BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
ĐINH NGỌC HÙNG
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN
THIỆN CÔNG TÁC TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI CHI NHÁNH HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học : TS. Đỗ Thành Phương
Hà Nội – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
---------------------------------------
ĐINH NGỌC HÙNG
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN
THIỆN CÔNG TÁC TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP HÀNG HẢI CHI NHÁNH HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội - 2014
- Phân tích đánh giá thực trạng công tác tín dụng tại Ngân Hàng TMCP
Hàng Hải - Chi nhánh Hà Nội. Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện
công tác tín dụng tại Ngân Hàng TMCP Hàng Hải - Chi nhánh Hà Nội
3. Đối tưọng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác tín dụng
- Phạm vi nghiên cứu: Kết quả hoạt động tín dụng tai Ngân Hàng TMCP
Hàng Hải - Chi nhánh Hà Nội trong giai đoạn 2009 – 2011.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích số liệu trong hoạt động
tín dụng qua các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo công tác tín dụng
của Ngân Hàng TMCP Hàng Hải - Chi nhánh Hà Nội từ năm 2009 – 2011 .
- Sử dụng phương pháp tổng hợp, đối chiếu, so sánh từ các báo cáo kết quả
kinh doanh của các ngân hàng thương mại trên địa bàn để phân tích, đánh giá
thực trạng hoạt động của Chi nhánh so với các đơn vị khác.
- Thu thập dữ liệu, đánh giá, nhận định từ các báo cáo của, ngân hàng Nhà
nước, các tạp chí kinh tế, tài chính, ngân hàng...để phân tích và đưa ra các giải
pháp tối ưu.
5. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận, thực tiễn cơ bản có liên quan đến tín
dụng và vai trò của tín dụng, phân tích tình hình hoạt động tín dụng của Chi
nhánh trên giác độ thực tiễn công việc.
- Phân tích, đánh giá thực trạng kết quả hoạt động tín dụng tại Ngân Hàng
TMCP Hàng Hải - Chi nhánh Hà Nội từ năm 2009 – 2011. Qua đó tổng kết
những thành tựu đã đạt được, tìm ra những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến
hạn chế đó.
- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện công tác tín dụng tại
Ngân Hàng TMCP Hàng Hải - Chi nhánh Hà Nội từ năm 2009 – 2011. Đồng
thời đề xuất một số kiến nghị với các cấp, các ngành, Ngân hàng Nhà.
trung, dài hạn cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, cải tiến đổi mới kỹ thuật
góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; ngoài
ra tín dụng Ngân hàng còn phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cá nhân.
“Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch
giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho
bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được
phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.”
Trong mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:
- Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất
định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như:
hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.
- Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định,
sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho
người cho vay.
Như vậy, tín dụng Ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền
kinh tế thị trường, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho mọi thành phần kinh tế một
cách linh hoạt và kịp thời. Đối với Ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh
5
doanh truyền thống bên cạnh hoạt động huy động vốn, chiếm tỷ trọng lớn
nhất trên bảng tổng kết tài sản và đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng.
1.1.2. Phân loại hoạt động tín dụng của NHTM
• Căn cứ vào nhóm đối tượng khách hàng
- Tín dụng cá nhân: Là các sản phẩm tín dụng phục vụ đối tượng khách
hàng cá nhân bao gồm: phục vụ nhu cầu tiêu dung, bổ sung vốn kinh doanh
và đầu tư tài sản cố định.
- Tín dụng doanh nghiệp: Là các sản phẩm tín dụng phục vụ đối tượng
khách hàng doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, mục đích sử dụng vốn vay: Vay bổ
sung vốn lưu động, đầu tư mua sắm tài sản cố định, cho vay đầu tư dự án, cho
• Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
- Tín dụng bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng
được cung cấp bằng tiền. Đây là loại tín dụng chủ yếu của các Ngân hàng và
việc thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: Tín dụng ứng trước, thấu chi,
tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp...
