TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Khuyến Nông và Phát Triển Nông Thôn
SỐ LIỆU THÔ
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nông hộ
trong việc sử dụng dịch vụ lúa giống của Công ty Nông Lâm
Nghiệp TBT tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
Sinh viên thực hiện: Văn Lộc
Lớp: Phát triển nông thôn K46A
Thời gian thực hiện: Từ 01/2016-04/2016
Địa điểm thực hiện: Xã Đức Tân, huyện Mộ Đức,
Tỉnh Quảng Ngãi
Giáo viên hướng dẫn: ThS.Nguyễn Văn Chung
Bộ môn: Phát triển nông thôn
NĂM 2016
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
và đóng góp ý kiến của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết tôi xin gửi lời tri ân đến Thầy giáo Thạc sĩ Nguyễn Văn Chung,
người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo Khoa Khuyến Nông và Phát Triển
Nông Thôn cùng toàn thể thầy cô giáo Trường Đại Học Nông Lâm- Đại Học
Huế đã bồi dưỡng cho tôi những kiến thức cần thiết trong thời gian học tập tại
trường.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể Công ty TNHH Nông Lâm
bộ phận kinh tế tư nhân có cơ hội phát triển, hội nhập sâu, rộng trong và ngoài
khu vực. Để đứng vững trên thị trường kinh doanh mỗi doanh nghiệp cần phải có
những chiến lược phù hợp với từng thời kỳ cụ thể [15]. Khối doanh nghiệp nói
chung và công ty TNHH nông lâm nghiệp TBT nói riêng cần có những chiến lược
phù hợp với thời kỳ phát triển hiện nay. Sự phản hồi của khách hàng có thể là tốt
hay không tốt, tích cực hay hạn chế nên chưa thể kết luận chiến lược phù hợp. Để
làm được điều này cần nghiên cứu thêm các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của
nông hộ trong việc sử dụng các loại hình dịch vụ của các công ty, từ đó có sự lựa
chọn tối ưu, nâng cao sức cạnh tranh của trên thị trường kinh doanh. Xuất phát từ
thực tế đó tôi quyết định thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến
quyết định của nông hộ trong việc sử dụng dịch vụ lúa giống của công ty TBT tại
xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi”.
Để hoàn thiện đề tài nghiên cứu, tôi đã tiến hành thu thập số liệu thứ cấp về
đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và các hoạt động sản xuất lúa giống
đang diễn ra trên địa bàn xã Đức Tân. Phỏng vấn lãnh đạo công ty, thu thập
thông tin sơ cấp về nội dung hợp đồng sản xuất, hoạt động cung ứng dịch vụ lúa
giống tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngã. Tìm hiểu thực trạng sử
dụng lúa giống của nông hộ tại điểm nghiên cứu, sử dụng phương pháp nghiên
cứu phỏng vấn người am hiểu, phỏng vấn hộ với số lượng mẫu là 40 hộ và khảo
sát đại lý phân phối sản phẩm lúa giống của công ty TBT trên địa bàn nghiên
cứu, tìm ra các yếu tố chính ảnh hưởng đến việc quyết định sử dụng lúa giống
của nông hộ.
Quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài tại xã Đức Tân tôi đã thu thập
được một số kết quả sau:
Thứ nhất, về phía người dân có những đánh giá tốt về chất lượng sản phẩm
của công ty. Qua số liệu phỏng vấn hộ cho thấy đối với mức độ sử dụng dịch vụ
3
lúa giống có 100% số hộ sử dụng được hỏi có đánh giá chất lượng tốt, điều đó
lượng bán ra nhiều hơn cả giống DT45 mang thương hiệu của TBT.
Giáo viên hướng dẫn
Th.S Nguyễn Văn Chung
4
Sinh viên thực hiện
Văn Lộc
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
5
Các từ viết tắt
Tên đầy đủ
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
HTX
: Hợp tác xã
HĐND
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Kinh tế Việt Nam bao gồm nhiều thành phần, trong đó nông nghiệp là
ngành có sức lan tỏa lớn nhất, có tính kết nối rất cao với nhiều ngành kinh tế
khác. Nông nghiệp cung cấp đầu vào cho công nghiệp chế biến thực phẩm, chế
biến xuất khẩu, đồng thời sử dụng sản phẩm của ngành công nghiệp và dịch vụ
khác như nhiên liệu, phân bón, hóa chất, máy móc cơ khí, năng lượng, tín dụng,
bảo hiểm...Ngoài ra, nông nghiệp còn liên quan mật thiết đến sức mua của dân
cư và sự phát triển thị trường trong nước. Với 50% lực lượng lao động cả nước
đang làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và 70% dân số sống ở vùng nông
thôn, mức thu nhập trong nông nghiệp sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu của
thị trường nội địa và tiềm năng đầu tư dài hạn. Nông nghiệp Việt Nam đóng vai
trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu thiết yếu con người, đảm
bảo an ninh lương thực trong nước. Tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 70%
dân cư nông thôn, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển
kinh tế và ổn định chính trị - xã hội của đất nước[12].
