HỌC PHẦN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH
SÁCH CẠNH TRANH VÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ
TUỆ (SHTT)
Mục lục
Giới thiệu .........................................................................................................................2
Chương 1 .........................................................................................................................3
Tổng quan về chính sách cạnh tranh và quyền SHTT .....................................................3
1.1 Chính sách cạnh tranh ..........................................................................................3
1.2 Quyền SHTT ........................................................................................................5
1.3 Cạnh tranh và quyền SHTT tại Việt Nam ............................................................7
Chương 2 .........................................................................................................................12
Những quan ngại về cạnh tranh từ cơ chế quyền SHTT .................................................12
2.1 Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đến cấp giấy phép.........................12
2.2. Lạm dụng vị trí thống lĩnh có được nhờ quyền SHTT .......................................15
2.3. Những vụ sáp nhập và mua lại liên quan đến quyền SHTT ...............................16
2.4. Một số ví dụ của hành vi phản cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT ..............16
2.5. Quyền SHTT và luật cạnh tranh: Đối lập hay bổ sung .......................................21
Chương 3 .........................................................................................................................23
Giải quyết các quan ngại liên quan đến quyền SHTT .....................................................23
3.1. Cấp phép bắt buộc ...............................................................................................23
3.2. Nhập khẩu song song ..........................................................................................25
Tài liệu tham khảo ..........................................................................................................27
Giới thiệu
Chính sách cạnh tranh là để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là
nó cho phép sử dụng các biện pháp và hành vi can thiệp nhằm đảm bảo rằng quá trình kinh tế
không bị độc quyền bởi những thành tố nhất định mà trái lại khuyến khích các công ty tham gia
thị trường và cạnh tranh với các công ty đã có mặt ở đó trên cơ sở công bằng. Trái lại quyền
SHTT (IPR) cho phép người nắm giữ được độc quyền từ đó tạo ra hiện tượng độc quyền đối với
sản phẩm hay dịch vụ được bảo hộ. Về mặt này, nếu chỉ nhìn bề ngoài, chính sách cạnh tranh và
tranh trên thị trường và dẫn đến việc một số doanh nghiệp độc quyền trong nước sẽ lũng đoạn thị
trường. Tự do hoá thương mại dẫn tới số lượng hàng hoá ngày càng tăng, điều này cũng có thể
tác động lớn đến bản chất và mục tiêu của cạnh tranh trên thị trường.
Các quy định liên quan chủ yếu đến việc gia nhập thị trường và thành lập doanh nghiệp trong
nước, là một phần của cơ chế chính sách công nghiệp, cũng góp phần quan trọng thúc đẩy cạnh
tranh. Một chính sách cạnh tranh hiệu quả tạo điều kiện dỡ bỏ những trở ngại và khuyến khích
những dòng chảy đầu tư bằng cách tạo ra một môi trường pháp luật và quy định có thể dự đoán
được làm giảm quy mô quyết định mang tính chuyên quyền, từ đó đưa tính minh bạch vào hệ
thống.
Các sáng kiến tư nhân hoá cũng là một phần của chính sách cạnh tranh vì chúng quyết định bản
chất của cạnh tranh trên thị trường. Sự tham gia trực tiếp của chính phủ vào quá trình sản xuất và
phân phối của nền kinh tế thường làm mất tính chất trung lập trong cạnh tranh, vì sự hỗ trợ của
chính phủ đối với các công ty của mình sẽ không giống như đối với các công ty tư nhân. Tương
tự, các cải cách tư nhân hoá có thể chỉ đơn giản là chuyển giao độc quyền từ khu vực nhà nước
sang khu vực tư nhân và nếu không được chú trọng thậm chí có thể gây ra các tác hại nghiêm
trọng lên cạnh tranh của nền kinh tế.
Chính sách cạnh tranh thường bao gồm các quy định riêng của ngành. Thông qua vai trò điều
tiết, hành động và kiến nghị của các cơ quan pháp lý có ảnh hưởng trực tiếp đến cạnh tranh, vì
các quan này sẽ quyết định điều kiện gia nhập (thông qua việc cấp giấy phép) và sự tồn tại
(thông qua quy định về thuế). Một số cơ quan, đặc biệt là những cơ quan được thành lập trước
khi có sự ra đời của cơ quan cạnh tranh cũng tham gia giải quyết các vấn đề liên quan đến cạnh
tranh. Do đó, hướng tiếp cận các cải cách pháp lý của một nước thông qua các chính sách của nó
sẽ quyết định bản chất chủ yếu của cạnh tranh của một nền kinh tế.
1.1.1 Luật Cạnh tranh
Luật cạnh tranh, một thành phần khác của chính sách cạnh tranh, cần phải được đặc biệt chú
trọng. Luật này thường bao gồm các điều khoản tập trung vào 3 vấn đề: điều tiết các hành vi hợp
3
nhất và sáp nhập phản cạnh tranh, cấm việc lạm dụng vị trí độc quyền và cấm hành vi phản cạnh
nhà cung cấp và nhà phân phối thoả thuận rằng nhà phân phối sẽ bán sản phẩm của nhà cung cấp
với một mức giá nhất định bằng hoặc trên/dưới mức giá sàn/trần), độc quyền kinh doanh (nếu
một nhà bán lẻ hoặc nhà bán buôn bị “buộc” phải mua từ một nhà cung cấp) và hành vi bán kèm
1
Thoả thuận theo chiều dọc nói chung không phải là phản cạnh tranh nếu chúng có thể không ảnh hưởng đến hoặc
có ảnh hưởng mang tính tích cực đến cạnh tranh. Do đó, cần phải phân biệt rõ giữa những thoả thuận bị phạt theo
luật cạnh tranh như đã xem xét ở phần này với các thoả thuận có thể không bị cấm theo luật cạnh tranh.