- Tín dụng bằng tài sản: là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến
và đa dạng, riêng đối với các Ngân hàng cho vay bằng tài sản được áp dụng
phổ biến đó là tài trợ thuê mua. Theo phương thức cho vay này Ngân hàng
hoặc các công ty thuê mua (công ty con của Ngân hàng) cung cấp trực tiếp tài
sản cho người đi vay được gọi là người đi thuê và theo định kỳ người đi thuê
hoàn trả nợ vay bao gồm cả vốn gốc và lãi.
• Căn cứ vào xuất xứ tín dụng
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho những người có
nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho Ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc
mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn
thanh toán. Các Ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:
Chiết khấu thương mại, mua các phiếu bán hàng, mua các khoản nợ của
doanh nghiệp.. Ngoài các loại cho vay trên đây, Ngân hàng còn thực hiện các
7
nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình. Đối với nghiệp vụ
này Ngân hàng không phải cung cấp tiền, nhưng khi người bảo lãnh không
thực hiện được nghĩa vụ theo hợp đồng thì người bảo lãnh phải thay thế để
thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Chính vì lý do trên đây, mà người ta gọi hành
vi cam kết bảo lãnh của Ngân hàng là tín dụng bằng chữ ký. Tín dụng bằng
chữ ký bao gồm các loại: Tín dụng chứng từ, bảo lãnh của Ngân hàng..
Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng Ngân hàng theo
các tiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi các hình thức tín dụng càng
lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển vốn tiền tệ trong xã hội, góp phần thúc đẩy
quá trình tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát
triền bền vững.
Vì vậy có thể nói tín dụng Ngân hàng là công cụ mạnh mẽ thúc đẩy quá trình
tập trung và điều hoà vốn trong nền kinh tế.
• Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy, củng cố chế độ hạch toán kế toán.
- Các doanh nghiệp vay vốn Ngân hàng ngoài việc được cung ứng vốn
một cách kịp thời đầy đủ còn được Ngân hàng hỗ trợ trong quá trình sử dụng
vốn thông qua những ý kiến tư vấn khi lập phương án sản xuất kinh doanh
hoặc chọn đối tác ký kết hợp đồng...Mặt khác, trong khi sử dụng vốn vay,
khách hàng có quan hệ ràng buộc với Ngân hàng bởi trách nhiệm hoàn trả đầy
đủ cả gốc và lãi trong một thời gian nhất định. Vì vậy đòi hỏi các doanh
nghiệp phải cân nhắc làm thế nào để sử dụng vốn có hiệu quả nhất, giảm thiểu
chi phí, tăng vòng quay của vốn đảm bảo kinh doanh có hiệu quả cho doanh
nghiệp, đồng thời tăng hiệu quả của hoạt động tín dụng Ngân hàng. Muốn vậy
các doanh nghiệp phải tự vươn lên thông qua các hoạt động của mình mà một
trong các hoạt động khá quan trọng là việc hạch toán kế toán nhằm giám sát
mọi hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn. Như vậy thông qua hoạt động tín dụng mà cụ thể là cho vay, Ngân hàng
có thể kiểm soát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp làm cho người
9
vay càng có ý thức hơn trong cơ chế quản lý tài chính, quản lý đồng vốn, qua
đó tăng cường củng cố chế độ hạch toán kế toán thêm vững chắc.
• Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng
hoá, luân chuyển tiền tệ, điều tiết khối lượng tiền trong lưu thông và
kiểm soát lạm phát.
- Thông qua hoạt động tín dụng, khối lượng tiền trong lưu thông sẽ tăng
lên khi thực hiện hoạt động cho vay và ngược lại sẽ giảm xuống khi thực hiện
bên ngoài, tham gia vào nền kinh tế thế giới, bởi lẽ không có một nước nào lại
có thể hội tụ đầy đủ các tiềm năng để phát triển kinh tế mọi mặt, mà các nước
đều chỉ có lợi thế so sánh của mình, do đó nó thường phát sinh quan hệ vay
mượn lẫn nhau mà chủ yếu là vốn đầu tư. Vì vậy, tín dụng Ngân hàng đã trở
thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau.
