Kết hợp giữa quản lý và tự quản trong việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với chỉ dẫn địa lý (nghiên cứu trường hợp vải thiều lục ngạn, bắc giang) - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐẶNG THỊ NHUNG

KẾT HỢP GIỮA QUẢN LÝ VÀ TỰ QUẢN TRONG
VIỆC BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
(Nghiên cứu trường hợp vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Khoa học quản lý

Hà Nội, 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

ĐẶNG THỊ NHUNG

KẾT HỢP GIỮA QUẢN LÝ VÀ TỰ QUẢN TRONG
VIỆC BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN SỞ HỮU
CÔNG NGHIỆP ĐỐI VỚI CHỈ DẪN ĐỊA LÝ
(Nghiên cứu trường hợp vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang)

Chuyên ngành: Khoa học quản lý
(Chương trình đào tạo thí điểm)


và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL ...................................................... 46
* Kết luận chƣơng 1 ...................................................................................... 47


CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC KẾT HỢP GIỮA QUẢN LÝ VÀ TỰ
QUẢN TRONG BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI
CDĐL VẢI THIỀU LỤC NGẠN CỦA TỈNH BẮC GIANG .................... 48
2.1. Giới thiệu tổng quan huyện Lục Ngạn và lịch sử hình thành, đặc
điểm phát triển cây vải thiều Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang. .......................... 48
2.1.1. Tổng quan huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. ....................................... 48
2.1.2. Đặc điểm và tình hình phát triển cây Vải Thiều Lục Ngạn Bắc Giang 49
2.2. Thực trạng việc kết hợp giữa quản lý và tự quản trong bảo hộ và
thực thi quyền SHCN đối với CDĐL Vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang ..... 51
2.2.1. Thực trạng quản lý trong bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với
CDĐL Vải thiều Lục Ngạn Bắc Giang............................................................ 51
2.2.2. Thực trạng tự quản trong bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với
CDĐL Vải Thiều Lục Ngạn Bắc Giang .......................................................... 82
2.2.3. Đánh giá sự kết hợp giữa quản lý và tự quản trong bảo hộ và thực thi
quyền SHCN đối với CDĐL Vải Thiều Lục Ngạn Bắc Giang. ....................... 86
* Kết luận chƣơng 2 ...................................................................................... 95
CHƢƠNG 3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
TĂNG CƢỜNG HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, TỰ QUẢN, KẾT
HỢP GIỮA QUẢN LÝ VÀ TỰ QUẢN TRONG BẢO HỘ VÀ THỰC
THI QUYỀN SHCN ĐỐI VỚI CDĐL “LỤC NGẠN” CHO SẢN PHẨM
VẢI THIỀU TỈNH BẮC GIANG ................................................................ 96
3.1. Công tác quản lý CDĐL của một số quốc gia và bài học kinh nghiệm
cho tỉnh Bắc Giang ........................................................................................ 96
3.1.2. Công tác quản lý CDĐL nhìn từ kinh nghiệm Cộng hòa Pháp ............ 97
3.1.2. Công tác quản lý CDĐL tại Hoa Kỳ ..................................................... 99
3.1.3. Kinh nghiệm quản lý CDĐL của Trung Quốc .................................... 103



