RƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Khuyến nông và Phát triển Nông thôn
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Tìm hiểu công tác tái tổ chức theo Luật Hợp tác xã mới (2012)
và thực trạng hoạt động của các Hợp tác xã nông nghiệp ở thành
phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị
Sinh viên thực hiện: Hoàng Đức Sơn
Lớp: Phát triển Nông thôn 46B
Thời gian thực hiện: 28/12/2015 – 1/05/2016
Địa điểm thực hiện: Thành phố Đông Hà - Tỉnh Quảng Trị
Giáo viên hướng dẫn: ThS. Trần Cao Úy
Bộ môn: Phát triển nông thôn
NĂM 2016
1
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành khóa luận này, em xin tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn ThS. Trần Cao Úy, đã tận
tình hướng dẫn trong suốt thời gian vừa qua.
Em chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô trong Khoa
Khuyến nông và Phát triển Nông thôn đã tận tình truyền
đạt kiến thức trong những năm em học tập. Với vốn kiến
DANH MỤC CÁC BẢNG
4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 4.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức HTX cũ
Sơ đồ 4.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức HTX mới
5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HTX:
Hợp tác xã
HTX NN:
Hợp tác xã nông nghiệp
LM HTX:
Liên minh hợp tác xã
Sở NN&PTNT:
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
được sửa đổi, ban hành vào năm 2003 và lần gần đây nhất là luật hợp tác xã năm
2012.Cả nước nói chung và Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị nói riêng từ khi
các hợp tác xã kiểu cũ được tiến hành chuyển đổi thành lập các hợp tác xã kiểu
mới hoạt động theo luật hợp tác xã 2012 thì các nghành nông nghiệp và cơ cấu
kinh tế đã có sự chuyển biến lớn, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển sang nền
kinh tế hàng hóa. Trong điều kiện thực hiện luật hợp tác xã năm 2012 mới trải
qua được 3 năm, cho đến nay nền kinh tế của Thành phố đã đạt được kết quả
khả quan. Đặc biệt là hợp tác xã nông nghiệp, ngoài ra còn có các hợp tác xã
khác cũng trên đà tiến chuyển.
Tuy kết quả bước đầu đã đạt được như vậy, song để quá trình hoạt động của
hợp tác xã từng bước mang lại được hiểu quả kinh tế cao về cả số lượng lẫn chất
lượng và theo cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước. Để hiểu rõ hơn về
thực trạng hoạt động và quá trình vận hành theo luật Hợp tác xã năm mới 2012
tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Tìm hiểu công tác tái tổ chức theo luật
HTX mới (2012) và thực trạng hoạt động của Hợp tác xã nông nghiệp ỏ
thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị ’’
Đề tài xác định rõ hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể, đó là đánh giá thực trạng
hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở Đông Hà sau tái tổ chức và tìm hiểu
quá trình, kết quả ban đầu của công tác tái tổ chức của các HTX NN theo luật
HTX 2012 trên địa bàn thành phố Đông Hà.
Dựa theo mục tiêu nghiên cứu mà nội dung của đề tài tập trung vào các điều
chính sau: Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu; Thực trạng
hoạt động của các HTX NN trên địa bàn thành phố; Quá trình thực hiện tái tổ chức
theo luật hợp tác xã năm 2012 của các HTX NN trên địa bàn nghiên cứu.
Các phương pháp chính được áp dụng để nghiên cứu đề tài bao gồm
7
phương pháp thu thập thông tin được tiến hành bằng cách thu liệu các thông tin
thứ cấp cũng như sơ cấp và phương pháp phân tích thống kê, xử lý số liệu. Cụ
Sinh viên thực hiện
Giáo viên hướng dẫn
8
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể có lịch sử ra đời khá lâu. Trên thế giới
các hợp tác xã (HTX) đã hình thành hơn 150 năm. Qua rất nhiều biến cố lịch sử,
hợp tác xã vẫn tồn tại qua nhiều chế độ chính trị khác nhau ở nhiều nước khác
nhau. Hiện nay các hợp tác xã vẫn tồn tại và ở một số nước đang có xu hướng
mở rộng.