4
(nếu các doanh nghiệp ở khâu sau buộc phải đồng ý mua một sản phẩm nhất định để được phép
mua một sản phẩm không liên quan).
Lạm dụng vị trí độc quyền tồn tại nếu một doanh nghiệp giữ vị trí độc quyền thực hiện các hành
vi với mục đích làm giảm hoặc chặn đứng cạnh tranh trên thị trường. Một doanh nghiệp có vị trí
độc quyền nếu nó ở vị trí có thể kiểm soát các kết quả của thị trường đối với một hàng hoá hoặc
dịch vụ cụ thể, thông qua hành vi cá nhân. Vấn đề chính không phải là độc quyền, bởi vì đây có
thể chỉ là kết quả của việc có được lợi thế trong kinh doanh, nhưng nếu vị trí độc quyền đó bị
lạm dụng sẽ ảnh hưởng xấu đến cạnh tranh trên thị trường. Điều này bao gồm hành vi bóc lột
(những hành vi mà một doanh nghiệp ở một vị trí độc quyền tham gia vào các hành vi với mục
đích thu được lợi nhuận bằng cách lợi dụng khách hàng hoặc đối thủ cạnh tranh) và hành vi loại
trừ (với mục đích đàn áp cạnh tranh hoặc loại bỏ các đối thủ cạnh tranh ra khỏi thị trường).
1.2. Quyền SHTT
Nói chung SHTT là muốn nói đến những sản phẩm về trí óc, sự sáng tạo và những nỗ lực mang
tính trí tuệ. Quyền SHTT (IPR) là những quyền mà những người tạo ra và sở hữu tài sản trí tuệ
được hưởng, ví dụ tài sản là những tác phẩm do sự sáng tạo trí tuệ của con người trong lĩnh vực
công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật. Những người sở hữu có quyền không cho người
khác được tiếp cận hoặc sử dụng tác phẩm trong một khoảng thời gian nhất định. Những người
sở hữu IPR cũng có quyền cấp phép cho người khác được sử dụng những cải biến này nếu bản
phẩm thuốc nông dược mà chỉ được cho phép đưa ra thị trường sau một quy trình mất rất
nhiều thời gian). Tuy nhiên, bằng sáng chế không được cấp cho những phát minh phù
phiếm, tức là những thứ đã rõ ràng hoặc trái với luật tự nhiên/quốc tế đã có từ xưa hoặc trái
với đạo đức; phát minh ảnh hưởng đến sức khoẻ và tài sản công cộng; hoặc chỉ là tìm ra
cách sử dụng mới đối với một chất, quy trình, máy móc hoặc bộ máy đã biết nếu quy trình
đã biết đó không dẫn tới sự ra đời một sản phẩm mới.
•
Thương hiệu
Một thương hiệu là một biểu tượng về hình ảnh dưới hình thức một từ, một hình vẽ hay
một một nhãn mác để phân biệt sản phẩm với những hàng hoá tương tự do người khác sản
xuất. Ví dụ như chữ “H” trong nhãn hiệu của Honda, “M” trong MacDonalds và kiểu cách
và hình dáng của chữ “Cocacola” chính là thương hiệu của hãng này. Thương hiệu thường
được bảo hộ trong vòng 10 năm, mặc dù chúng có thể được gia hạn sau khi nộp phí gia hạn
với người đăng ký. Việc sử dụng thương hiệu đã đăng ký mà không được sự cho phép của
người sở hữu hoặc cố ý phát triển một thương hiệu tương tự là hành vi vi phạm thương
hiệu.
•
Kiểu dáng công nghiệp
Quyền đối với kiểu dáng công nghiệp muốn nói tới việc độc quyền đối với thiết kế về hình
ảnh của sản phẩm. Đây là quyền của người sở hữu đối với thiết kế công nghiệp, bao gồm
việc tạo ra một hình dạng, kết cấu hoặc bố cục hoa văn hoặc màu sắc, hoặc sự kết hợp màu
sắc và hoa văn.
•
Chỉ dẫn địa lý
Quyền đối với chỉ dẫn địa lý là muốn nói tới một sản phẩm được hình thành ở một vùng đất
liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi thương mại không công bằng.
Hai cơ quan nhà nước được lập ra để thực thi luật là - Cục quản lý cạnh tranh (với quyền hạn
điều tra), thuộc Bộ Công thương Việt Nam và Hội đồng Cạnh tranh (với quyền hạn xét xử).
Năm hành vi phản cạnh tranh bị cấm là:
•
thoả thuận hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể (Điều 8)
•
lạm dụng vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền (điều 13 & 14)
•
“tập trung kinh tế” hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể (Điều 18)
•
hành vi cạnh tranh không lành mạnh (Điều 39); và
•
hành vi/quyết định phản cạnh tranh bởi các quan chức hoặc các cơ quan hành chính Nhà
nước, lợi dụng quyền lực của họ (điều 120).
Các thoả thuận phản cạnh tranh bao gồm ấn định giá, chia sẻ thị trường, hạn chế sản lượng đầu
ra, hạn chế đầu tư hoặc phát triển kỹ thuật; áp đặt điều kiện hợp đồng lên các doanh nghiệp khác;
hạn chế sự gia nhập thị trường; loại trừ các bên không phải là thành viên khỏi thị trường; và
thông đồng đấu thầu.
