Quan hệ việt nam hàn quốc giai đoạn 1992 1010 - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH s ử

CẤN THỊ LỤA

QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC
GIAI ĐOẠN 1992 - 2010

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử V iệt Nam

Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VĂN DŨNG

HÀ NỘI - 2016


MỤC LỤC

PHÀN MỞ ĐẦU..................................................................................................... 1
Chương 1: C ơ SỞ CỦA QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN..
1992- 2010................................................................................................................7
1.1. NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC............7
1.2. LỢI ÍCH CỦA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC KHI THIẾT LẬP MỐI QUAN
H Ệ .............................................................................................................................8
1.2.1 Lợi ích của Việt Nam khi thiết lập quan hệ vói Hàn Quốc............................. 8
1.2.2. Lợi ích của Hàn Quốc khi thiết lập quan hệ vói Việt Nam ...........................9
1.3.QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC TRƯỚC NẢM 1992 - NỀN TẢNG
CHO MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1992 - 2010....11
1.3.1. Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trước 1954.................................................. 11
1.3.2. Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 1954 - 1975...............................16

Sau khi Việt Nam và Hàn Quốc chính thức đặt quan hệ ngoại giao (Tháng
12-1992), hai nước đã cùng chung tay xây dựng mối quan hệ này và gặt hái được
nhiều thành công. Thời kì sau đó chính là thời kì cả hai nước xác lập, thúc đẩy và
nâng cấp quan hệ thành đối tác hợp tác toàn diện.
Là một nước công nghiệp mới (NIC), Hàn Quốc phát triển nhanh, mạnh,
vững chắc, có tiềm lực kinh tế, khoa học kĩ thuật và vị thế ngày càng tăng trên
trường quốc tế. Sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, trên thế giới và khu vực có
nhiều biến chuyển tích cực, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành xu thế
chủ đạo. Trên cơ sở có nhiều nét tương đồng về lịch sử và văn hóa, nhận thấy Việt
Nam có tiềm năng hợp tác to lớn trên nhiều lĩnh vực, Hàn Quốc đã tích cực đẩy
mạnh mối quan hệ nhiều mặt vói Việt Nam, hi vọng sẽ có sự ảnh hưởng tương
xứng vói tiềm năng của mình ở khu vực Đồng Á và cân bằng sự có mặt của các
nền kinh tế trong khu vực này. Với Hàn Quốc, Việt Nam là thị trường mới, hấp
dẫn, lực lượng lao động dồi dào, Việt Nam đang chuyển mình trong quá trình đổi
mói, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế vì vậy Việt Nam sẽ là thị trường đầu tư,
một địa chỉ hợp tác đầy hứa hẹn. Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae - Jung (Nhiệm kì
1998- 2003) khẳng định: “Việt Nam là đối tác ưu tiên hàng đầu của Hàn Quốc
trong các nước đang phát triển”. Vói tầm nhìn xa, Hàn Quốc đã hợp tác vói Việt
Nam để hai quốc gia cùng có những bước tiến phát triển về mọi mặt.

về phía Việt Nam, trải qua quá trình thống nhất đất nước, đặc biệt sau
công cuộc đổi mới năm 1986 đất nước đã có nhiều bước tiến quan trọng. Thời kì
này Việt Nam cũng tăng cường mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước. Đảng và
chính phủ Việt Nam đã đưa ra quan điểm: “Việt Nam sẵn sàng hợp tác với các
quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực vì sự thịnh vượng chung của nhân dân
1