Ở Việt Nam, trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi
xướng và lãnh đạo, cơ chế quản lý tập trung bao cấp từng bước bị xóa bỏ, cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước hình thành và ngày càng được hoàn thiện
để điều tiết các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế quốc dân. Những năm qua, các
HTX tổ chức theo mô hình cũ đối mặt với khó khăn và thách thức nghiêm trọng
vì không thích ứng được với cơ chế kinh tế mới. Đại bộ phận các hợp tác xã tồn
tại một cách hình thức, không có phương hướng và nội dung dẫn đến nhiều hợp
tác xã tan rã.
Ngày 20 tháng 3 năm 1996, Quốc Hội thông qua Luật Hợp tác xã và có
hiệu lực kể từ ngày 01/01/1997. Luật hợp tác xã năm 1996 ra đời tạo hành lang
pháp lý cho các hợp tác xã hoạt động trong điều kiện kinh tế mới của cơ chế thị
trường. Qua thời gian phát triển và đổi mới, để phù hợp với mục tiêu chung của
đất nước, tình hình kinh tế thế giới và hoàn thiện hệ thống pháp lý về hợp tác xã
luật hợp tác xã đã tiếp tục được sửa đổi, ban hành vào năm 2003 và lần gần đây
nhất là luật hợp tác xã năm 2012.
Cả nước nói chung và Thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị nói riêng từ khi
các hợp tác xã kiểu cũ được tiến hành chuyển đổi thành lập các hợp tác xã kiểu
10
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Những lý luận cơ bản về hợp tác xã và hợp tác xã nông nghiệp
2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp tác xã
2.1.1.1. Định nghĩa hợp tác xã
“Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân,
do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong
hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của
thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong
quản lý hợp tác xã.”.(Điều 3 – Luật HTX năm 2012)
2.1.1.2. Đặc điểm của hợp tác xã
Định nghĩa pháp lý về hợp tác xã phản ánh những điểm cơ bản sau đây:
-Hợp tác xã (HTX) là tổ chức kinh tế tập thể. Các xã viên là chủ của hợp
tác xã, có toàn quyền quyết định những vấn đề tổ chức, hoạt động và phân phối
lợi ích trong hợp tác xã trên cơ sở những quy định của Luật Hợp tác xã và những
văn bản có liên quan;
- Hợp tác xã có thể được thành lập khi có số lượng xã viên từ 7 trở lên,
được đăng ký và hoạt động tất cả các ngành, nghề mà pháp luật không cấm;
- Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, hoạt động như một loại hình doanh
nghiệp, bình đẳng với các doanh nghiệp khác. Hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các
nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật;
- Hợp tác xã là tổ chức mang tính xã hội, rộng mở cho tất cả những ai có
nguyện vọng trở thành thành viên hợp tác xã. Hợp tác xã ra đời dựa trên nguyên
tắc dân chủ, bình đẳng, công khai và đoàn kết. Mỗi xã viên có 1 phiếu bầu;
- Mục tiêu hoạt động của hợp tác xã là mang lại lợi ích vật chất và tinh thần
cho tất cả các xã viên, tập thể và cộng đồng;
- Xã viên có trách nhiệm và nghĩa vụ tuân thủ, thực hiện tốt những quy
thời, xã viên được hưởng các dịch vụ tư vấn, kỹ thuật thuận lợi hơn.
Ngoài ra, khi tham gia thành lập hợp tác xã các thành viên có thể cùng
nhau chia sẽ kiến thức, kinh nghiệm, đoàn kết, hợp tác kinh doanh, tức là không
còn sự cạnh tranh giữa từng hộ.
Việc thành lập hợp tác xã còn mang lại ưu thế trong việc đàm phán với
chính quyền địa phương như xin cấp đất để phát triển và tham gia các chương
trình ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến của địa phương.
2.1.3.2. Lợi ích khi gia nhập hợp tác xã
Khi gia nhập hợp tác xã các xã viên sẽ được ưu tiên sử dụng các sản phẩm
dịch vụ hợp tác xã theo giá cả thỏa thuận giữa hợp tác xã và xã viên. Ngoài ra xã
viên còn được hỗ trợ hoặc tiêu thụ sản phẩm, được ưu tiên làm việc cho hợp tác
xã và được trả công lao động theo quy định của Điều lệ hợp tác xã.
12
Đối với các hợp tác xã phát triển mạnh , xã viên còn được hưởng các phúc
lợi từ hợp tác xã, được cung cấp các thông tin kinh tế-kỹ thuật cần thiết, được
hợp tác xã hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao nghiệp vụ. Ngày nay, đối với
các hợp tác xã hoạt động theo hình thức hợp tác xã kiểu mới.