7
Cơ chế bảo hộ SHTT (IP) của Việt Nam, trước năm 1995, khi đất nước Đông Nam Á này nộp
đơn xin gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), chủ yếu được áp dụng dựa vào “văn bản
dưới luật”. Do đó trung tâm của khung pháp lý chung là Bộ luật Dân sự 1995 (Phần VI), bên
cạnh một số văn bản quy phạm pháp luật dưới luật khác ví dụ như, Sắc lệnh 1994 về bảo hộ bản
quyền, Nghị định 63/1996/CP của Chính phủ quy định chi tiết về tài sản công nghiệp; hoặc Nghị
định 76/1996/CP hướng dẫn thực thi các điều khoản về bản quyền trong Bộ luật Dân sự 1995.
Những quy định trên bảo hộ những đối tượng như sau: phát minh (trong thời hạn 15 năm), giải
pháp hữu ích (6 năm), kiểu dáng công nghiệp (5 năm, được gia hạn 2 đợt, mỗi đợt 5 năm),
8
thương hiệu (10 năm, gia hạn liên tiếp với mỗi đợt là 10 năm), và tên gọi xuất xứ và các tác
phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học. Các vi phạm về quyền SHTT chủ yếu được xử lý bởi các
biện pháp hành chính. Mặc dù có quyền hạn xử lý các vụ việc tranh chấp về SHTT, mức độ tham
gia của toà án vào các vụ việc liên quan đến IP vẫn còn rất hạn chế bởi toà án chưa xử lý các vụ
việc như vậy và các văn bản có liên quan cũng chưa phải là luật, ít nhất là cho đến khi Luật Dân
sự 1995 (Phần VI) được ban hành.
So với Cam kết WTO về các khía cạnh thương mại của Quyền SHTT (từ đây gọi là “Cam kết
TRIPS”) tại thời điểm đó cơ chế IP của Việt Nam chưa thể được gọi là hoàn thiện hoặc tuân thủ
TRIPS. Nhìn chung, cơ chế này lúc đó là chưa đầy đủ và không hiệu quả. Một số đối tượng được
yêu cầu bởi Cam kết TRIPS vẫn chưa được bảo hộ tại Việt Nam (ví dụ bí quyết thương mại, chỉ
dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp, quyền ngăn chặn cạnh tranh). Về những đối tượng được
luật bảo hộ, thậm chí có nhiều điều khoản không tuân thủ Cam kết TRIPS (ví dụ như thời hạn
bảo hộ 15 năm đối với phát minh, việc thiếu cơ chế bảo hộ đối với những thương hiệu nổi
tiếng…).
Bước ngoặt đầu tiên là vào năm 2000, khi Việt Nam ký hiệp định thương mại song phương
(BTA) với Hoa Kỳ. Hiệp định thể hiện cam kết của chính phủ Việt Nam từng bước thực thi có
hiệu quả các cam kết của TRIPS trong WTO. Kể từ đó, song song với đàm phán gia nhập WTO,
và quá trình này đã thành công vào năm ngoái, cơ chế IP của Việt Nam đã trải qua những chuyển
biến quan trọng, đặc biệt là với sự ban hành nhiều luật mới trong lĩnh vực này. Thách thức lớn
trong những trường hợp không xác định được mức độ thiệt hại gây ra bởi vi phạm (kể cả vi phạm
thương hiệu, bằng sáng chế hay bản quyền), toà án đã đưa ra mức bồi thường thiệt hại từ
5.000.000VND (US$300) đến 500.000.000 (US$30.000). Điều khoản này cho phép quan toà đưa
ra mức thiệt hại nhằm hạn chế đáng kể vi phạm. Trước đây, các quy định không cho phép được
đưa ra mức bồi thường thiệt hại đáng kể trong những trường hợp như vậy.
Các bộ và cơ quan nhà nước chính chịu trách nhiệm tạo lập và thực thi chính sách SHTT là Bộ
Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hoá và Thông tin; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ
Tư pháp; Bộ Tài chính; và Bộ Thương mại; Cục xuất nhập cảnh (trực thuộc Bộ Tài chính), Văn
phòng quốc gia về SHTT (NOIP- trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ); và Cục Bản quyền
(trực thuộc Bộ Văn hoá và Thông tin). Việc thực thi các luật SHTT về mặt hành chính được giao
cho cơ quan hải quan, các cơ quan kiểm soát thị trường, cảnh sát kinh tế, cơ quan thanh tra Văn
hoá và Thông tin, cơ quan thanh tra Khoa học và công nghệ và uỷ ban nhân dân tại cấp tỉnh và
huyện.
1.3.3. Điểm chung giữa quyền SHTT và Luật cạnh tranh?
Liên quan đến bảo hộ quyền SHTT, Luật cạnh tranh miễn trừ đối với các hành vi cản trở cạnh
tranh, “thúc đẩy các tiến bộ khoa học và kỹ thuật, nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ”2.
Các vụ việc tập trung kinh tế, nếu không bị cấm bởi luật pháp sẽ được miễn trừ nếu chúng góp
phần “tiến bộ khoa học và kỹ thuật”3. Trong các trường hợp khác, luật cấm các thỏa thuận hạn
chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền ngầm bao gồm
các hành vi đó, mặc dù IPRs có được coi là một nhân tố của hành bi đó hay không.
Hơn nữa, điều 5(1) của Luật cũng quy định rằng “nếu có sự không nhất quán giữa các điều
khoản của Luật này và các điều khoản của các luật khác, liên quan đến các hành vi phản cạnh
tranh và cạnh tranh không công bằng, các điều khoản của Luật này sẽ được áp dụng”. Luật
SHTT 2005 cũng củng cố điều này như sau “việc thực hiện các quyền SHTT sẽ không xâm
2
3
Điều 10 (1), VCL
Điều 19 (2), VCL
SHTT có khả năng tham gia vào các hành vi thuộc ba lĩnh vực trên, với sức mạnh khó cưỡng của
quyền lực thị trường và siêu lợi nhuận. Nội dung bên dưới sẽ giải thích rõ hơn điều này.