Việt Nam và nhân dân các nước”. Với Hàn Quốc, Việt Nam đã có những hành
động thiết thực để đẩy mạnh hợp tác nhiều mặt. Việt Nam khắc phục khó khăn,

cảnh hội nhập Đông Á của tác giả Ngô Xuân Bình,cuốn Quan hệ Việt Nam- Hàn
Quốc trong bối cảnh quốc tế mới...
Ngoài ra còn có các tạp chí, các bài báo được đăng tải trên các trang mạng
Internet. Tiêu biểu là tác phẩm : “Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc: Thực trạng và
triển vọng” của Nguyễn Hữu Cát, tạp chí Cộng sản, số 12/2005; " Triển vọng và
giải pháp phát triển quan hệ thương mại Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế” - tác giả Nguyễn Hồng Nhung và tập thể, Báo cáo tổng hợp
đề tài nghiên cứu cấp bộ của Bộ Thương mại năm 2003.
Đặc điểm chung của các bài viết này là đi sâu vào phân tích mối quan hệ của
Việt Nam - Hàn Quốc trên một lĩnh vực nhất định như chính trị, kinh tế, quân sự
và khoa học kĩ thuật trong một khoảng thòi gian nhất định nào đó mà chưa đi sâu
nghiên cứu mối quan hệ của hai nước một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực
trong khoảng thời gian dài.
Bên cạnh đó cũng có những tác phẩm viết về mối quan hệ hai nước qua các
giai đoạn khác nhau trên các lĩnh vực quân sự, chính trị, thương mại và đầu
tư.. .Như tác phẩm: “Quan hệ kinh tế Việt Nam- Hàn Quốc: 15 năm hợp tác và
phát triển” của Trần Quang Minh, tạp chí Nghiên cứu Đồng Bắc Á, số 4 (74),
tháng 4/2007, “Bảo cáo xu hướng ODA cho Việt Nam ” của Văn phòng KOICA Hà
Nội, tháng 10/2004 (tiếng Hàn Quốc)...
Như vậy, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về mối quan hệ Việt
Nam - Hàn Quốc, song chỉ mới chỉ dừng lại ở góc độ đi sâu vào nghiên cứu một
lĩnh vực nào đó và trong một thời gian nhất định, chưa có sự tổng hợp toàn diện về
mối quan hệ này.
Trong quá trình thực hiện Khóa luận, tôi đã kế thừa được ít nhiều các công

3


trình trên. Do đó thuận lợi của tôi là có nguồn tài liệu phong phú để thực hiện đề
tài này, nhưng bên cạnh đó còn cái khó trong việc phân tích và khái quát vấn đề để

4.1. Nguồn tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu khóa luận tôi đã sử dụng các nguồn tài liệu:
- Các sách báo có liên quan đến đề tài khóa luận
- Các tạp chí và bài viết trên các trang mạng
- Các bài nghiên cứu khoa học, luận văn có liên quan đến đề tài nghiên cứu
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, tôi sử dụng các phưong pháp chủ
yếu sau:
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp logic
- Bên cạnh đó tôi còn sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp định lượng trong đó
phương pháp lịch sử là chủ yếu.
- Ngoài ra, tôi cũng sử dụng phương pháp liên ngành như: phương pháp
nghiên cứu của quan hệ quốc tế, đó là phương pháp phân tích, so sánh, tổng họp,
dự báo trong Quan hệ Quốc tế.
5. Những đóng góp của đề tài khóa luận
Đề tài nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ năm 1992 đến năm
2010 là một đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
Thứ nhất, phân tích, phản ánh mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc từ năm
1992 đến năm 2010 trên các lĩnh vực chủ yếu như kinh tế, văn hóa, xuất khẩu lao
động...,và đặc điểm, tác động của mối quan hệ này giúp ta có một cái nhìn toàn
diện, sâu sắc về mối quan hệ họp tác của hai quốc gia có hai thể chế chính trị khác
nhau nhưng lại có những nét tương đồng về lịch sử và văn hóa.