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Việc xây dựng, bảo hộ thành công quyền Sở hữu công nghiệp
(SHCN) đối với chỉ dẫn địa lý (CDĐL) không hề đơn giản, nên việc quản lý
và phát triển bền vững CDĐL cũng phức tạp và khó khăn;
- Quản lý CDĐL là khâu rất quan trọng, liên quan đến thành công hay
thất bại của sản phẩm. Để phát huy ý nghĩa và giá trị của CDĐL đã được bảo
hộ cần triển khai tốt công tác quản lý kết hợp với tự quản. Tuy nhiên, trên
thực tế công tác quản lý kết hợp với tự quản còn nhiều bất cập và chưa thực
sự phát huy sức mạnh của CDĐL dẫn tới hiệu quả còn nhiều hạn chế.
- Bắc giang là tỉnh với nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, được thiên
nhiên ban tặng nên có vùng chuyên canh Vải Thiều lớn nhất cả nước. Tới
năm 2008 Vải Thiều Lục Ngạn chính thức được xứng danh. Tuy nhiên, sau
gần 6 năm việc khai thác và phát triển bền vững CDĐL “Lục Ngạn” cho sản
phẩm Vải Thiều vẫn chưa thực sự phát huy hiệu quả. Với mong muốn kết hợp
tốt việc quản lý và tự quản nâng cao chất lượng, mang lại giá trị kinh tế cao
cũng như quảng bá hình ảnh cây nông sản thế mạnh của vùng giúp bà con
nông dân thoát nghèo đã thôi thúc tác giả lựa chọn đề tài: “Kết hợp giữa
quản lý và tự quản trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với
CDĐL (Nghiên cứu trường hợp Vải Thiều Lục Ngạn Bắc Giang)” làm luận
văn Thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu
- CDĐL là vấn đề khá mới mẻ. Tuy nhiên, Việt Nam cũng đã tham gia
và tổ chức một số cuộc hội thảo quốc gia, quốc tế bàn về quản lý CDĐL với
các chủ đề sau: “Bảo hộ CDĐL của ASEAN tại thị trường đã xuất khẩu và thị
trường tiềm năng”. Hội thảo nằm trong chương trình hỗ trợ kỹ thuật cho các
nước ASEAN trong lĩnh vực SHTT (Dự án ECAP III) đã phối hợp với


quyền SHTT trong bối cảnh hội nhập và xây dựng nền kinh tế tri thức”, Viện

2


Tài Nguyên nước và Môi trường Đông Nam Á, tác giả nhận định rằng: Việt
Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc Xây dựng các văn bản Pháp Luật về SHTT
nhưng vấn đề thực thi là một điểm yếu cần khắc phục. Vì trên thực tế tình
trạng vi phạm luật SHTT và xâm phạm quyền SHTT đang biểu hiện ở các
mặt: có tính phức tạp và dấu hiệu khá phổ biến, mức độ nghiêm trọng của tình
trạng xâm phạm đang gia tăng.
Một số nguyên nhân được tác giả đề cập tới: Cơ chế đảm bảo thực thi
chưa được phát huy đúng mức; các tổ chức đảm bảo thực thi chưa phù hợp vì
hiện tại các tòa án và cơ quan thực thi SHTT có rất ít cán bộ được đào tạo về
vấn đề này; sự hiểu biết của xã hội còn hạn chế và do mặt trái của quá trình
hội nhập.
Tác giả đưa ra 4 giải pháp và cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp.
- Tác giả Lê Thị Thu Hà (2011), “Quản lý CDĐL ở Việt Nam nhìn từ
góc độ kinh nghiêm của Pháp”, Bảo hộ thương hiệu. Ở nghiên cứu này tác giả
tập chung tìm hiều kinh nghiệm của Pháp trong công tác quản lý CDĐL và rút
ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Ở Pháp việc quản lý CDĐL bao gồm: tự quản lý; quản lý nội bô; quản
lý ngoại vi.
Tác giả cho rằng: thực tiễn quản lý CDĐL ở Việt Nam trong thời gian
qua cho thấy hoạt động CDĐL dựa trên mô hình của Pháp và Châu Âu nhưng
trong quá tình thực những nội dung của Việt Nam còn nhiều bất cập.Bởi vậỵ
tác giả cho rằng việc nghiên cứu và học tập kinh nghiệm mô hình quản lý
CDĐL của Pháp là cần thiết.
- Bên cạnh đó, TS Lê Thu Hà lại có hướng tiếp cận mới khi nghiên cứu
bảo hộ CDĐL dưới hình thức nhãn hiệu chứng nhận của Hoa Kỳ. Từ đó, tác

- Bộ Khoa học Công nghệ- Cục SHTT (2007), “Xây dựng hệ thống
quản lý dùng cho nông sản”. Tác phẩm khái quát các vấn đề chung về quản
lý CDĐL và mô hình chung về hệ thống quản lý CDĐL với các nội dung chi
tiết về quản lý CDĐL. Cuốn sách được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu kinh