Nông nghiệp là một trong những lĩnh vực luôn được Đảng và Nhà nước
đặc biệt coi trọng. Trong những năm qua, với sự nỗ lực không ngừng, ngành
nông nghiệp đã đạt được những thành tựu to lớn. Nông nghiệp có vai trò quan
trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và
chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện
nay. Từng bước hoàn thiện nền kinh tế độc lập tự chủ trong giai đoạn hội nhập
kinh tế quốc tế, trở thành đối tác Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP.
Nông nghiệp nước ta cần được quan tâm và đầu tư nhiều hơn nữa, phát huy thế
mạnh về tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động và đức tính cần cù của con
người Việt Nam. Tạo bước đệm vững chắc cho sản phẩm nông nghiệp Việt Nam
xuất hiện tại các thị trường khó tính trên thế giới như Nhật Bản, EU, Mỹ…Bên
toàn tỉnh Quảng Ngãi nói chung.
Công ty TBT chuyên sản xuất và kinh doanh lúa giống đạt chất lượng cao
phục vụ thị trường Miền Bắc, Miền Trung và Tây Nguyên. Hàng năm Công ty
TBT cung cấp hàng chục nghìn tấn lúa giống trên cả nước, phục vụ nhu cầu sản
xuất cho bà con nông dân. Công ty có vai trò quan trọng trong việc phát triển
nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa nói riêng. Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật tiên tiến vào hệ thống sản xuất, phơi sấy và chế biến để cho ra sản phẩm
đạt chuẩn, chuyển giao sản phẩm tốt nhất đến với người sản xuất. Góp phần
nâng cao năng suất cây trồng, cải thiện thu nhập cho người dân.
Hoạt động sản xuất và kinh doanh lúa giống là mục tiêu phát triển hàng đầu
của công ty và cũng là sản phẩm chiếm ưu thế vượt trội trên thị trường. Vì vậy
để giúp cho công ty phát triển hơn nữa, cần phải tăng số lượng khách hàng sử
dụng dịch vụ lúa giống trong thời gian tới và nâng cao chất lượng, hiệu quả
trong kinh doanh. Hướng sản phẩm của công ty phát triển trên cả nước về số
lượng lẫn chất lượng. Mục tiêu cuối cùng của công ty là phải làm sao để đưa
được sản phẩm lúa giống đến với khách hàng, càng nhiều người biết đến công
ty, biết đến sản phẩm mang thương hiệu TBT Miền Trung và khi nhắc đến lúa
giống người dân luôn lựa chọn TBT. Muốn làm được điều này cần tiến hành tìm
8
hiểu các hoạt động cung ứng dịch vụ lúa giống của công ty giai đoạn 2013-2015.
Tìm hiểu tình hình sử dụng dịch vụ lúa giống của nông hộ trên địa xã Đức Tân,
huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi và xác định các yếu tố chính ảnh hưởng đến
quyết định sử dụng dịch vụ lúa giống của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu. Nếu
làm được như vậy sẽ giúp cho nghiên cứu được hoàn thiện, từ đó có cái nhìn
tổng quát về thị trường nói chung và thị trường lúa giống nói riêng. Giúp tìm ra
chiến lược phát triển trong thời kỳ hiện nay của công ty TBT. Xuất phát từ thực
tế đó tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định của nông hộ trong việc sử dụng dịch vụ lúa giống của Công ty TBT tại xã
nông dân nước ta trong tình hình hiện nay.
Theo Giáo sư Fnan Kellis 1988: “ Hộ nông dân là các nông hộ thu hoạch
các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản
xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng cơ bản được đặc
trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ
không cao”[6].