5


Thứ hai, nghiên cứu đề tài này sẽ giúp cho các bạn sinh viên chuyên ngành
Lịch sử có thêm những tài liệu và kiến thức quan trọng trong lĩnh vực Quan hệ
quốc tế và là hành trang ý nghĩa trước khi ra trường.

phuang dien van hoa cüng väy, vuang trieu Cao Ly süng bäi Phat giäo thi cüng
thoi ki näy, nhä Ly (1009-1225) vä trieu Trän (1225-1400), a Viet Nam, änh
huöng cüa Phat giäo lä tuyet döi. Mät khäc, döng thoi vai su thänh lap vuang triöu
Trieu Tien vä trieu Le, Phat giäo suy yeu dän, Nho giäo tra thänh he y niem chi
phöi läm tu tuang chinh tri chü dao, mä nguai xua thuang goi lä “döng van”.
Viet Nam vä Hän Quöc deu lä hai nuac chäu Ä, cö vi tri chien luac quan
trong a khu vuc Döng Ä vä Döng Nam Ä. Cä hai dän töc da tung bi ngoai bang dö

7


hộ và cùng cảnh ngộ đất nước bị chia cắt, Việt Nam rất thấu hiểu sự mong mỏi
thống nhất đất nước của nhân dân và Chính phủ Hàn Quốc, nhân dân hai nước dễ
thông cảm và gắn bó với nhau. Cả hai dân tộc đều có truyền thống giữ gìn, kế thừa
nền văn hóa dân tộc trong lịch sử lâu dài hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước và
tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại. Những điều kiện trên đã
từng thúc đẩy quan hệ kinh tế Việt- Hàn trong quá khứ vẫn tiếp tục là cơ sở vững
chắc cho sự phát triển của quan hệ hai nước trong hiện tại và tương lai.
1.2. LỢI ÍCH CỦA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC KHI THIẾT LẬP MỐI
QUAN HỆ
1.2.1. Lọi ích của Việt Nam khỉ thiết lập quan hệ với Hàn Quốc
Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia cùng nằm trong khu vục văn hóa
Đồng Á có truyền thống lịch sử hàng ngàn năm văn hiến với những đặc điểm là
tinh thần yêu nước, trí thông minh và cần cù lao động. Trong quá khứ, cả hai dân
tộc đều bị các cuộc chiến tranh xâm lược tàn phá khốc liệt và là những thuộc địa có
trình độ sản xuất thấp, ít được thế giới biết đến. Sau khi giành độc lập chính phủ và
nhân dân hai nước đều mong muốn sống trong hòa bình, độc lập, tập trung sức lực
phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả của quá khứ, đưa đất nước thoát khỏi nghèo
nàn và lạc hậu, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển. Đó là những điểm
thuận lợi cho hai nước dễ dàng thông hiểu và họp tác với nhau hơn so với các nước

Từ cuối những năm 80, quá trình dân chủ hóa trong nền chính trị Hàn Quốc
được thúc đẩy mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời các chính sách mới, phù
họp với tình hình phát triển của quốc tế và nhằm giải quyết các vấn đề an ninh và
kinh tế của đất nước, tạo cơ sở cho việc thống nhất 2 miền trên bán đảo Triều Tiên.
Một trong những hướng mói trong chính sách ngoại giao của Hàn Quốc ở thời kì
ngay sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc là toàn cầu hóa và đa dạng mối quan hệ.
Tiêu biểu cho sự thay đổi về đường lối đối ngoại trên là Chính sách ngoại giao
phương Bắc ( The Northern Dỉplomacy Polỉcy) (2-1988). Chính sách này đã thúc
9