2.1. Các thoả thuận hạn chế cạnh tranh liên quan đến cấp giấy phép
Một trong những quyền quan trọng nhất mà các cá nhân được hưởng khi nắm quyền SHTT là
quyền được cấp giấy phép cho các bên khác được khai thác sáng tạo của mình nếu bản thân
người đó có những hạn chế hoặc không có khả năng đáp ứng thị trường một cách đầy đủ. Do đó
bên nhận giấy phép phải cam kết với bên cấp giấy phép về cách thức mà mình sẽ sử dụng giấy
phép. Bởi những thoả thuận như vậy có thể là giữa các đối thủ cạnh tranh hoặc những người
tham gia khác ở thị trường phân khúc sau, chúng có thể làm nảy sinh những quan ngại đối với
những thoả thuận không liên quan đến SHTT.
Những thoả thuận cấp giấy phép ảnh hưởng đến những hoạt động bổ trợ cho nhau, ví dụ như
giữa những người có quyền SHTT và các doanh nghiệp sử dụng sản phẩm được bảo hộ là đầu
vào cho hoạt động của họ thuộc phạm vi những thoả thuận dọc như định nghĩa trong luật cạnh
tranh. Cũng có trường hợp hai bên là đối thủ thực tế hoặc tiềm năng trên thị trường liên quan
trước khi ký thoả thuận cấp và nhận giấy phép có thể được coi là một các-ten theo luật cạnh
tranh. Mặc dù các thoả thuận cấp giấy phép không phải lúc nào cũng dẫn đến hệ quả phản cạnh
tranh, chúng có thể là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề về cạnh tranh.
Những hành vi liên quan đến những thoả thuận thúc đẩy bởi quyền SHTT có thể dẫn đến những
quan ngại trong cạnh tranh bao gồm:
(a) Rào cản địa lý
Hành vi này có thể xảy ra khi thoả thuận giữa người cấp và người nhận giấy phép dẫn tới việc
người cấp phép dành riêng cho người nhận giấy phép một lãnh thổ nhất định-đồng nghĩa với việc
cho phép marketing độc quyền. Kết quả là sẽ dễ dàng xuất hiện một doanh nghiệp có vị trí thống
lĩnh hoặc độc quyền trong lãnh thổ đó. Rào cản địa lý có thể gây hại cho cạnh tranh bởi có thể
trở thành cái cớ của một thoả thuận chia sẻ thị trường, do đó chúng sẽ khuyến khích các thoả
thuận phân bổ thị trường giữa các cácten. Chúng hoàn toàn có thể được sử dụng như một công cụ
12
trực tiếp khuyến khích sự cấu kết giữa những người cấp phép cạnh tranh, bằng cách có thể tạo
bán kèm;
•
Hiệu quả của vụ dàn xếp không lớn hơn tác động phản cạnh tranh.
(d) Cấp phép ngược (Grant backs)
Cấp phép ngược là các thoả thuận nếu một trong những điều kiện cấp giấy phép công nghệ là
người nhận giấy phép “chuyển giao độc quyền” quyền sử dụng các cải tiến trong quá trình sử
dụng công nghệ cho bên cấp giấy phép. Điều này ám chỉ rằng người cấp giấy phép có quyền sử
dụng những đổi mới công nghệ của người nhận giấy phép. Hành vi “cấp phép ngược” có thể là
đơn phương, tức là những đổi mới của người nhận giấy phép sẽ được sử dụng bởi người cấp giấy
phép hoặc giữa hai bên, tức là người nhận giấy phép cũng sẽ được tận dụng những sáng tạo mới
của người cấp giấy phép. Trong khi vẫn có những quan ngại đối với cạnh tranh liên quan đến
13
hành vi này, cũng cần phải hiểu rằng cấp phép ngược có những tác dụng ủng hộ cạnh tranh, bởi
vì chúng là một công cụ giúp cho người nhận giấy phép và người cấp giấy phép chia sẻ rủi ro và
chi phí, do đó thúc đẩy đổi mới ban đầu và ở các thời kỳ tiếp theo.
Cấp phép ngược dẫn tới những quan ngại phản cạnh tranh nếu chúng bao gồm cả công nghệ vượt
khỏi phạm vi tài sản trí tuệ được cấp phép lúc đầu hoặc nếu thời gian thực hiện nghĩa vụ cấp
phép ngược của người nhận giấy phép quá dài một cách không cần thiết. Hơn nữa, cấp phép
ngược có thể dẫn đến các quan ngại trong cạnh tranh nếu một trong các bên hoặc cả hai bên đều
có quyền lực thị trường hoặc nếu nó tạo điều kiện việc nâng cao hoặc duy trì không hợp lý vị trí
thống lĩnh.