2.2. Thực trạng hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển
2.2.1.1. Giai đoạn trước đổi mới (1954 - 1986)
Thời kỳ thí điểm xây dựng hợp tác xã ở miền Bắc (1955 - 1957), thời kỳ
này chúng ta đã xây dựng được 45 hợp tác xã và trên 100.000 tổ đổi công tuy
nhiên số lượng hợp tác xã còn ít, trình độ thấp song đã có tác động tích cực đến
sản xuất và xây dựng nông thôn.
Thời kỳ tổ chức xây dựng Hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp (1958 - 1960),
tại miền Bắc đã có 40.422 hợp tác xã nông nghiệp, thu hút 2,4 triệu hộ nông dân,
chiếm 85,8% tổng số hộ với 76% diện tích ruộng đất. Về cơ bản, miền Bắc đã
hoàn thành xây dựng hợp tác xã bậc thấp; đặc biệt có 4.346 hợp tác xã bậc cao
năm 1976 đến năm 1981 không vượt quá con số 15 triệu tấn mỗi năm. Và để
tháo gỡ khó khăn, một số địa phương đã đi tìm mô hình mới về hợp tác xã nông
nghiệp theo phương thức khoán sản phẩm đến người lao động; trước tình hình
đó tháng 01 năm 1981, Ban Bí thư đã ban hành chỉ thị 100-CT-TW về cải tiến
công tác khoán và mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao
động trong hợp tác xã nông nghiệp và đã thu được kết quả rất lớn trong sản xuất
nông nghiệp. Tuy nhiên, mô hình hợp tác xã vẫn dựa trên sở hữu tập thể, quản lý
tập trung, phân phối thống nhất theo chế độ công điểm.
2.2.1.2. Giai đoạn từ đổi mới đến nay (1987 – đến nay)
Thời kỳ từ thực hiện “đổi mới” đến khi có Luật Hợp tác xã (1987-1996),
chủ trương cải biến thực sự tính chất và phương cách tổ chức quản lý hợp tác xã
nông nghiệp ở nước ta: hộ gia đình xã viên được xác định là những đơn vị kinh
tế tự chủ; kinh tế hộ được quyền chủ động sản xuất, kinh doanh, hợp tác xã chỉ
thực hiện những khâu công việc mà kinh tế hộ làm không hiệu quả hoặc không
làm được. Do không thích ứng với cơ chế mới và do công tác quản lý nhà nước
đối với hợp tác xã không theo kịp tình hình, nên vào những năm đầu của thập kỷ
90 thế kỷ trước, hầu hết các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp bị giải
thể hàng loạt hoặc chỉ tồn tại về hình thức. Chỉ có khoảng 15% số hợp tác xã đã
chuyển đổi hoạt động thích ứng với điều kiện mới, bảo đảm phục vụ và thúc đẩy
kinh tế hộ phát triển sản xuất. Thời điểm cao nhất của phong trào hợp tác hoá
nông nghiệp, cả nước có 17.022 hợp tác xã nông nghiệp và 36.352 tập đoàn sản
xuất nông nghiệp thì đến tháng 12 năm 1996, cả nước chỉ còn13.762 hợp tác xã
nông nghiệp và 1.892 tập đoàn sản xuất.
Thời kỳ từ khi có luật hợp tác xã đến khi luật hợp tác xã mới năm 2012
được ban hành (1997-2012). Tính đến 30/6/2010, cả nước có 8.918 hợp tác xã
nông nghiệp, bình quân một hợp tác xã có 795 xã viên. Hiện nay, các hợp tác xã
nông nghiệp chủ yếu tập trung làm dịch vụ hỗ trợ cho hộ xã viên. Ở các mức độ
khác nhau, hợp tác xã nông nghiệp đã thể hiện được vai trò quan trọng trong
14
nhau, chưa có sự liên kết hệ thông chặt chẻ về mặt kinh tế, xã hội về tổ chức.
Tuy đã hình thành được một số liên hiệp HTX, nhưng quy mô nhỏ, hiệu quả chư
cao, hổ trợ HTX thành viên còn ít. Công nợ trong HTX nhất là trong HTX chưa
chuyển đổi chưa xử lí rỏ ràng đích điểm nên cũng là cản trở hoạt động của HTX.