- Thông qua các hình thức như nhận uỷ thác đầu tư, mở và thanh toán
thư tín dụng, bảo lãnh hàng hoá xuất nhập khẩu, chuyển tiền nhanh đi các
nơi...tín dụng Ngân hàng đã trực tiếp tham gia trong quan hệ thanh toán quốc
tế, các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá, tài trợ cho các hoạt động sản xuất,
xuất nhập khẩu, đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ và ứng dụng khoa học
kỹ thuật vào sản xuất thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển nhằm phục vụ
tốt cho hoạt động xuất nhập khẩu góp phần tăng trưởng kinh tế và mở ra sự
giao lưu giữa nước ta với các nước khác trên thế giới. Ngoài ra với việc tín
dụng Ngân hàng nhận các nguồn tài trợ như ODA, ESAF...từ các nước cấp tín
dụng cũng như các tổ chức tín dụng quốc tế với mục đích tài trợ cho nền kinh
tế đã mang lại những kết quả to lớn về kinh tế xã hội đồng thời tăng cường
mối quan hệ tốt đẹp giữa nước ta với các nước trên thế giới.
Tóm lại, tín dụng Ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với nền
kinh tế đất nước.Tín dụng Ngân hàng là cầu nối giữa người có vốn và người
cần vốn để giải quyết nhu cầu này thoả đáng trong mối quan hệ này, từ đó
thúc đẩy tái sản xuất mở rộng tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát
triển bền vững, thông qua tín dụng Ngân hàng có thể kiểm soát được khối
11
lượng tiền cung ứng trong lưu thông, thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông
tiền tệ. Mặt khác, tín dụng Ngân hàng còn thúc đẩy các doanh nghiệp tăng
cường chế độ hạch toán kinh doanh, giúp các doanh nghiệp khai thác có hiệu
quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh doanh.
1.2 NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
(4)
12
Lập hồ sơ - Khách hàng đi vay
đề nghị cung cấp thông tin
cấp
tín
dụng
- Hồ sơ đề nghị vay
từ giai đoạn trước
chuyển sang
- Các thông tin bổ
sung từ lưu trữ, từ
Phân tích hỗ trợ của kênh nội
tín dụng bộ, của NH nhà
nước…
- Các thông tin tài
liệu từ giai đoạn
trước chuyển sang
và báo cáo kế quả
thẩm định
Quyết
- Các thông tin bổ
định tín sung khác.
dụng
- Quyết định cho
vay và các hợp
- Hoàn thành bộ hồ sơ
để chuyển sang giai
đoạn sau
- Báo cáo kết quả
thẩm định cụ thể bằng
Tờ trình thẩm định
trong đó nêu rõ các
điều kiện cụ thể: Số
tiền cho vay, thời gian
cho vay, lãi suất, các
điều kiện về tài sản
bảo đảm, điều kiện
giải ngân…và chuyển
cho bộ phận có thẩm
quyền quyết định cho
vay.
- Quyết định cho vay
hoặc từ chối tùy theo kết
quả thẩm định, kết quả
cụ thể là biên bản, hoặc
nghị quyết xét duyệt.
- Tiến hành các thủ tục
pháp lý về mặt tài sản
thế chấp: Hợp đồng thế
chấp, đăng ký giao dịch
bảo đảm, về mặt tín
dung: Hợp đồng tín
dụng, khế ước nhận
nợ…
khách hàng
vay.
- Các thông tin từ - Tái xét và xếp hạng dụng.
thị trường, thông tin tín dụng.
ngành, các quyết - Thanh lý hợp đồng
định mới của Ngân tín dụng.
hàng nhà nước, của
chính phủ….
Việc thiết lập và không ngừng hoàn thiện quy trình tín dụng có ý nghĩa
rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Về mặt hiệu quả,
quy trình tín dụng góp phần nâng cao chất lượng và giảm thiểu rủi ro tín
dụng. Về mặt quản trị, quy trình tín dụng có nhiều tác dụng, cụ thể:
- Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc phân định trách nhiệm và quyền
hạn của từng bộ phận liên quan trong hoạt động tín dụng.