(e) Cấp phép chéo
Thoả thuận cấp phép chéo là một thoả thuận mà hai hoặc nhiều bên, đều sở hữu sản phẩm được
bảo hộ quyền SHTT sẽ cấp giấy phép cho nhau khai thác các đổi mới độc quyền hoặc phát minh
mà họ nắm giữ. Vì thế điều này có thể được coi như một mối quan hệ có đi có lại, tức là để được
cụ không liên quan đến hành vi phản cạnh tranh. Do đó điều mà cơ quan cạnh tranh lo ngại
không phải là vị trí thống lĩnh có được từ IPR mà là việc lạm dụng vị trí thống lĩnh đó để bóp
méo cạnh tranh trên thị trường. Có nhiều cách mà doanh nghiệp có thể lạm dụng vị trí thống lĩnh
hoặc độc quyền mà họ có được. Đó là những cách sau:
2.2.1. Cản trở các đối thủ cạnh tranh
Những người sở hữu quyền SHTT có thể sử dụng vị trí thống lĩnh của mình để kiểm soát một thị
trường bằng cách thực hiện các hành vi với mục đích ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh tiềm năng
phát triển sản phẩm tương tự như sản phẩm của họ để tính giá cao cho sản phẩm của mình. Điều
đó có thể gây ra bất lợi không mong muốn đối với đối thủ cạnh tranh hoặc người tiêu dùng.
Những người sở hữu quyền SHTT cũng có thể kiện những đối thủ cạnh tranh do cố ý phát triển
sản phẩm mà không cần cấu thành một vi phạm. Hầu hết các luật về bằng sáng chế, luật thiết kế
và luật thương hiệu đều có các chế tài đối với những đe doạ kiện tụng do vi phạm không có cơ sở
và đó là một vi phạm giả để thể hiện rằng thương hiệu đã được đăng ký.
2.2.2. Định giá vượt mức
Tại các nước đã phát triển những lo lắng về cạnh tranh không nhiều do thị trường có nhiều sự
thay thế. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển số lượng các thay thế sẵn có thấp việc kiểm soát
quyền SHTT có thể được sử dụng như biện pháp khuyến khích khai thác khách hàng và các
doanh nghiệp ở khâu sau bằng cách tính giá cao quá mức như là cách để đạt siêu lợi nhuận. Điều
đó có thể dẫn tới số lượng lớn người sử dụng không tiếp cận được với sản phẩm được bảo hộ
mặc dù chúng tồn tại trên thị trường.
2.2.3. Cản trở lên người sử dụng cuối cùng
Chủ sở hữu quyền SHTT cũng có thể áp đặt nhiều trở ngại đối với các doanh nghiệp ở khâu sau
nhằm giành lợi thế không công bằng so với các doanh nghiệp chi nhánh hoặc các hoạt động khâu
sau của chính mình. Một phương pháp để đạt được điều đó là từ chối cấp phép. Điều này xảy ra
khi một doanh nghiệp khác tạo ra một đổi mới mà không thể sử dụng được nếu không nhờ đến
sáng chế ban đầu. Trường hợp này là khi sản xuất một sản xuất mang tính khả thi về thương mại
đòi hỏi sự kết hợp một đổi mới mới và một đổi mới cũ được bảo hộ bởi quyền SHTT. Như là
vấn đề quyền SHTT.
2.4. Một số ví dụ của hành vi phản cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT
2.4.1. Thoả thuận phản cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT
Thoả thuận phản cạnh tranh trên thị trường Hạt giống
Toà Tư pháp Châu Âu (ECJ), trong vụ việc 258/78 Nungesser vs Commission, xem xét một kết
luận phản đối của Uỷ ban Châu Âu (EC) đối với những thoả thuận liên quan đến tiếp thị một hạt
giống màu vàng nhạt lai mới.
Một viện nghiên cứu của Pháp, INRA giữ quyền của người nuôi hạt giống cấy trồng trong những
hạt giống này, mà nó phát triển. INRA ký hợp đồng với Nungesser để tái tạo lại và bán các hạt
giống ở Đức. Hợp đồng với INRA và Nungesser quy định, không kể những cái khác, rằng
Nungenser có được giấy phép độc quyền cho Đức (ví dụ nó sẽ không cấp thêm giấy phép trong
16
lãnh thổ của Đức) và rằng INRA sẽ cố gắng để ngăn những hạt giống phát triển ở Pháp không
được xuất khẩu sang Đức, trừ đối với Nungesser. Cuối cùng thì các chủng loại hạt giống có ưu
thế hơn hạt giống INRA, và ít nhất hai thương nhân ở Đức nhập khẩu những hạt giống đã được
cải thiện từ những người buôn bán ở Pháp. Nungesser khởi xướng quyền cấp phép và hạn chế
thành cong việc nhập khẩu bởi hai thương nhân này. EC đã kết luận thoả thuận này về bản chất
là một hành vi cấp phép độc quyền, vi phạm Điều 85(1) và không bị loại trừ theo điều 85 (3).
Trong khi rà soát kết luận phản đối của Uỷ ban, ECJ nhận thấy rằng việc cấp giấy phép độc
quyền cho Đức, nếu xét một mình chỉ tạo ra một “giấy phép độc quyền mở” cần thiết để giới
thiệu thành công công nghệ mới vào thị trường và không kìm hãm việc nhập khẩu song song từ
những nơi khác ở Cộng đồng, do đó không dẫn tới cản trở cạnh tranh theo điều 85(1). Trên cơ sở
đó ECJ thay đổi kết luận của Uỷ ban về vấn đề đó.
Tuy nhiên, về những trở ngại địa lý đối với giấy phép độc quyền mở, từ đó INRA sẽ cố gắng
ngăn chặn những hạt giống được trồng ở Pháp không được xuất khẩu sang Đức trừ phi đến
Nungesser; những nỗ lực này là của Toà án nhằm tạo ra một sự bảo hộ về lãnh thổ tuyệt đối và
do đó trái với các điều khoản của Hiệp ước Rome vì chúng có thể dẫn đến “việc duy trì nhân tạo
các thị trường quốc gia riêng lẻ”. Từ đó, toà án khẳng định từ chối miễn trừ theo điều 85(3) về
người sử dụng cuối cùng của Microsoft mang tính lựa chọn chứ không phải là một sản phẩm có
thể thương lượng.