2.1.2. Đặc trưng của nông hộ
-
-
-
Hộ nông dân gồm có 6 đặc trưng sau:
Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu, quá trình quản lý và sử dụng các
yếu tố sản xuất. Sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung, nghĩa là mọi thành viên
trong hộ đều có quyền sở hữu với những tư liệu sản xuất vốn có, cũng như các
tài sản khác của hộ. Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có cùng chung
một ngân quỹ nên mọi người trong hộ đều có ý thức trách nhiệm rất cao và việc
bố trí sắp xếp công việc cũng rất linh hoạt, hợp lý. Từ đó dẫn đến hiệu quả sử
dụng các nguồn lực trong nông hộ rất cao.
Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ trong nông hộ, mọi
người thường gắn bó với nhau theo quan hệ huyết thống, kinh tế nông hộ lại tổ
chức với quy mô nhỏ hơn các loại hình doanh nghiệp khác nên việc điều hành
quản lý cũng đơn giản hơn. Trong nông hộ chủ hộ vừa là người điều hành, quản
lý sản xuất vừa là người trực tiếp tham gia lao động sản xuất, dẫn đến tính thống
nhất giữa lao động trực tiếp và lao động quản lý là rất cao.
Nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh rất cao. Do kinh tế hộ có quy
10
khi phong trào hợp tác xã mất dần động lực phát triển. Mốc quan trọng của sự
thay đổi đó là sự ra đời của chỉ thị 100, ngày 31/1/1981 của Ban Bí thư về cải
tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động
trong hợp tác xã.
Tiếp theo đó, Nghị quyết 10, ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới
quản lý nông nghiệp đã tạo cơ sở quan trọng để kinh tế hộ nông dân trở thành
đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp.
Ngoài ra, đối với khu vực nông, lâm trường, nhờ có Nghị định số 12/NĐCP, ngày 3/2/1993 về sắp xếp tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các doanh
nghiệp nông nghiệp nhà nước, các nông, lâm trường đã từng bước tách chức
năng quản lý nhà nước đối với quản lý sản xuất, kinh doanh, các gia đình nông,
lâm trường viên cũng được nhận đất khoán và hoạt động dưới hình thức kinh tế
hộ. Tuy những đặc điểm truyền thống của kinh tế hộ vẫn không thay đổi, nhưng
việc được giao quyền sử dụng đất lâu dài đã làm cho hộ gia đình trở thành đơn
11
vị sản xuất, kinh doanh tự chủ, tự quản. Động lực mới cho sự phát triển kinh tế
trong nông nghiệp, nông thôn đã xuất hiện[13].
2.1.4 Lý thuyết về dịch vụ
2.1.4.1 Khái niệm dịch vụ
Dịch vụ là những hàng hóa mang tính chất vô hình được con người sử dụng
và cảm nhận. Chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức hay cảm
nhận của khách hàng liên quan tới nhu cầu cá nhân của họ.
Theo Parasuraman, Ziithaml và Berri (1985) thì chất lượng dịch vụ là khi
cảm nhận của khách hàng về một dịch vụ đã tạo ra ngang xứng với kỳ vọng
trước đó của họ. Cũng theo Parasuraman thì kỳ vọng trong chất lượng dịch vụ là
những mong muốn của khách hàng, nghĩa là họ cảm thấy nhà cung cấp phải
thực hiện chứ không phải sẽ thực hiện các yêu cầu của dịch vụ.
Theo Crolin và Tailor (1992) cho rằng sự hài lòng của khách hàng nên
đánh giá trong thời gian ngắn còn chất lượng dịch vụ nên đánh giá thái độ của
Sự tín nhiệm: Lòng tin, sự chân thành, tin tưởng và chiếm được tình cảm của
khách hàng.
Sự đảm bảo: Không có nguy hiểm, rủi ro hay nghi ngờ.
Sự tiếp cận: Có thể và dễ dàng tiếp cận.
Truyền đạt thông tin: Luôn lắng nghe và thông tin cho khách hàng bằng ngôn
ngữ mà họ có thể hiểu được.
Hiểu rõ khách hàng: Luôn cố gắng tìm hiểu rõ khách hàng, biết khách hàng cần
gì và muốn gì.
Tính hữu hình: Những khía cạnh trông thấy được của dịch vụ như trang thiết bị,
nhà cửa, nhân viên phục vụ.