2.2.2. Nội dung và yêu cầu đổi mới của hợp tác xã nông nghiệp
Luật hợp tác xã và các văn bản pháp lý khác có liên quan là cơ sở pháp lý
để tiến hành đổi mới hợp tác xã. Sau 2 năm thực hiện Luật hợp tác xã, số hợp
15
tác xã làm xong thủ tục chuyển đổi và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh cả nước là 3.525, chiếm 39% tổng số hợp tác xã nông nghiệp hiện có.
Đồng thời, có 1.821 hợp tác xã (20% tổng số hợp tác xã nông nghiệp hiện có) đã
làm xong thủ tục nhưng chưa được đăng ký kinh doanh. Các tỉnh phía Bắc có
7.730 hợp tác xã nông nghiệp, số hợp tác xã đã làm thủ tục chuyển đổi 4.393
hợp tác xã, chiếm 57%. Các tỉnh phía Nam có 1.297 hợp tác xã, đã chuyển đổi
được 947 hợp tác xã bằng 74% số hợp tác xã có trong vùng.
Các tỉnh đạt tỷ lệ chuyển đổi cao (trên 90%) gồm: Tuyên Quang, Bắc
Giang, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định,
Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa,… Các tỉnh mới
chuyển đổi được ít gồm Thái Bình, Lai Châu,...
Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, các
hộ nông dân có nhu cầu tổ chức ra các hợp tác xã kiểu mới. Nhưng sự hình
thành các hợp tác xã mới không chỉ đơn giản là bằng một quyết định tuyên bố
giải thể hợp tác xã kiểu cũ, thành lập hợp tác xã kiểu mới là xong, mà điều cốt
lõi là phải xuất phát từ trình độ sản xuất thực tế của kinh tế hộ nông dân. Theo
quy luật, những nơi nào các hộ nông dân sản xuất nhiều nông sản hàng hóa, nơi
đó ắt có nhu cầu về kinh tế hợp tác cao hơn, rõ rệt hơn so với các nơi mà hộ
nông dân còn sản xuất tự cấp, tự túc là chu yếu. Thực tế hiện nay, có những tỉnh
nông nghiệp còn ở trình độ sản xuất tự túc là chủ yếu mà đến năm 1998 đã hoàn
nghiệp nông thôn… nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nông
dân và tạo ra lợi nhuận.
Xã viên hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới không chỉ là nông dân mà gồm cả
những người lao động khác nếu họ có nguyện vọng. Khi tham gia hợp tác xã,
mọi thành viên đều phải góp vốn bằng tiền hoặc tài sản. Hợp tác xã chỉ phải chịu
trách nhiệm về các nghĩa vụ xã hội với các xã viên của chính mình, mà không
phải chịu trách nhiệm xã hội với những người ngoài hợp tác xã.
Hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp có đầy đủ các điều kiện để trở
thành pháp nhân kinh tế, đó là:
- Hợp tác xã được thành lập và đăng ký kinh doanh hợp pháp tại cơ quan có
thẩm quyền của nhà nước.
- Hợp tác xã có cơ cấu tổ chức chặt chẽ tuân thủ các quy định của Luật hợp
tác xã Việt Nam, các cơ quan quản lý hợp tác xã do đại hội xã viên bầu lên một
cách dân chủ không có sự áp đặt từ phía nhà nước.
- Hợp tác xã có tài sản riêng thuộc sở hữu của hợp tác xã được hình thành
từ vốn hoạt động và có quyền chi phối tài sản đó theo yêu cầu sản xuất kinh
doanh, dịch vụ của hợp tác xã và tự chịu trách nhiệm bằng chính tài sản đó trong
hoạt động của mình.
- Hợp tác xã có thẩm quyền kinh tế để nhân danh mình tham gia các quan
hệ pháp luật thể hiện bởi các quyền và nghĩa vụ của hợp tác xã như đã quy định
tại điều 8 và điều 9 Luật hợp tác xã.
