọi người hiểu rõ.
Tóm lại, để công tác phụ vận ngày càng phát triển đòi hỏi phải có phương
pháp vận động khéo: “Khéo vận động, tổ chức và hướng dẫn thì chị em phụ nữ ấy
có tác dụng lớn đối với xã hội. Cách làm phụ vận Trung Quốc đơn giản, thiết thực
và kết quả to” [16, tr.132]. Đó là một lời khuyên, đồng thời cũng chỉ ra cho chúng ta
cách làm hiệu quả nhất đối với công tác vận động phụ nữ của Hồ Chí Minh.
*

về lực lượng tham gia vận động phụ nữ

Hồ Chí Minh yêu cầu: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ đoàn thể và
tất cả hội viên của tổ chức nhân dân (Liên Việt, Việt Minh...) đều phải phụ trách
dân vận” [15, tr.699]. Người cũng chỉ ra yêu cầu cụ thể để mỗi tổ chức, đoàn thể
trong hệ thống chính trị quán triệt tốt hơn nhiệm vụ của mình.
Thứ nhất, đối với Đảng: Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc vai trò lãnh đạo
của Đảng vói sự nghiệp cách mạng nói chung và vói phụ nữ nói riêng. Ngay từ
những năm hai mươi của thế kỷ XX, Người đã khẳng định: “Trước hết phải có
Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc
với các dân tộc bị áp bức và vo sản giai cấp ở mọi nơi” [17, tr.267-268].
Theo Người Đảng lãnh đạo công tác vận động phụ nữ, ngoài mục tiêu cao
cả là giải phóng phụ nữ ra khỏi sự áp bức, nô dịch của chủ nghĩa thực dân, đế
quốc thì việc quan trọng không kém là phải luôn chú ý nâng cao địa vị cho họ.
Người khẳng định: “Đảng và Chính phủ ta luồn chú ý nâng cao địa vị của phụ
nữ” [22, tr.85].
Người chỉ đạo các cấp ủy Đảng phải quan tâm, bồi dưỡng “cất nhắc cán bộ
là nữ” để bồi dưỡng họ trở thành những người “quyết tâm suốt đời đấu tranh cho
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status