4


nghiệm của các nước và thực tế hỗ trợ triển khai các hoạt động quản lý CDĐL
ở Việt Nam.
- Đáng chú ý hơn cả: Cục SHTT (2010) “Quản lý CDĐL ở Việt Nam:
Khó khăn và giải pháp”, Hội thảo quản lý CDĐL ở Việt Nam tại Hà Nội. Qua
đây tác giả hệ thống hóa các văn bản pháp luật liên quan CDĐL; Thực tiễn
quản lý CDĐL “Quản lý CDĐL là một công việc mới nên trong công tác triển
khai có gặp những khó khăn nhất định”.
Tác giả cho rằng: Để phát triển CDĐL ở Việt Nam cần hoàn thiện pháp
luật về quản lý CDĐL ở Việt Nam, cũng như việc đẩy mạnh tuyên truyền
nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và các nhà sản xuất kinh doanh,
nâng cao năng lực quản lý của các tổ chức tập thể và cần quan tâm tháo gỡ
những khó khăn trong thực tiễn quản lý CDĐL.
- Ngoài ra còn một số tác phẩm với nội dung phong phú và có ý nghĩa
tham khảo sâu sắc như: Daniele Giovannucci (2009), “Hướng dẫn CDĐLKết nối sản phẩm và xuất xứ sản phẩm”, Trung tâm thương mại quốc tế 2009.
Với nội dung phong phú, hữu ích cuốn sách nghiên cứu về việc xử lý CDĐL;
Lưu dữ các trường hợp điển hình nhất rồi rút ra bài học từ các nghiên cứu
thực tiễn trong lĩnh vực này. Từ đó khám phá được tiềm năng cho các quốc
gia có mong muốn sử dụng phác thảo các nhân tố tạo nên thành công cho
chiến lược phát triển CDĐL; Đặc biệt tác giả hệ thống hóa những chính sách
và phương thức tiếp cận khác nhau trên thế giới. Đồng thời kiểm định các cơ
chế khác nhau hiện có tại mỗi quốc gia nhằm bảo hộ và khuyến khích các sản
phẩm, dịch vụ CDĐL mới.

thực thi quyền SHCN đối với CDĐL. Đưa ra những giải pháp quản lý và tự
quản nâng cao hiệu quả kết hợp quản lý, tự quản CDĐL “Lục Ngạn” cho sản
phẩm Vải Thiều tỉnh Bắc Giang.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Tập chung nghiên cứu phân tích, đánh giá thực
trạng việc kết hợp giữa quản lý và tự quản trong việc bảo hộ quyền SHCN đối
với CDĐL.

6


- Phạm vi về thời gian: từ năm 2008 tới 2015
- Phạm vi về không gian: huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang.
5. Mẫu khảo sát
- Các xã: xã Kim Sơn, xã Thanh Hải, xã Giáp Sơn, xã Hồng Giang;
- Một số chuyên gia về lĩnh vực SHTT
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Vì sao việc kết hợp giữa quản lý và tự quản trong việc bảo hộ quyền
SHCN đối với CDĐL ở Bắc Giang còn nhiều bất cập?
- Có những vướng mắc nào về lý luận và thực tiễn làm cho vấn đề quản
lý và tự quản trong việc bảo hộ và thực thi quyền SHCN đối với CDĐL chưa
đạt hiệu quả? Giải pháp khắc phục như thế nào?
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Việc vận hành hệ thống quản lý CDĐL trên thực tế là vấn đề phức
tạp, đòi hỏi sự nỗ lực đầu tư công sức, thời gian chi phí và sự tham gia phối
hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cũng như cơ sở sản xuất và cá
nhân liên quan. Tuy nhiên, trên thực tế năng lực của cán bộ quản lý về CDĐL
yếu kém; nhận thức của nông dân, các cơ sở sản xuất còn nhiều hạn chế, thói
quen của người tiêu dùng chưa phân biệt và mặn mà với sản phẩm mang
CDĐL;

quản, kết hợp giữa quản lý và tự quản trong bảo hộ và thực thi quyền SHCN
đối với CDĐL “Lục Ngạn” cho sản phẩm vải Thiều tỉnh Bắc Giang