- Quy trình tín dụng làm cơ sở cho việc thiết lập các hồ sơ và thủ tục vay
vốn về mặt hành chính.
- Quy trình tín dụng chỉ rõ mối quan hệ giữa các bộ phận liên quan trong
hoạt động tín dụng.
1.2.2 Nội dung nghiệp vụ ở mỗi giai đoạn trong quy trình tín dụng
1.2.2.1. Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
Lập hồ sơ tín dụng là khâu căn bản đầu tiên của quy trình tín dụng, nó
được thực hiện ngay sau khi cán bộ tín dụng tiếp xúc với khách hàng có nhu
cầu vay vốn. Lập hồ sơ tín dụng là khâu quan trọng vì nó là khâu thu thập
thông tin làm cơ sở để thực hiện các khâu sau, đặc biệt là khâu phân tích và ra
quyết định cho vay. Một hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cần thu thập từ khách
hàng các nội dung sau:
- Thông tin về năng lực pháp lý và năng lực hành vi của khách hàng
- Thông tin về khả năng sử dụng và hoàn trả vốn của khách hàng
- Thông tin về đảm bảo tín dụng
hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Một điều không may là khâu
15
quan trọng này lại là khâu khó xử lý nhất và thường dễ phạm sai lầm nhất, có
hai loại sai lầm cơ bản thường xẩy ra:
- Quyết định chấp thuận cho vay đối với một khách hàng không tốt
- Từ chối cho vay đối với một khách hàng tốt
Nhằm hạn chế sai lầm trong khâu quyết định tín dụng các Ngân hàng
thường chú trọng đến thu thập và xử lý thông tin một cách đầy đủ, chính xác
làm cơ sở để ra quyết định đồng thời trao quyền quyết định cho một hội đồng
tín dụng hoặc những người có năng lực phân tích và phán quyết.
Sau khi ra quyết định tín dụng, kết quả có thể là chấp thuận hoặc từ chối
cho vay, tùy thuộc vào kết quả phân tích và thẩm định ở khâu trước. Nếu chấp
thuận cho vay, cán bộ tín dụng sẽ hướng dẫn khách hàng ký kết hợp đồng tín
dụng và làm tiếp các bước sau. Nếu từ chối cho vay, Ngân hàng sẽ có văn bản
trả lời và giải thích lý do cho khách hàng được rõ.
1.2.2.4. Giải ngân
Giải ngân là khâu tiếp theo sau khi hợp đồng tín dụng đã được ký kết. Giải
ngân là chuyển tiền vay cho khách hàng trên cơ sở mức tín dụng đã cam kết
trong hợp đồng. Tuy là khâu tiếp theo sau của quyết định tín dụng, nhưng giải
ngân cũng là khâu quan trọng vì nó góp phần phát hiện, chấn chỉnh kịp thời nếu
có sai sót ở khâu trước. Ngoài ra, cách thức giải ngân còn góp phần kiểm tra và
kiểm soát xem vốn tín dụng có được sử dụng đúng mục đích cam kết hay không.
Nguyên tắc giải ngân là luôn gắn liền vận động tiền tệ với vận động hàng hóa
hoặc dịch vụ đối ứng nhằm đảm bảo khả năng thu hồi nợ sau này.
1.2.2.5. Giám sát tín dụng
Giám sát tín dụng là khâu quan khá quan trọng nhằm mục tiêu bảo đảm
cho tiền vay được sử đụng đúng mục đích đã cam kết, kiểm soát rủi ro tín
dụng, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những sai phạm có thể ảnh hưởng đến
- Thanh lý hợp đồng tín dụng: Nếu hết hạn của hợp đồng tín dụng và
khách hàng đã hoàn tất các nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi thì Ngân hàng và khách
hàng làm thủ tục thanh lý hợp đồng tín dụng, giải chấp tài sản bảo đảm nếu có
và lưu hồ sơ tín dụng của khách hàng vào kho lưu trữ.