Hợp tác xã là đơn vị kinh tế tự chủ, tự quyết định phương hướng sản xuất
kinh doanh, lựa chọn mô hình. Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào các hoạt
động của hợp tác xã, mà chỉ quản lý về mặt nhà nước thông qua pháp luật và
17
chính sách. Nội dung chủ yếu của hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới là thực hiện
các hoạt động dịch vụ kinh tế hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình xã viên; kinh doanh
trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản hàng hóa và kinh doanh các
2.3. Tình hình phát triển kinh tế hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp tại
Quảng Trị
2.3.1. Tình hình hoạt động các HTX nông nghiệp
Trong những năm qua, khu vực kinh tế tập thể tỉnh Quảng Trị từng bước
khẳng định được vai trò, vị trí quan trọng của mình trong phát triển kinh tế - xã
hội tại địa phương. Đến thời điểm 30/06/2014, toàn tỉnh có 299 hợp tác xã nông
nghiệp (Vĩnh Linh 58 HTX, Gio Linh 48 HTX, Cam Lộ 14 HTX, Triệu Phong
93 HTX, Hải Lăng 55 HTX, Thị xã Quảng Trị 8 HTX, TP. Đông Hà 18 HTX,
Hướng Hóa 5 HTX).
- Về tổ chức bộ máy: Bộ máy quản lý không ngừng được củng cố, kiện
toàn theo hướng gọn nhẹ. Hoạt động của các HTX theo hướng thiết thực hơn,
gắn liền với lợi ích của thành viên.
- Về đội ngũ cán bộ: tính đến năm 2015, toàn tỉnh có 1.909 cán bộ chủ chốt
của các HTX nông nghiệp trên toàn tỉnh, trong đó có 34 cán bộ có trình độ đại
học, cao đẳng (chiếm 3,1%), có 205 cán bộ trình độ trung cấp (chiếm 18,8%), có
220 cán bộ có trình độ sơ cấp (chiếm 20,2%), còn lại 57,9% là bồi dưỡng ngắn
hạn và chưa qua đào tạo.
- Về hoạt động: Theo báo cáo quyết toán năm 2013 của các huyện, thành
phố, thị xã, tổng doanh thu của các HTX nông nghiệp đạt 226.732 triệu đồng,
bình quân 760,84 triệu đồng/HTX; tổng lợi nhuận khoảng 22.299 triệu đồng, lợi
nhuận bình quân/HTX 74,82 triệu đồng (cao nhất 1.682 triệu đồng/HTX, thấp
nhất 271 triệu đồng/HTX); một số HTX doanh thu chỉ đủ bù chi phí và một số
HTX làm ăn thua lỗ.
Thu nhập bình quân của Giám đốc HTX 1.343.000 đồng/tháng (cao nhất
3.500.000 đồng/ tháng, thấp nhất 200.000 đồng/tháng).
Có 37,7% HTX được đánh giá là hoạt động loại khá, giỏi; 49,6% HTX hoạt
động trung bình, 12,7% hoạt động yếu kém.
2.3.2. Tình hình các tổ hợp tác trong nông nghiệp
Toàn tỉnh hiện có khoảng 7.151 tổ hợp tác, trong đó có 1.626 tổ hợp tác
nông nghiệp (có 185 có đăng ký chứng thực với ủy ban nhân dân xã, phường).
thôn, xã; nguồn vốn và cơ sở vật chất thiếu thốn, chưa tạo được sự liên kết trong
sản xuất, chế biến và tiêu thụ hàng hóa cho xã viên, sức cạnh tranh thấp, lợi
nhuận ít, thậm chí có HTX làm ăn thua lỗ.
- HTX NN tại Quảng Trị là những tổ chức có nội dung hoạt động kinh tế,
xã hội phức tạp, quy mô thành viên và lao động lớn, nhưng năng lực nội tại về
cả vốn liếng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực lại rất yếu, không đáp ứng
được yêu cầu đổi mới, phát triển. Phần lớn các HTX không có mặt bằng để triển
khai các hoạt động, thậm chí có tới trên 52% số HTX không có trụ sở làm việc.
- Hầu hết các HTX chưa xây dựng được chiến lược sản xuất kinh doanh
dịch vụ theo hướng đa nghành, chủ yếu đang tập trung thực hiện một số dịch vụ
20
đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp. Xu hướng liên kết giữa các hợp tác xã
vẫn theo quy mô vùng còn yếu, chưa tổ chức các khâu dịch vụ thu mua sản
phẩm cho nông dân.
- Trình độ đội ngũ quản lý các HTX chưa đáp ứng nhu cầu đổi mới trong
giai đoạn hiện nay; thiếu cần bộ trẻ có kiến thức, năng lực, nhiệt tình, tâm huyết
gắn bó lâu dài với HTX.