8


CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ VÀ
TỰ QUẢN TRONG VIỆC BẢO HỘ VÀ THỰC THI QUYỀN SHCN
ĐỐI VỚI CDĐL
1.1. Khái quát chung về Chỉ dẫn địa lý và Bảo hộ, Thực thi quyền SHCN
đối với CDĐL
1.1.1. Khái quát chung về CDĐL
1.1.1.1. Khái niệm CDĐL
Thuật ngữ “Chỉ dẫn địa lý” đã được đề cập trong Hiệp định về các khía
cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (“TRIPS”) tại khoản
1 Điều 22 như sau: “Chỉ dẫn địa lý là những chỉ dẫn về hàng hóa có nguồn
gốc từ lãnh thổ của một nước thành viên hoặc từ một khu vực hay địa phương
trong lãnh thổ đó mà chất lượng, uy tín hay đặc tính khác của hàng hóa chủ
yếu do xuất xứ địa lý quyết định”.
Theo khoản 22 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, “CDĐL là dấu hiệu
dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ
hay quốc gia cụ thể”.
Khái niệm về CDĐL theo pháp luật hiện hành của Việt Nam là hoàn
toàn tương thích với Điều 22.1 của Hiệp định TRIPS.
* Khái niệm CDĐL: Chỉ dẫn địa lý là một yếu tố mà sản phẩm, hàng
hóa được mang một cách tự nhiên, nói lên sự gắn kết của sản phầm với tên
một miền lãnh thổ. Thường là gắn với truyền thống tập tục của địa phương từ
tay nghề truyền thống của người dân địa phương, tạo nên sự khác biệt hay
nổi tiếng của sản phẩm.
Theo định nghĩa của tổ chức thương mại thế giới (WTO): “CDĐL là

như khi nhìn thấy logo Thanh Hà và Lục Ngạn dưới đây người đọc bằng trực
quan có thể phân biệt được hai sản phẩm cùng loại nhưng của hai địa danh
khác nhau:

10


* Quy định chung của pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lí
Theo quy định tại Điều 79 Luật sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý được bảo
hộ khi đáp ứng được hai điều kiện : (i) sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có
nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng
với chỉ dẫn địa lý ;(ii) sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng
hoặc đặc tính chủ yếu do điều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh
thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý đó quyết định.
Điều kiện 1: Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí có nguồn gốc địa lí từ khu
vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lí.
Có “nguồn gốc địa lí” dùng để chỉ khu vực, địa phương nơi hàng nông
sản được sản xuất, gia công, chế biến từ khu vực địa lí đó. Ở đây, yếu tố quan
trọng nhất đặt ra là sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí phải liên quan đến khu
vực địa lí, nếu sản phẩm được sản xuất tại khu vực địa lí khác sẽ không
được như vậy.
Theo thông tư số 01/2007/TT- BKHCN ngày 14/2/2007 thì phải tồn tại
vùng địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí nêu trong đơn và sản phẩm phải có
nguồn gốc địa lí từ vùng đó. Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, hồ sơ
đăng kí chỉ dẫn địa lí phải có bản đồ địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí đó.
Điều 83 Luật sở hữu trí tuệ quy định về khu vực địa lí tương ứng với chỉ dẫn
địa lí: “Khu vực địa lí mang chỉ dẫn địa lí có ranh giới được xác định chính
xác bằng từ ngữ và bản đồ”.