đẩy và thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước XHCN như Liên Xô, Trung Quốc,
kể cả thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc đã
thu được nhiều thành cồng với chính sách này, từ chỗ phụ thuộc nhiều về kinh tế
vào Mỹ và Nhật Bản nay chuyển sang quan hệ đa phương với các nước có chế độ
chính trị khác nhau. Điều đó đã tạo điều kiện để Hàn Quốc gia nhập Liên Hợp
Quốc và tăng cường vị thế của Hàn Quốc trên trường quốc tế. Chính sách này giúp
Hàn Quốc phát triển mạnh quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực
Châu Á- Thái Bình Dương cũng như các nước ASEAN. Chính trong bối cảnh này,
Hàn Quốc đã thúc đẩy quá trình thiết lập quan hệ chính thức với Việt Nam. Việc
Hàn Quốc phát triển quan hệ với Việt Nam cũng có nghĩa là Hàn Quốc có nhiều
thuận lợi hơn trong việc xâm nhập vào hai thị trường kinh tế tiềm năng mới là Lào
và Campuchia. Với kinh nghiệm xây dựng và phát hiển kinh tế của mình Hàn
Quốc mong muốn công nghệ và vốn của Hàn Quốc khi kết họp với nguồn tài
nguyên và lao động của Việt Nam chắc chắn sẽ góp phần vào cồng cuộc phát triển
tốt hơn cho kinh tế của hai nước.
Đối với Hàn Quốc đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam đã
trùng với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hàn Quốc cũng như sẽ có thể phát
huy lợi thế so sánh từ cả hai nước khi họp tác chặt chẽ với nhau. Việc mở rộng
quan hệ họp tác với Việt Nam đã góp phần giúp Hàn Quốc khắc phục những khó

Trong thời kỳ này công việc ngoại giao của ba nước Việt Nam, Hàn quốc,
Nhật Bản chủ yếu là ngoại giao với Trung Quốc. Thời bấy giờ, mặc dù cả ba nước
đều đã là các nước độc lập, có chủ quyền, quan hệ ngoại giao cấp Quốc gia trực
tiếp giữa nước này với nước kia, đã đặt ra, nhưng không diễn ra thường xuyên. Do
vậy, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc thời kỳ này, nói chung là
quan hệ gián tiếp, qua nước trung gian là Trung Quốc. Phần lớn các đoàn sứ thần
Việt Nam, theo định kì tuế cống (thường là 3 năm một lần) sang Yên Kinh (tức
Bắc Kinh ngày nay) và đã gặp đoàn sứ thần Hàn Quốc tại đây.
11


Danh sách 11 lần tiếp xúc giữa sứ thần Việt Nam và sứ thần Hàn Quốc thời
trung đại trên đất Trung Quốc [13, tr.125 - 126]:

TT

Năm đỉ sứ

Sứ thần Đai Viêt•

Sứ thân Triều



Tiên - Hàn

Viêt
• Nam

Quốc

Mậu Tuất 1718 Nguyễn Công Hãng

- Dụ Tập Nhất.

- Xướng họa thơ.

- Lý Thế Cận.
Đinh Mão

Nguyễn Tồng Quai

1747

- Lý Hiệu Lý

- Xướng họa thơ.

- Mô Tư Gia

Canh Thìn

Trần Huy Mật.

- Hồng Khải Hy.

- Xướng họa thơ.

1760

Lê Quý Đôn.

1766

[13, tr. 125 - 126]
Nguyễn Dao

Sứ bộ Hàn Quốc

- Tặng thơ sứ
thần Hàn Quốc.

Lý Trí Trung

- Thăm hỏi.
- Kết thân.

- Lý Quang

Đinh Dậu 1777 Hô Sĩ Đống

- Trịnh Vũ Huần

12

- Xướng họa thơ.


- Doãn Hường
Trọng Lễ
B. Thời Tây Sơn (1788- 1802)



Hanh

c. Thời Nguyễn (1802-1945)
Giáp Tý 1864

Nguyễn Tư Giản

Nam

Đình - Xướng họa thơ.

Thuân

10

- Triệu Bình Cảo
- Kim Hữu Uyên

11

1912-1913

Nguyễn

Thượng - Kim Bí Thư

- Tặng thơ.