- Công tác quản lý điều hành, hoạch toán – kế toán HTX còn yếu về nhiều
mặt, nhiều đơn vị chưa thực hiện đúng chế độ quy định hiện hành. Giải quyết
công nợ chưa triệt để, đặc biệt là nợ phải thu.
- Khả năng huy động nguồn vốn từ xã viên còn hạn chế; việc vay vốn
nghân hàng gặp nhiều khó khăn.
- Công tác chuyển đổi theo Luật HTX 2012 đã hoàn thành tuy nhiên về bản
chất nhiều hợp tác xã vẫn hoạt động theo hình thức, chưa thật sự tận dụng hết
các mặt tích cực từ luật để huy động, phát triển quy mô HTX.
2.3.3.2. Về tổ hợp tác nông nghiệp
Tổ hợp tác được thành lập với hình thức tổ chức, quy mô và nội dụng hoạt
động rất đa dạng, phong phú và linh hoạt, chủ yếu hướng vào mục đích giúp đỡ,
- Cơ cấu kinh tế
- Dân số, lao động
- Cơ sở hạ tầng
3.1.2. Thực trạng hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn thành phố
- Nhân sự, cơ cấu tổ chức và đặc điểm bộ máy quản lý
- Số lượng thành viên hội đồng quản trị/Ban giám đốc, Ban kiểm soát, các
bộ phận giúp việc (Kế toán, kho quỹ,…)
+ Kinh nghiệm
+ Trình độ văn hóa, chuyên môn
+ Tỷ lệ nam/nữ tham gia quản lý
+ Số lượng các tổ, đội sản xuất kinh doanh hoặc làm dịch vụ
- Thành viên và đặc điểm thành viên (số lượng, đặc điểm nghề nghiệp,…)
- Loại hình đăng ký sản xuất kinh doanh, mục tiêu hoạt động
- Nguồn lực (vốn điều lệ, vốn góp thành viên, vốn hỗ trợ bên ngoài, đất đai…)
- Các loại hình dịch vụ HTX đang thực hiện và tình hình tổ chức sản xuất
kinh doanh của các HTX
- Tình hình lên kết với các đối tác bên ngoài
- Đại hội thành viên và sinh hoạt định kỳ của HTX
22
3.1.3. Quá trình thực hiện tái tổ chức theo luật mới của các HTX nông nghiệp
trên địa bàn thành phố
-
Đặc điểm hoạt động của HTX trước khi thực hiện tái tổ chức
-
- Chọn mẫu nghiên cứu:
+ Số lượng: 18 HTX nông nghiệp trên địa bàn.
+ Tiêu chí: các hợp tác xã nông nghiệp nằm trên TP. Đông Hà.
- Phỏng vấn sâu:
+Số lượng phỏng vấn gồm 18 Giám đốc HTX hợp tác xã nông nghiệp, 2 cán
bộ lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã – cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh Quảng Trị
về phát triển kinh tế HTX trong đó có 1 Giám đốc Trung tâm dạy nghề - tư vấn, hỗ
trợ HTX và Doanh nghiệp, 1 Giám đốc Liên minh HTX Quảng Trị.
23
+ Sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc với các câu hỏi đóng và mở.
+Nội dung phỏng vấn: : Tìm hiểu các khâu dịch vụ đầu vào (thuỷ lợi, bảo
vệ thực vật, phân bón và vật tư nông nghiệp, làm đất, dịch vụ tín dụng….); các
dịch vụ đầu ra (bao tiêu sản phẩm cho xã viên; giới thiệu và quảng bá sản phẩm
thông qua hội chợ, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, hợp đồng mua bán sản phẩm
…); tìm hiểu quá trình tái tổ chức (thời gian thực hiện tái tổ chức, năm thực hiện
thành công, khó khăn, thuận lợi trước, trong và sau quá trình tái tổ chức,…).
3.3.2. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Đối với thông tin thứ cấp: tổng hợp, chọn lọc thông tin liên quan cần thiết
đến đề tài.
- Đối với thông tin sơ cấp:
+ Thông tin định tính: Tổng hợp, so sánh, phân loại.
+ Thông tin định lượng: Xử lý số liệu điều tra bằng phần mềm excel.
24
Phần 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội thành phố Đông Hà
25