11

12


phẩm chủ yếu qua các yếu tố: chỉ tiêu vật lí, chỉ tiêu hóa học, cảm quan màu
sắc, mùi vị:
 Chỉ tiêu vật lí: gồm các yếu tố khối lượng, thể tích, kích thước sản phẩm
 Chỉ tiêu hóa học: gồm các yếu tố như các chất đường, protein, nước, tinh
dầu…tỉ lệ các chất trong một đơn vị khối lượng, thể tích sản phẩm…
 Cảm quan màu sắc, mùi vị:
Thứ ba, danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính của hàng nông sản phải
do điều kiện địa lí của khu vực địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí đó quyết
định
Các điều kiện địa lí này là những yếu tố tự nhiên, yếu tố con người
quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí
đó. Theo điều 82 Luật sở hữu trí tuệ bao gồm hai yếu tố:
Yếu tố thứ nhất: yếu tố về tự nhiên bao gồm yếu tố về khí hậu, thủy
văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái và các điều kiện tự nhiên khác.
Yếu tố thứ hai: yếu tố về con người bao gồm kĩ năng, kĩ xảo của người
sản xuất, quy trình sản xuất truyền thống của địa phương.
Trong đó yếu tố tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành
nên tính chất, chất lượng đặc thù của các sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí. Cùng
một giống cây nhưng chăm sóc, sinh trưởng ở khu vực khác nhau sẽ cho ra
những sản phẩm mang chất lượng đặc tính khác nhau. Mặt khác dù điều kiện
tự nhiên gần đồng nhất nhưng cách chăm sóc khác nhau cũng khiến cho sản
phẩm có chất lượng khác nhau.
* Địa vị pháp lí của chủ thể đối với chỉ dẫn địa lí
Chủ sở hữu
Theo điều 121 Luật sở hữu trí tuệ thì Nhà nước là chủ sở hữu của chỉ
dẫn địa lí. Chỉ dẫn địa lí không phải là do cá nhân, tổ chức sáng tạo ra mà đó
là thành quả được tạo dựng qua nhiều thế hệ sản xuất sản phẩm ở địa phương;

- Nhập khẩu có mang chỉ dẫn địa lí được bảo hộ;

14


- Có quyền ngăn cấm không cho người khác sử dụng chỉ dẫn địa lí trừ
hai trường hợp: (1) sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn
địa lí được bảo hộ nếu nhãn hiệu đó đạt được sự bảo hộ trung thực
trước ngày nộp đơn đăng kí chỉ dẫn đó; (2) sử dụng một cách trung
thực tên người, dấu hiệu mô tả chủng loại, số lượng, chất lượng, công
dụng, giá trị, nguồn gốc địa lí và các đặc tính khác của hàng hóa hoặc
dịch vụ.
Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí không được chuyển giao cho người khác.
Tổ chức quản lí chỉ dẫn địa lí
Chỉ dẫn địa lí là một loại tài sản chung. Tất cả những người sản xuất
sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí đều có quyền sử dụng. Tuy nhiên không phải ai
cũng có thể tự do, tùy tiện sử dụng. Để đảm bảo cho uy tín, chất lượng của
sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí cần có một tổ chức thực hiện việc bảo vệ, giám
sát chỉ dẫn địa lí. Theo khoản 4, điều 121 Luật sở hữu trí tuệ: “Nhà nước trực
tiếp thực hiện quyền quản lí chỉ dẫn địa lí hoặc trao quyền quản lí chỉ dẫn địa
lí cho tổ chức đại diện quyền lợi của tất cả các tổ chức, cá nhân được trao
quyền sử dụng chỉ dẫn địa lí đó”.
Theo Điều 19 Nghị định 103/2006/NĐ-CP thì những cơ quan, tổ chức này
bao gồm:
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có khu vực
địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý trong trường hợp chỉ dẫn địa lý
thuộc một địa phương;
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là đại diện theo
uỷ quyền của các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương khác nơi có khu vực địa lý tương ứng với chỉ dẫn địa lý trong

CDĐL. Trước đây, điều 5 Nghị định 54/2000/CP-NĐ quy định quyền SHCN
đối với CDĐL tự động được xác lập khi có đủ một số điều kiện mà không cần