2.1.4.3 Một số đánh giá về chất lượng dịch vụ
Trong bối cảnh phát triển kinh tế, kinh doanh hiện nay. Các dịch vụ được
các doanh nghiệp đưa ra ngày càng nhiều và đa dạng để phục vụ cho nhu cầu
ngày càng cao của khách hàng. Chính vì vậy, đánh giá chất lượng dịch vụ là vấn
đề thu hút rất nhiều sự quan tâm của của nhiều nhà nghiên cứu cũng như các
doanh nghiệp. Kể từ thập niên 1980, các nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu cơ
sở lý thuyết và đề xuất một số đánh giá chất lượng dịch vụ.
Thứ nhất: Chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng cách so sánh giữa giá trị
sử dụng dịch vụ và giá trị mà khách hàng nhận được khi sử dụng dịch vụ đó.
Thứ hai: Thành công nghiên cứu của Parasuraman và các cộng sự của ông
nghiên cứu ra vào năm 1985 tạo bước đột phá giúp cho các nhà kinh doanh có
được kết quả chất lượng dịch vụ của họ thông qua việc nghiên cứu đánh giá của
khách hàng, những người sử dụng dịch vụ. Nghiên cứu của Parasuraman cho
rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ
mà họ đang sử dụng với cảm nhận thực tế về dịch vụ mà họ hưởng thụ. Từ đó
làm cơ sở cho việc đề ra biện pháp khắc phục tình trạng kém chất lượng trong
dịch vụ. Theo nghiên cứu này xem xét chất lượng dịch vụ trên ba yếu tố gồm:
Hình ảnh công ty, các yếu tố ảnh hưởng từ bên ngoài và các hoạt động
marketing truyền thống như các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng kỹ thuật và
chức năng kỳ vọng của sản phẩm.
Giá trị cảm nhận: Các nghiên cứu về lý thuyết cho thấy sự hài lòng của
khách hàng phụ thuộc vào giá trị cảm nhận của hàng hóa và dịch vụ. Giá trị là
mức độ đánh giá, cảm nhận đối với chất lượng sản phẩm so với giá phải trả hoặc
phương diện giá trị không chỉ bằng tiền mà khách hàng tiêu dùng sản phẩm đó.
Giá trị dành cho khách hàng là chênh lệch giữa tổng giá trị mà khách hàng nhận
được và tổng chi phí mà khách hàng phải trả về một dịch vụ nào đó.
Nói tóm lại, giá trị cảm nhận chịu tác động bởi chất lượng cảm nhận và
mong đợi của khách hàng. Khi đó, sự mong đợi của khách hàng có tác động trực
tiếp đến chất lượng cảm nhận. Trên thực tế khi mong đợi càng cao, có thể tiêu
chuẩn về chất lượng cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm càng cao hoặc
ngược lại. Do vậy, yêu cầu về chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng cần
phải đảm bảo và được thỏa mãn trên cơ sở sự hài lòng của họ.
Giá cả dịch vụ: Giá cả dịch vụ là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị
14
hàng hóa và dịch vụ được xác định dựa trên giá trị sử dụng và cảm nhận của
khách hàng về sản phẩm dịch vụ mà mình sử dụng. Khách hàng không nhất thiết
phải mua sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao nhất mà họ sẽ mua và sử dụng
dịch vụ đem lại hiệu quả cho họ nhiều nhất. Chính vì vậy, những nhân tố như
cảm nhận của khách hàng về chi phí không ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ
nhưng lại có tác động đến quyết định sử dụng dịch vụ của khách hàng.
Khi mua sản phẩm dịch vụ khách hàng phải trả một chi phí nào đó để đổi
lại giá trị sử dụng mà mình cần. Như vậy, chi phí đó được gọi là cái phải đánh
đổi để có được giá trị mong muốn từ sản phẩm dịch vụ. Nếu đem lượng hóa giá
cả trong tương quan giá trị có được thì khách hàng sẽ có cảm nhận về tính cạnh
tranh của giá cả là thỏa đáng hay không. Chỉ khi nào khách hàng cảm nhận chất
lượng dịch vụ có được nhiều hơn so với chi phí sử dụng thì giá cả được xem là
cạnh tranh. Ngược lại, khách hàng sẽ cảm thấy mình phải trả nhiều hơn với
những gì nhận được và giá cả trong trường hợp này sẽ tác động tiêu cực đến sản
hoặc phục tráng từ hạt giống sản xuất theo quy trình phục tráng hạt giống siêu
nguyên chủng và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định
Hạt giống nguyên chủng: Là hạt giống được nhân ra từ hạt giống siêu nguyên
chủng và đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định
Hạt giống xác nhận: Là hạt giống được nhân ra từ hạt giống nguyên chủng và
đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định [10].