EULA quy định rằng: “Bằng cách lắp đặt, sao chép, download, truy cập hoặc nếu không thì sử
dụng sản phẩm phần mềm tức là bạn chấp nhận bị ràng buộc bởi các điều khoản của điều này
(Thoả thuận)”. Do đó, người sử dụng cuối cùng chấp nhận EULA bằng cách đánh dấu vào mục
“Thoả thuận” của máy tính hoặc bằng các hành vi khác thể hiện đã chấp thuận đề nghị của
Microsoft về quyền cấp phép. Người sử dụng cuối cùng tuỳ chọn tham gia thoả thuận cấp giấy
phép EULA với Microsoft ngay từ khi bắt đầu sử dụng OS, không phải tại thời điểm mua hàng,
thanh toán, hoặc các hành vi giao dịch khác.
Cùng lúc đó, do Microsoft độc quyền đối việc việc cấp phép các PC/OS, các OEMs không có
“thoả thuận khác (và Microsoft) …ép buộc OEMs lắp đặt trước các Microsoft lên máy tính và
đóng vai trò đại lý của Microsoft trong việc đưa ra các giấy phép với người sử dụng cuối cùng
trên cơ sở thoả thuận hoặc từ chối theo các điều khoản nghiêm ngặt và độc quyền của Microsoft.
Cũng giống như các OEMs, người bán lẻ và những người khác cũng đóng vai trò đại lý thể hiện
các yêu cầu giao dịch EULA. Người bán lẻ cũng không mua hoặc sở hữu quyền của người sử
dụng cuối cùng hoặc các khía cạnh khác của sản phẩm, như là EULA, bởi thoả thuận này được
quy định rõ ràng là chỉ giữa Microsoft và người sử dụng cuối cùng.
Là kết quả trực tiếp của hành vi hạn chế và loại trừ của Microsoft, người sử dụng cuối cùng phải
chịu tổn hại riêng biệt. Họ không được hưởng các lợi ích của cạnh tranh, bao gồm nhưng không
giới hạn đối với đổi mới công nghệ, sự lựa chọn trên thị trường, đa dạng hoá sản phẩm và nguồn
cung có thể thay thế.
Từ năm 1995 trở đi, Microsoft tiếp tục mở rộng vi phạm độc quyền. Trước đó, theo điều khoản
EULA với Microsoft và trong các thị trường phần mềm nói chung, người sử dụng cuối cùng có
vô số quyền, ví dụ như tái sử dụng giấy phép lên một PC khác; bán lại giấy phép; và quyền hoàn
lại giấy phép và được trả lại tiền nếu không muốn nhận giấy phép…Tuy nhiên, cùng với việc
PC/OS và các sản phẩm rẻ hơn và ưu việt về mặt công nghệ khác không còn được quảng bá
trong các thị trường biên do sự lạm dụng vị trí độc quyền, Microsoft do đó đã tuỳ ý tính một mức
giá cao hơn để tối đa hoá lợi nhuận và áp đặt các hành vi phản cạnh tranh hơn lên người sử dụng
cuối cùng.
Đó là những việc mà Microsoft đã làm. Giá được tăng lên 3 lần và các hạn chế mới được đưa ra
NutraSweet có trụ sở tại Hoa Kỳ không được tham gia vào những hành vi kinh doanh nhất định
mà Toà án xem xét cho thấy đó là hành vi bán kèm và giao dịch độc quyền như quy định trong
mục 79 và 77 của Luật Cạnh tranh đối với một chất làm ngọt được cấp bằng sáng chế.
G.D Searle & Co, công ty mẹ của NutraSweet, được cấp bằng sáng chế đối với Aspartame, một
chất siêu ngọt với vị gần giống vị ngọt của đường. Thời điểm bị khiếu nại bởi đối thủ cạnh tranh
cũng là bên bán aspartame, NSC chiếm giữ 95% thị phần dù thời hạn bảo hộ sáng chế đã hết.
7
Pham, Alice (2008) - Luật cạnh tranh và quyền SHTT – Kiểm soát các lạm dụng hay Lạm dụng quyền kiểm soát –
CUTS International, Jaipur, Ấn Độ
8
CUTS (2007) - Cạnh tranh và điều ti ết kinh tế ở Ấn Độ” - CIRC
19
Một trong những hành vi phản cạnh tranh của NSC trong thời kỳ bảo hộ sáng chế được kết luận
bởi Toà án là giảm giá đáng kể cho những khách hàng cam kết trưng bày logo của nhà sản xuất
(thiết kế hình xoắn) và nhãn hiệu “NutraSweet” lên sản phẩm. Đây là một sự lựa chọn mang tính
“bất đắc dĩ” đối với người tiêu dùng, bởi vì nếu người tiêu dùng quyết định rằng họ không muốn
sử dụng logo cho một dòng sản phẩm nhất định hoặc không cam kết sử dụng với đối với tất cả
sản phẩm của dòng sản phẩm đó, họ gần như sẽ phải tìm nguồn cung chọn nhà cung cấp khác bởi
nếu không mua logo và được giảm giá giá sản phẩm của NSC sẽ trở nên vô cùng đắt.
Theo diễn giải của Toà án, việc trưng bày logo và trợ cấp khuyến mại, được biết đến như chính
sách ưu đãi cho khách hàng trung thành, dẫn tới “thúc đẩy độc quyền”. Để đi đến kết luận về
việc bị đơn tập trung vào các hợp đồng cung cấp aspartame hơn là quảng cáo thương hiệu riêng
của mình, Toà án chỉ ra rằng nhà sản xuất “Coke” và “Pepsi" cũng được hưởng lợi từ những thúc
đẩy này kể cả đối với những sản phẩm nhất định không gắn với tên hoặc logo của bị đơn9.