Hiền

phẩm thơ văn tuyên truyền yêu nước của mỗi nước đối với kẻ thù cướp nước họ.
Như Phan Bội Châu năm 1905, tại Tokyo đã viết tác phẩm “Việt Nam vong quốc
sử”, là một bản án tố cáo tội ác của thực dân Pháp tại Việt Nam. Tác phẩm này
được xuất bản ở Tokyo và ngay lập tức được các bạn Hàn Quốc dịch ra tiếng Hàn
và phổ biến ở Hàn Quốc, đã có tác dụng tuyên truyền tư tưởng yêu nước, căm thù
giặc rõ rệt.
Có điều đặc biệt là cũng năm 1905 tại Nhật Bản, nhà yêu nước Phan Bội
Châu gửi về cho Đông Kinh Nghĩa Thục một tác phẩm có cùng chủ đề gọi là
“Triều Tiên vong quốc sử” (không rõ tác giả là ai, là người Triều Tiên hay cũng
chính là Phan Bội Châu). Nội dung cuốn sách “Triều Tiên vong quốc sử” cũng có
những chương, mục tố cáo đế quốc Nhật Bản và đế quốc Nga hoàng. Đó là “hai
14


con cọp xâu xé nhau... Cao Ly là của chung hai nuớc Nhật, Nga.. .nay thì hoàn
toàn là của Nhật Bản. Đấy là lịch sử thống khổ của Cao Ly gần 10 năm lại đây”
[27, tr. 197- 200].
Vào thời điểm chuyển biến cục diện của phong trào cách mạng ở Đồng Nam
Á lúc bấy giờ, cũng tại Tokyo, noi tập trung nhiều nhà yêu nước “đang đi tìm
đường cứu nước” đã họp nhau thành lập ra Hội Đông Á đồng minh (cũng có tên
gọi là Đông Á hòa thân hội) vào cuối năm 1907. Hội này như chính Phan Bội Châu
đã ghi rõ trong Niên biểu (tự truyện) của mình:
“ Trước hết hãy liên kết các chí sĩ ở toàn châu Á và những dân tộc vong quốc
ở châu Á làm thế nào đoàn kết thành một đảng, sẽ có lúc đồng thời cách mệnh cả.
Một phương diện đã tính như thế, mà còn một phương diện nữa, thì chỉ lấy
cách mệnh tuyên truyền là cách giáo dục ở trong thời kỳ vong quốc” [10, tr. 196].
Hội Đông Á đồng minh có sự tham gia đông đảo của các chí sĩ Trung Quốc, Ãn
Độ, Miến Điện, Việt Nam, Triều Tiên... Trong Điều lệ Hội Đồng Á đồng minh có ghi
thêm là ngoài việc đặt “Tổng bộ” tại Tokyo còn đặt “trạm liên lạc” ở Trung Quốc, Ấn
Độ, Triều Tiên, Philippin, An Nam... Mục đích của Hội là: Liên kết các đảng cách

hệ hữu hảo với nhau. Họ luôn luôn gắn bó với nhau trong lý tưởng cứu nước, đánh
đuổi kẻ thù dân tộc là bọn thực dân, đế quốc. Sự gắn kết tình nghĩa đó được thể
hiện ở chỗ thư từ qua lại trao đổi tin tức, tâm tình của những người “đồng bệnh”
(cùng bị mất nước).
Tháng 8-1945, Chiến tranh thế giói thứ hai kết thúc đã tạo thời cơ cho nhân
dân hai nước vùng lên giành độc lập.
1.3.2. Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 1954 -1975
1.3.2.1.Giaỉ đoạn 1954-1963
Mối quan hệ Việt Nam- Hàn Quốc trong giai đoạn Hàn Quốc chưa can dự vào
chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.