Nguồn gốc cây lúa
Cây lúa thuộc họ hoà thảo Poacea, chi Oryza. Loài Oryza sativa (ở châu
Á) với hai loài phụ là indica và Japonica (loài phụ Javanica hiện được xếp vào
japonica nhiệt đới).
Ngày nay, giới khoa học quốc tế, các khoa học gia hàng đầu của Trung
Quốc đều cho rằng quê hương của cây lúa nước là vùng Đông Nam Á và Nam
Trung Hoa. Các giống lúa indica được trồng phổ biến ở vùng nhiệt đới Đông
Nam Á, các giống japonia được trồng phổ biến ở vùng Trung và Nam Trung
Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Đài Loan có điều kiện khí hậu lạnh hơn[11].
Nơi xuất phát trồng lúa
Vavilov (1926), trong nghiên cứu nổi tiếng của ông về sự phân bố đa dạng
di truyền của cây trồng, cho rằng lúa được xem như phát triển từ Ấn Độ.
Roschevicz (1931) phân các loài Oryza thành 4 nhóm: Sativa, Granulóla.
Coarctata và Rhvnchonza, đồng thời khẳng định nguồn gốc của Oryza sativa là
một trường hợp của nhóm Sativa, có lẽ là Oryza sativa r. Spontanea ở Ấn Độ,
Đông Dương hoặc Trung Quốc.
Chang (1976), nhà di truyền học cây lúa của Viện Nghiên Cứu lúa Quốc Tế
(IRRI), đã tổng kết nhiều tài liệu khác nhau và cho rằng việc thuần hóa lúa trồng
tiên xảy ra ở Trung Quốc. Các biện pháp kỹ thuật như đánh bùn và cấy, đầu tiên
được phát triển ở miền Bắc và Trung của Trung Quốc, rồi sau đó truyền sang
Đông Nam Châu Á. Canh tác lúa nước có trước việc canh tác lúa rẫy ở Trung
Quốc, nhưng ở nhiều vùng đồi núi Đông Nam Châu Á thì việc canh tác lúa rẫy
lại có trước lúa nước. Còn về cách thức trồng trọt thì đã tiến hóa từ du canh du
cư sang gieo thẳng, ở những ruộng định canh, rồi mới tới biện pháp cấy lúa ở
ruộng nước có bờ bao.
Như vậy, có thể nói rằng lịch sử phát triển ngành trồng lúa bắt nguồn từ
Châu Á, rồi từ đó lan tràn ra các vùng khác trên thế giới thông qua nhiều con
đường. Không có gì nghi ngờ rằng Nam Châu Á là nơi xuất phát chủ yếu của
các giống lúa indica mà sau đó được tìm thấy ở xứ Ba Tư cổ đại và nhiều khu
vực khác ở Châu Phi. Loại hình japónica từ Trung Quốc lan sang Triều Tiên và
Nhật Bản. Đến khoảng thập niên 1950, một số nhà nghiên cứu Nhật Bản đã
thêm một nhóm thứ 3 là “javanlca” để gọi các giống lúa “Bulu” và “Gundil” của
Indonesia. Theo Chang và Bardenas (1965) nhóm “Hsien” bao gồm các giống
lúa ở Ceylon, Nam và Trung Trung Quốc, Ấn Độ, Java, Pakistan, Philippines,
Đài Loan và các khu vực nhiệt đới khác, còn nhóm “Keng” bao gồm các giống
lúa ở miền Bắc và Đông Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên. Châu Âu có thể
đã tiếp nhận lúa trồng thông qua xứ Ba Tư cổ, khu vực Trung Á hoặc trực tiếp
từ Trung Quốc. Các quốc gia Châu Mỹ La Tinh nhận lúa trồng chủ yếu từ Tây
Ban Nha và Bồ Đào Nha. Cây lúa cổ xưa ở Mỹ đã đến từ Châu Âu và vùng Viễn
Đông. Còn sự du nhập của Oryza sativa L. vào Châu Phi thì thông qua các du
khách từ các quần đảo Malayo Polynesia vài thế kỷ TCN. Một khả năng khác là
từ Sri Lanka và Indonesia thông qua biển Oman rồi tới Somalia, Zanzibar và
Kilua. Còn Oryza glaberrima có lẽ xuất xứ từ vùng nhiệt đới Tây Châu Phi,
17
khoảng 1500 năm TCN[4].