(iv) Lạm dụng độc quyền đối với thuốc kháng HIV (ARV)
Năm 2002, Chương trình hành động điều trị đã nộp một đơn kiện lên Uỷ ban Cạnh tranh của
Brahm G. Segal, “Thật ngọt ngào: Nhà sản xuất Aspartame khổng lồ cho phép sử dụng bằng sáng chế và thương
hiệu một cách phản cạnh tranh”, Leger Robic Richard, 1991
20
•
tính phí bản quyền không cao hơn 5% cho doanh số dòng của ARVs có liên quan.
2.4.3. Các vụ việc IPR có liên quan đến hợp nhất và sáp nhập
Một ví dụ về sáp nhập là có liên quan đến hai công ty, Sandoz AG và Ciba-Geigy AG, dẫn đến
việc hình thành Norvatis AG, được phân tích ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Uỷ ban Châu Âu đã lưu ý
một số quan ngại về vị trí thống lĩnh của các bên cung cấp các sản phẩm bảo hộ sức khoẻ động
vật. Các bên tham gia sáp nhập kiểm soát 3 trong 5 hoạt chất trên toàn thế giới. Hình thức xử lý
được đưa ra là các bên phải cấp giấy phép không độc quyền cho bên thứ ba theo những điều
khoản công bằng và hợp lý và cam kết cung cấp cho bên nhận giấy phép methoprene (một chất
để sản xuất một sản phẩm trừ ký sinh trùng như con bọ chét và con ve) cho đến khi các bên thứ
ba có thể tung ra được sản phẩm riêng. Ở Hoa Kỳ, những quan ngại của Uỷ ban thương mại liên
bang (FTC) về những tác động của việc sáp nhập đến “các thị trường sáng tạo” cũng được giải
quyết thông qua việc chấm dứt hoạt động kinh doanh chợ giời của Sandoz tại Hoa Kỳ và Canada
cùng với một thoả thuận chuyển giao công nghệ cho người mua được tự sản xuất methoprene,
cũng như nghĩa vụ phải cung cấp giấy phép không độc quyền đối với những quyền sáng chế liệu
pháp gien nhất định và công nghệ khác, và không giành độc quyền đối với những gen khác10.
2.5. Quyền SHTT và luật cạnh tranh: Đối lập hay bổ sung
Mối quan hệ giữa luật cạnh tranh và chính sách về quyền SHTT trong một thời gian dài chỉ được
hiểu là mối quan hệ đối lập. Về mặt cơ bản, quyền SHTT hoạch định các biên giới trong đó các
đối thủ cạnh tranh có thể thực hiện quyền độc nhất pháp lý (độc quyền) đối với những sáng tạo
của mình, và kết quả là người có độc quyền sẽ có được quyền lực thị trường. Do đó, thoạt nhìn
đua về mặt đổi mới sáng tạo, bởi công ty nào cũng có muốn có được lợi thế người dẫn đầu cũng
như được bảo hộ quyền SHTT. Do đó cả luật cạnh tranh và quyền SHTT đều hết sức cần thiết để
đảm bảo cạnh tranh trong cuộc chạy đua đổi mới sáng tạo được thực hiện một cách công bằng,
trong đó bảo hộ quyền SHTT là động lực quan trọng để đổi mới.
Cả hai cơ chế này do đó sẽ có chức năng thúc đẩy và nâng cao lợi ích của người tiêu dùng theo
phương thức giống nhau, mặc dù có những điểm tương đồng và khác biệt về cách tiếp cận. Bằng
cách tạo ra các động lực để đổi mới và phổ biến những đổi mới này để ngăn chặn những kẻ bắt
chước khai thác những nỗ lực của người sáng chế và nhà đầu tư mà không phải trả phí, quyền
SHTT đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng được tiếp cận nhiều sự lựa chọn do sự phát triển các
sản phẩm mới. Luật cạnh tranh thúc đẩy đổi mới và tăng lợi ích của người tiêu dùng bằng cách
cấm những hành vi nhất định có thể gây hại cho cạnh tranh có liên quan đến các cách thức đã có
hoặc mới xuất hiện trong việc phục vụ lợi ích người tiêu dùng.
Cũng cần phải lưu ý một thực tế rằng luật SHTT và luật cạnh tranh có xu hướng can thiệp vào
những giai đoạn khác nhau của vòng đời kinh tế của tài sản. Quyền SHTT thông thường được
trao ngay sau khi tạo ra tài sản, trong khi luật cạnh tranh chỉ cần đến khi việc sử dụng tài sản là
nền tảng của việc lạm dụng quyền lực thị trường. Đặc biệt, các cơ quan sẽ hiểu biết hơn về tầm
quan trọng kinh tế của một sáng tạo nhất định và về cấu trúc của những thị trường vận dụng sự
sáng tạo đó.
22
CHƯƠNG 3
GIẢI QUYẾT CÁC QUAN NGẠI LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SHTT
Mặc dù các chính phủ và cơ quan cạnh tranh có nhiều cách thức để loại bỏ những quan ngại về
quyền lực mà người có quyền SHTT nắm giữ, hai cách thức phổ biến đầu tiên cần được bàn đến
là cấp phép bắt buộc và nhập khẩu song song.