16


phải đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Hiện nay, theo quy định
tại điều 1.3 của Thông tư 01/2007/TT-BKHCN Hướng dẫn thi hành Nghị
định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Sở hữu trí tuệ về SHCN (sau
đây viết tắt là Thông tư 01/2007) thì căn cứ xác lập quyền SHCN đối với
CDĐL phải trên cơ sở quyết định của Cục SHTT về việc cấp giấy Chứng
nhận đăng ký CDĐL cho tổ chức quản lý CDĐL. Như vậy, theo pháp luật
hiện hành, quyền SHCN đối với CDĐL không được xác lập một cách tự động
nữa mà phải trên cơ sở quyết định của Cục SHTT về việc cấp Giấy chứng
nhận đăng ký CDĐL cho tổ chức quản lý CDĐL.
Theo quy định của Nghị định số 28/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 01
năm 2004, thì Cục SHCN được đổi tên thành Cục SHTT với phạm vi thẩm
quyền được mở rộng hơn. Cục SHTT vừa đảm nhiệm chức năng của một cơ
quan quản lý nhà nước, vừa là một đơn vị sự nghiệp trực tiếp thực hiện các
thủ tục xác lập quyền đối với các đối tượng của SHCN phải đăng ký. Do
CDĐL là một trong những đối tượng của SHCN phải đăng ký nên việc xác
lập quyền đối với CDĐL phải được thông qua Cục SHTT.
Điều 88 Luật SHTT 2005 có quy định quyền đăng ký CDĐL thuộc về
Nhà nước nhưng Nhà nước không trực tiếp thực hiện quyền này mà cho phép
một số chủ thể nhất định thực hiện; đó là: tổ chức, cá nhân sản xuất sản phẩm
mang CDĐL hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có CDĐL. Và
những chủ thế có quyền đăng ký CDĐL muốn được cấp giấy chứng nhận
đăng ký CDĐL thì phải thực hiện các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp
luật SHTT. Nếu các trình tự, thủ tục này được thực hiện đúng và đầy đủ theo

Về cơ bản, đơn đăng kí cũng như quy trình thời hạn xem xét đơn đăng
kí chỉ dẫn địa lí được quy định cụ thể từ mục 7 đến mục 18 Thông tư số
01/2007/TT- BKHCN. Đơn đăng kí gồm:
- Tờ khai đăng kí ( mẫu do Cục sở hữu trí tuệ cấp);

18


- Bản mô tả tính chất, chất lượng đặc thù của sản phẩm mang chỉ dẫn địa
lí;
- Bản đồ khu vực địa lí tương ứng với chỉ dẫn địa lí;
- 10 mẫu thể hiện cách trình bày chỉ dẫn địa lí (nếu không phải là từ
ngữ);
- Chứng từ nộp phí, lệ phí.
Cũng theo quy định tại Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN từ mục 13
đến mục 19, đơn đăng kí chỉ dẫn địa lí được xử lí tại Cục sở hữu công nghiệp
theo trình tự sau:
Thứ nhất, thẩm định hình thức
Là đánh giá tính hợp lệ của đơn theo các yêu cầu về hình thức, về đối
tượng loại trừ, về quyền nộp đơn… để từ đó đưa ra kết luận đơn hợp lệ hay
không hợp lệ. Thời gian thẩm định hình thức là 1 tháng kể từ ngày nộp đơn.
Thứ hai, công bố đơn hợp lệ
Đăng kí chỉ dẫn địa lí hợp lệ được công bố trên Công báo sở hữu công
nghiệp trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày được chấp nhận là đơn hợp lệ. Nội
dung công bố đơn đăng kí chỉ dẫn địa lí là các thông tin liên quan đến đơn
hợp lệ ghi trong thông báo chấp nhận đơn hợp lệ, tóm tắt tính chất đặc thù của
sản phẩm mang chỉ dẫn địa lí.
Thứ ba, thẩm định nội dung
Đơn đăng kí chỉ dẫn địa lí đã được công nhận là hợp lệ được thẩm định
nội dung để đánh giá khả năng cấp Giấy chứng nhận đăng kí chỉ dẫn địa lí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status