2.1.5.2 Khái niệm dịch vụ lúa giống
bằng lúa tươi hoặc không muốn trả lúa thì thanh toán bằng tiền mặt nếu muốn,
khác với trước đây là phải trả bằng lúa sản xuất ra. Điều này giúp cho người sản
xuất có quyền tự do quyết định việc trả nợ bằng nhiều cách khác nhau.
Doanh nghiệp bán trực tiếp sản phẩm dịch vụ cho người sản xuất, với
phương thức này, người dân có nhiều sự lựa chọn chủng loại giống và số lượng
gieo xạ theo diện tích sản xuất mình có, không theo cơ chế cũ là phải gieo loại
giống quy định với số lượng quy định. Điều này giúp cho người dân chủ động
về sự lựa chọn loại giống phù hợp với chất đất của mình hơn, tăng năng suất và
sản lượng thu hoạch. Đồng nghĩa với việc họ sẽ không ép buộc trong việc bán
hay không bán cho người cung cấp lúa giống.
Ngoài ra còn có nhiều loại hình dịch vụ đi kèm với dịch vụ lúa giống giúp
cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sản xuất lúa. Dịch vụ hỗ
trợ kỹ thuật giúp hộ chủ động hơn trong việc kiểm soát sâu bệnh hại, tiết kiệm
thời gian, chi phí, công chăm sóc. Dịch vụ bao tiêu sản phẩm, người dân sản
xuất ra có thể bán hoặc không bán cho người cung cấp, tránh hoàn cảnh thường
gặp “được mùa thì mất giá, được giá thì mất mùa”.
Như vậy có thể thấy rằng dịch vụ lúa giống ra đời không những giúp cho
người nông dân giảm đi nhiều chi phí, công sức và thời gian mà còn nâng cao
được năng suất cây trồng, cải thiện đời sống vật chất. Dịch vụ lúa giống luôn giữ
vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất của bà con nông dân[15].
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình phát triển sản xuất cây lúa trên thế giới
Lúa là loài thực vật một lá mầm, thuộc Oryza sativa (Lúa Châu Á)
hoặc Oryza glaberrima (Lúa Châu Phi). Là một loại ngũ cốc làm lương thực
quan trọng cho khoảng 1/2 dân số của thế giới, đặc biệt là ở Châu Á, Châu Phi
và Nam Mỹ. Lúa là loài cây lương thực có sản lượng đứng hàng thứ ba trên
thế sau ngô và lúa mì.
Có bốn loại dạng gạo chính được giao dịch trên toàn thế giới: Gạo indica,
gạo japonica, gạo thơm và nếp. Các giống lúa khác nhau được hoán đổi cho
nhau tùy vào thị trường tiêu thụ, do đó mỗi giống lúa trồng tăng hay giảm do
khu vực khác nhau trên thế giới. Ở các nước trồng lúa truyền thống, nghề trồng
lúa gắn liền với nền văn hóa địa phương như xóm làng, lễ hội…Ngày nay nghề
trồng lúa phù hợp với các quốc gia đang phát triển vì sự mưu sinh của đông đảo
lực lượng nông dân. Thường được duy trì và phát triển ở các quốc gia vùng
nhiệt đới, có lượng mưa cao và chi phí lao động thấp.
Mặc dù các giống lúa trồng phát sinh từ Châu Á và Châu Phi, nhưng hiện
nay cây lúa được phát triển ở tất cả các Châu lục khác có điều kiện khí hậu và
thời tiết thích hợp. Ví dụ cây lúa ngày nay còn được mở rộng sang Châu Mỹ,
Châu Âu và Châu Úc. Việc di cư dân số giữa các khu vực, các Châu lục, dân số
gia tăng và thương mại hóa toàn cầu làm cho cây lúa ngày càng mở rộng diện
tích trồng ở những nơi có điều kiện nhằm giải quyết vấn đề an ninh lương thực ở
mỗi nước trồng lúa và là nguồn thu nhập chính của đại đa số nông dân ở các
nước đang phát triển.