3.1. Cấp phép bắt buộc
Cấp phép bắt buộc về mặt định nghĩa là một tình huống mà chính phủ cấp phép việc sản xuất
hoặc phân phối một sản phẩm được cấp bằng sáng chế cho một cá nhân hoặc cho chính mình, mà
sử dụng đó không gây thiệt hại cho người được chuyển giao quyền sử dụng bắt buộc;
•
Các nước có thể ban hành quyết định bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng để cho phép
các công ty nội địa xuất khẩu các sản phẩm dược phẩm cho các nước phát triển phải đối
mặt với các vấn đề sức khoẻ công nhưng không có năng lực để sản xuất sản phẩm được
cấp bằng sáng chế;
23
•
Người có quyền phải được trả tiền bản quyền hợp lý trong mỗi vụ việc, căn cứ vào giá trị
kinh tế của việc chuyển giao quyền sử dụng12.
Có nhiều yếu tố dẫn đến tầm quan trọng của cấp phép bắt buộc, chủ yếu là liên quan đến việc
lạm dụng quyền lực của người nắm giữ quyền SHTT, như đã bàn ở trên. Các hành vi lạm dụng
bao gồm định giá quá mức, cố ý hạn chế các công ty khác tiếp cận thị trường nhằm nâng giá, áp
dụng các nguyên tắc marketing có chọn lọc để hạn chế sự tiếp cận và sử dụng độc quyền nhờ
sáng chế để kìm hãm đổi mới động/khâu sau, thường bởi các công ty quốc tế. Trong những điều
kiện này, những quốc gia thường xuất phát từ đề xuất của các cơ quan quyền lực cạnh tranh, yêu
cầu cấp phép bắt buộc để cho phép sản xuất hoặc phân phối thay thế sản phẩm độc quyền bởi
một công ty nội địa.
Trường hợp khác để cấp phép bắt buộc là tình huống khẩn cấp quốc gia. Đó là những tình huống
mà các nước lâm vào khủng hoảng không dự đoán trước, trong khi năng lực xử lý khủng hoảng
để bảo hộ người dân thì hạn chế. Tình huống này xảy ra khi có một đại dịch nghiêm trọng bất
ngờ tấn công hoặc một tình huống đe doạ đến hoà bình và ổn định. Đại dịch HIV/AIDS, khi mà
các nước nhận thấy nhu cầu đối với điều trị bằng thuốc kháng HIV (ARV) lớn hơn rất nhiều so
với nguồn cung sẵn có, cũng như nỗi lo sợ về bệnh than là những ví dụ điển hình. Trong tình
Nam Phi, giấy phép có thể được cấp trong trường hợp từ chối cấp giấy phép theo những điều
khoản hợp lý, nếu thương mại hoặc công nghiệp hoặc nông nghiệp hoặc sự thành lập một ngành
hoặc kinh doanh mới trong nước bị thiên kiến, và việc cấp giấy phép vì quyền lợi của công
chúng. Một ví dụ liên quan đến các hành vi phản cạnh tranh, Luật Cạnh tranh Canada trao cho
Toà án liên bang quyền loại bỏ thương hiệu, cấp bằng sáng chế (bao gồm xác lập các điều kiện
và điều khoản), vô hiệu hoá các hợp đồng cấp phép đã có và nói chung tước đi hoặc vô hiệu hoá
quyền thông thường đối với bằng sáng chế hoặc thương hiệu nếu việc sử dụng thương hiệu hoặc
bằng sáng chế đã gây hại đến thương mại hoặc kinh doanh một cách không phù hợp hoặc ngăn
chặn hoặc giảm cạnh tranh một cách không phù hợp.
Các điều kiện và thủ tục cấp giấy phép bắt buộc được quy định trong Phần 3, Chương X của Luật
SHTT 2005 (Điều 145 đến 147) của Việt Nam. Cấp phép bắt buộc chỉ có thể áp dụng với những
lý do sau:
(a) an ninh quốc phòng, phòng và chữa bệnh hoặc các lý do cấp thiết của xã hội;
(b) không sử dụng hoặc sử dụng không đúng;
(c) nếu người sử dụng dự kiến không đạt được một thoả thuận với người sở hữu trên những điều
kiện và điều khoản thương mại hợp lý trong một khoảng thời gian hợp lý; hoặc
(d) trong trường hợp hành vi phản cạnh tranh.
3.2. Nhập khẩu song song
Nhập khẩu song song là các hàng hoá đưa vào một nước mà không có sự uỷ quyền của người sở
hữu bằng sáng chế, thương hiệu hoặc quyền tác giả sau khi người sở hữu quyền SHTT đã đưa
những hàng hoá giống hệt vào lưu thông ở các quốc gia khác. Mặc dù không có sự đồng ý của
người sở hữu, nhập khẩu song song là các hàng hoá hợp pháp ở chỗ là người sở hữu quyền
SHTT đã đồng ý đưa sản phẩm ra thị trường và do đó ngầm hiểu sẽ cho phép sử dụng, kể cả khi
thông qua việc nhập khẩu bởi một nhà phân phối không được uỷ quyền. Nhìn chung có hai hành
vi của người sở hữu quyền SHTT có thể được xem là nguyên nhân dẫn đến nhập khẩu song
song:
(a) Một công ty sản xuất ra các phiên bản khác nhau của cùng một loại sản phẩm để bán ở
các quốc gia khác nhau. Điều này sẽ khuyến khích một số nhà phân phối tận dụng sự
khác biệt này để tạo ra cầu đối với sản phẩm chuyên biệt không được sản xuất ở quốc gia
đó, ví dụ nếu Tạp chí Top Gear (Ấn phẩm Anh) được bán chính thức ở Anh và Tạp chí