16


Việt Nam Cộng hòa và Đại Hàn Dân Quốc là sản phẩm của chiến lược toàn
cầu của Mỹ thời kì chiến tranh Lạnh. Cả Lý Thừa Vãn và Ngô Đình Diệm - những
người sáng lập nên hai nhà nước này, đều là những nhân vật đã sống lưu vọng
nhiều năm trên đất Mỹ, được bồi dưỡng tinh thần chống cộng cực đoan. Quan hệ
giữa Việt Nam Cộng hòa và Đại Hàn Dân Quốc trong những năm 1953-1963 được
đặt trên nền tảng của chủ nghĩa chống cộng.

về đối nội, quan hệ ấy nhằm củng cố hai chế độ ở Sài Gòn và Seoul trên tất
cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa,... về đối ngoại, quan hệ này còn muốn
biến Việt Nam Cộng hòa và Đại Hàn Dân quốc thành hai tiền đồn của “Thế giới tự
do” nhằm thực hiện “Chính sách ngăn chặn cộng sản” của Mỹ. Đó là lý do để
thành lập những tổ chức như Liên minh nhân dân châu Á chống cộng. Trung tâm
chống cộng châu Á mà Việt Nam Cộng hòa và Đại Hàn Dân Quốc đều là những
thành viên hết sức tích cực.
I.3.2.2. Giai đoạn 1964-1975
Hàn Quốc can dự vào chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam (1964-1973) và sau

quân. Vào cuối năm 1972 - tức là một tháng trước khi ký Hiệp định Pari - quân
Hàn Quốc là lực lượng “đồng minh” đông nhất của Mỹ ở miền Nam Việt Nam
(gấp 1,5 lần quân Mỹ, gấp hơn 136 lần quân 4 nước Ồxtrâylia, Thái Lan, Niu Dilân
và Philippin cộng lại). Điều đó cho thấy chính phủ Seoul vẫn còn lần nữa “luyến
tiếc” khi buộc phải rời khỏi chiến trường miền Nam Việt Nam. Quân Hàn Quốc chỉ
rút hết sau khi có Hiệp định Pari. Sau đó, Hàn Quốc vẫn duy trì mối quan hệ chính
trị và kinh tế với Việt Nam Cộng hòa cho đến khi chế độ Sài Gòn hoàn toàn sụp đổ
vào ngày 30 - 4 - 1975.
1.3.3.Quan hệ Việt Nam- Hàn Quốc giai đoạn 1975-1992
1.3.3.1. Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam
Sau đại thắng mùa xuân 1975, miền Bắc và miền Nam gặp nhiều thuận lợi
nhưng cũng rất nhiều khó khăn: Ở miền Bắc, trải qua 20 năm (1954-1975) tiến hành
18


cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc đạt được những thành tựu to lớn và toàn diện,
đã xây dựng được những cơ sở vật chất - kĩ thuật ban đầu của xã hội chủ nghĩa, tuy
vậy cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của Mĩ đã tàn phá nặng
nề, gây hậu quả lâu dài đối với miền Bắc. Ở miền Nam, sau 1975 đã hoàn toàn giải
phóng, chế độ thực dân mới của Mĩ cùng bộ máy chính quyền Sài Gòn ở trung ương
và địa phương bị suy sụp,... nhưng cũng bị chiến tranh tàn phá hoại, lệ thuộc nặng nề
vào viện trợ từ bên ngoài.
Việt Nam thực hiện các kế hoạch 5 năm: 1976-1980, 1981-1985 và đạt được
một số thành tựu nhất định. Từ năm 1975 đến 1979, Việt Nam trải qua hai cuộc
đấu tranh bảo vệ Tổ quốc: Bảo vệ biên giới Tây Nam (1975-1978) chống tập đoàn
Pôn Pốt; bảo vệ biên giới phía Bắc (1979) chống Trung Quốc. Sau đó ta tiếp tục
thực hiện các kế hoạch 5 năm tiếp theo: 1981-1985, 1986-1990. Đặc biệt, đại hội
VI (12-1986) đã mở đầu công cuộc đổi mới: tiếp tục khẳng định con đường cách
mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện 3 chương trình kinh tế: lương thực thực phẩm,
hàng tiêu dùng, hàng tiêu dùng và đặt nồng- lâm- ngư nghiệp lên hàng đầu.