Ngày nay, phần lớn sản lượng lúa gạo thế giới được sản xuất ở Trung
Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Pakistan, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan, Myanmar,
Philippies và Nhật Bản. Châu Á hiện nay vẫn còn chiếm 92% tổng sản lượng
20
lúa gạo của thế giới. Bình quân lượng gạo tiêu thụ đầu người trên thế giới tăng
thêm 40%. Lúa là cây trồng quan trọng nhất ở Châu Á. Ví dụ ở Campuchia có
90% của tổng số diện tích đất nông nghiệp được sử dụng để trồng lúa.
Năng suất lúa từ dưới 1 tấn/ha ở vùng rất ít lượng mưa nhưng không được
tưới cho đến hơn 10 tấn /ha trong các hệ thống thâm canh có tưới nước ở vùng
ôn đới. Cây lúa phát triển trên nhiều hệ sinh thái khác nhau, những nơi trồng
được cây lúa thường trồng các loại cây khác không có hiệu quả ví dụ như ở các
đầm lầy.
2.2.2 Các kiểu môi trường phát triển của cây lúa
Trên thế giới hiện nay cây lúa được phát triển trên 4 kiểu môi trường chính,
đó là: Vùng chủ động tưới tiêu, vùng đồng bằng lệ thuộc nước trời, vùng cao lệ
-
- Môi trường vùng cao lệ thuộc nước trời
Lúa nương được trồng trong điều kiện khô hạn trong hệ thống canh tác hỗn
hợp mà không có thủy lợi và không có cày bừa. Vùng này chiếm khoảng 14
triệu ha, với nhiều khó khăn gây ra năng suất thấp (thường chỉ có khoảng 1
tấn/ha), đóng góp chỉ có 4% tổng sản lượng gạo của thế giới. Khoảng 70% diện
tích lúa nương trên thế giới ở Châu Á. Có những vùng trồng lúa nương nổi tiếng
như ở vùng núi của Philippies, vùng núi ở tỉnh Hà Giang, ruộng lúa bậc thang ở
Sapa thuộc miền Bắc Việt Nam. Ở Trung và Tây Phi, vành đai lúa Châu Phi, các
khu vực miền núi chiếm khoảng 40% diện tích trồng lúa và sử dụng khoảng
70% nông dân trồng lúa của khu vực này.
- Môi trường ngập sâu theo mùa
Lúa ngập sâu hay lúa nổi thuộc loài lúa Châu Á (Oryza sativa) phát triển
trong điều kiện ngập nước sâu từ 50 cm trở lên với thời gian ngập ít nhất khoảng
một tháng. Có hơn 100 triệu người dân ở miền Nam và Đông Nam Á dựa vào
cây lúa nổi để sinh sống. Có hai dạng lúa chịu ngập là lúa cao cây truyền thống
và lúa nổi.
Lúa cao cây truyền thống là những giống được trồng ở những vùng vào mùa lũ
có độ sâu nước từ 50-100 cm trong khoảng thời gian vài tháng trong chu kỳ sinh
trưởng của chúng.
Lúa nổi phát triển trong nước sâu hơn 100 cm, thân có thể kéo dài 3-4 m tùy
theo độ ngập và phần lớn thân cây lúa bị dìm trong nước, cây lúa vươn khỏi mặt
nước nhờ các lóng của chúng chứa khí như những chiếc phao để phần trên ngọn
nổi trên mặt nước.
Lúa chịu ngập và lúa nổi được tìm thấy trong môi trường dễ bị lũ lụt, ở các
khu vực tích nước định kỳ vào mùa mưa lũ.
Các giống lúa Indica là những loại chính của cây lúa chịu ngập và lúa nổi,
mặc dù giống Japonica đã được tìm thấy ở Miến Điện, Bangladesh và Ấn Độ.
số thế giới ở những nước chậm phát triển và đang phát triển.
- Phát triển giống lúa lai và siêu lúa lai
Mục đích của công nghệ lúa lai năng suất cao là để tăng tiềm năng năng
suất lúa vượt trội hơn các giống lúa truyền thống bằng cách khai thác hiện tượng
ưu thế lai F1. Công nghệ này đã được phát triển thành công và được chấp nhận
rộng rãi bởi các nông dân ở Trung Quốc trong 25 năm qua.
Hiện nay, khoảng 15 triệu ha trên tổng số 30 triệu ha diện tích lúa ở Trung
Quốc được trồng bằng lúa lai. Trung Quốc đã sản xuất 103,5 triệu tấn (17% của
sản lượng lúa thế giới) tăng thêm 22,5 triệu tấn lúa mỗi năm do trồng lúa lai[5].
2.2.3 Tình hình phát triển sản xuất cây lúa ở Việt Nam
Để phát triển dịch vụ ở nông thôn, trước hết ta cần biết có những ngành
dịch vụ về nông nghiệp như thế nào? Dịch vụ trong nông nghiệp gồm: Dịch vụ
thủy lợi, dịch vụ điện, dịch vụ giống cây trồng vật nuôi, dịch vụ làm đất, dịch vụ
vật tư nông nghiệp, dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ bảo vệ đồng ruộng, dịch vụ
thú y, dịch vụ chế biến nông sản, dịch vụ khuyến nông, dịch vụ bao tiêu đầu ra.
Hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị kinh tế tập thể cơ sở có chức năng hoạt
động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình xã viên và kinh doanh trong mọi lĩnh
vực sản xuất và chế biến, tiêu thụ nông sản…Sau những năm chuyển đổi với các
mức độ khác nhau đã tổ chức một số hoạt động chủ yếu. Tuy nhiên, các loại
hoạt động dịch vụ trong hợp tác xã trong cả nước rất khác nhau. Những dịch vụ
23
mà thị trường cạnh tranh như vật tư nông nghiệp, thương mại tiêu thụ nông sản
thì thấp hơn rất nhiều, thậm chí nhiều địa phương các hợp tác xã không đủ điều
kiện để tổ chức hoạt động dịch vụ này.
Để có thể đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu phát triển và đòi hỏi trong phát triển
nông nghiệp hiện nay nhiều công ty và doanh nghiệp cũng như các cá nhân đã
hình thành và mở ra các loại hình dịch vụ đa dạng và cần thiết để phục vụ cho
quá trình phát triển sản xuất. Hàng ngàn các điểm cung cấp các dịch vụ nông
24
là, với sự phát triển của mình, mạng lưới dịch vụ nông nghiệp sẽ góp phần thúc
đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh theo hướng tập trung, với quy mô lớn
và hiệu quả kinh tế cao, mang lại niềm vui cho nhà nông.
Đối với dịch vụ trong sản xuất lúa
Lúa là cây trồng chủ đạo, là cây lương thực chủ yếu của nước ta. Chính vì
vậy, hiện nay sản xuất lúa cũng như các loại hình dịch vụ liên quan trực tiếp đến
sản xuất lúa đang được quan tâm và chú trọng đầu tư. Không chỉ của các cấp
chính quyền nhà nước mà các doanh nghiệp, các công ty cũng đang đầu tư chú
trọng quan tâm tới các dịch vụ phục vụ trong sản xuất lúa đặc biệt là trong thời
kỳ mà vấn đề xâm nhập mặn và hạn hán đang xảy ra trên cả nước. Nhận thức
được sự cần thiết trong việc duy trì diện tích sản xuất lúa đến năm 2020 là 3,8
triệu ha thì vai trò của các dịch vụ cho cây lúa là vô cùng cần thiết. Bởi vậy các
HTX, các doanh nghiệp đang chuyển sang kinh doanh các dịch vụ phục vụ cho
sản xuất lúa.
Hiện nay, tính bình quân có khoảng vài trăm các doanh nghiệp, HTX cung
cấp các loại hình dịch vụ trong một tỉnh ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên các dịch
vụ này đang mang tính nhỏ lẻ chưa đáp ứng được nhu cầu của sản xuất nông
nghiệp. Các dịch vụ chủ yếu là dịch vụ giống, phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ
cho sản xuất và thường tập trung ở những vùng có điều kiện giao thông thuận lợi
còn những vùng mà giao thông đi lại không thuận lợi, khó khăn thì các loại hình
dịch vụ người sản xuất hầu như chưa tiếp cận được. Đặc biệt, với thực tế hiện
nay của sản xuất lúa, dịch vụ làm đất chưa đáp ứng kịp thời cho việc gieo sạ
đúng thời vụ. Còn ít các HTX, doanh nghiệp kinh doanh trong khâu làm đất. Đối
với dịch vụ bao tiêu đầu ra cho người dân yên tâm sản xuất cũng còn rất yếu.
Hầu hết các doanh nghiệp liên kết phục vụ thường về giống, kỹ thuật, phân bón
là chủ yếu chưa chú trọng tới việc thực hiện dịch vụ bao tiêu đầu ra lúa vào cuối
vụ[15].