và một số nước xã hội chủ nghĩa khác, để từng bước tạo lập mối quan hệ mới
với Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên nhằm tìm kiếm con đường thống
nhất hai nước trong hòa bình. Như vậy, từ chỗ phụ thuộc nhiều về kinh tế vào
Mỹ và Nhật Bản chuyển sang quan hệ đa phương với các nước có chế độ chính
trị khác nhau. Tháng 9 - 1991, Hàn Quốc và Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều
Tiên đồng thời gia nhập Liên hợp quốc, sự kiện này thể hiện sự thành công của
chính sách ngoại giao với phương Bắc. Ngoài ra, nền tảng cho sự tồn tại hòa
bình giữa hai miền Triều Tiên đã được đặt ra vào tháng 12 - 1991 khi cả hai bên
ký Hiệp định hòa giải, không xâm lược, trao đổi họp tác (Hiệp định cơ bản Nam
- Bắc) và Tuyên bố chung về bán đảo Triều Tiên không có vũ khí hạt nhân.
Những văn kiện lịch sử này là nền tảng cho nền hòa bình trên bán đảo và khu
vực Đồng Bắc Á, thể hiện bước đi đầu tiên quan trọng tiến tới hòa bình, thống
ĩ

I _

s

1_/

4 ?

_

rp

>

_• Ạ


1985, Cồng ty quốc doanh xuất nhập khẩu tổng hợp (The National Export- Import
Corporation) của miền Trung Việt Nam lần đầu tiên được ra danh mục các mặt
hàng mà Việt Nam muốn xuất khẩu sang Hàn Quốc là nồng sản phẩm (đậu nành,
đậu xanh, ngô...) và gỗ sơ chế. “Còn những mặt hàng mà Việt Nam muốn nhập
khẩu từ Hàn Quốc là: xe tải nhỏ, lốp, ruột xe, gia dụng...” [29, tr. 5-6].

về hình

thức giao dịch, phía Việt Nam đề nghị áp dụng hình thức thương mại hoán vật
(hàng đổi hàng) và xuất khẩu trả dần đối với các mặt hàng nhập khẩu từ Hàn
Quốc. “Còn đối với các mặt hàng xuất khẩu thì vì thiếu đồng tiền mạnh nên Việt
Nam yêu cầu Hàn Quốc thanh toán bằng đồng Phrăng Thụy Sĩ, đồng Mác Đức và

21


đồng Đôla Hồng Kông” [21; tr 138]. Năm 1986, Hàn Quốc đã nhập khẩu từ Việt
Nam khoảng 20 triệu USD than đá và nông sản, còn Việt Nam nhập khẩu từ Hàn
Quốc khoảng 18 triệu USD các mặt hàng tivi đen trắng, thuốc sát trùng, phân
bón...” [18, tr. 138]. Cùng thời gian này, Công ty điện tử Samsung là công ty
Hàn Quốc đầu tiên xây dựng nhà máy tại Việt Nam để lắp ráp tivi trắng đen [17].
Năm 1988, Dong Yang Moolsan đã xuất khẩu máy cày, động cơ điezen trị giá
khoảng 600.000 USD và tiến hành xây dựng nhà máy tại Việt Nam để lắp ráp
những máy móc nông cơ.
“ Trong thập niên 1980, một mặt chính phủ Hàn Quốc quy định nghiêm cấm,
nhưng thực tế họ lại làm ngơ khi các doanh nghiệp xâm nhập thị trường Việt
Nam. Giới doanh nhân Hàn Quốc không bằng lòng với tình trạng “đi đêm” này.
Họ cũng bất mãn trước thái độ nước đôi của các nước ASEAN vừa phản đối việc
bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Hàn Quốc lại mở rộng giao dịch với
Việt Nam” [25, tr. 5- 6]. Mặc dù vậy, Chính phủ Hàn Quốc không thể không để ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status