17
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1. Các nhân tố bên ngoài
Hoạt động của mỗi NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường kinh
tế - xã hội. Một Ngân hàng dù có cố gắng đến mấy trong hoạt động kinh
doanh của mình nhưng nếu môi trường kinh tế - xã hội không ổn định thì
cũng khó mà thành công. Ta có thể xem xét ảnh hưởng của môi trường kinh tế
- xã hội đến chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM từ các yếu tố sau:
• Môi trường kinh tế
Một môi trường kinh tế phát triển lành mạnh, các chủ thể tham gia nền
kinh tế đang hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng,
chất lượng hoạt động tín dụng cũng sẽ được nâng lên. Nhưng môi trường kinh
tế cũng có thể có những thay đổi bất ngờ. Chẳng hạn khi lạm phát cao, lãi suất
thực tế sẽ giảm xuống và nếu như Ngân hàng không cân đối giữa các khoản
mục bên nguồn vốn và tài sản nhạy cảm với lãi suất thì có thể các khoản tín
dụng đó có thể không mang lại hiệu quả như mong đợi. Cũng có thể có những
biến động về tỷ giá hoặc biến động về thị trường làm các nhóm khách hàng
doanh nghiệp kinh doanh thương mại, nhập khẩu hàng hóa sẽ gặp trở ngại.
Ngoài ra, dưới tác động của khủng hoảng tài chính, suy giảm kinh tế làm cho
hàng hóa sản xuất ra của nhóm khách hàng doanh nghiệp sản xuất không bán
được hàng theo dự kiến làm tăng chi phí, không có đủ nguồn thu trả nợ Ngân
hàng dẫn đền việc quá hạn. Như vậy chất lượng hoạt động tín dụng của Ngân
tố có liên quan như vật liệu được cung cấp từ đâu, điều kiện giao thông vận
tải có thuận lợi không, cơ sở hạ tầng như thế nào, hàng làm ra có tiêu thụ và
cạnh tranh được không vv... Những điều đó cán bộ kinh doanh không hiểu
biết sẽ dẫn tới làm ăn thua lỗ. Như vậy khi năng lực quản lý kinh doanh bị
hạn chế thì các phương án sản xuất kinh doanh là không phù hợp với thực tế
do đó khả năng trả nợ của doanh nghiệp kém ảnh hưởng xấu tới chất lượng
tín dụng.
• Năng lực tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh, sử dụng vốn
sai mục đích
19
Nhiều doanh nghiệp dùng vốn vay Ngân hàng không đúng phương án,
mục đích xin vay vốn. Các nguồn thu của doanh nghiệp rất hạn chế nhưng
khối lượng các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp quá lớn (như các khoản
nợ ngân sách, nợ công nhân viên chức, nợ người bán hàng, nợ Ngân hàng, nợ
các đối tượng khác…). Cơ cấu về vốn đầu tư của doanh nghiệp không hợp lý,
dùng vốn vay để đầu tư dài hạn dẫn đến không trả được nợ đúng hạn.
Tất cả những nguyên nhân trên gây nên khó khăn trong việc trả nợ đúng
hạn của khách hàng đối với Ngân hàng, tạo ra các khoản nợ quá hạn trong
kinh doanh tín dụng.
• Đạo đức của khách hàng vay vốn
Việc không trả nợ đúng hạn có thể xuất phát từ khả năng chi trả yếu kém
của khách hàng, cũng có thể xuất phát từ ý định chủ quan của người đi vay
không muốn trả nợ (Mặc dù có khả năng nhưng không muốn thực hiện). Hiện
tại, đã và đang có rất nhiều khách hàng bao gồm: doanh nghiệp, cá nhân cố
tình lập hồ sơ giả bằng các thủ đoạn rất tinh vi để qua mặt Ngân hàng thông
qua việc nghiên cứu rất kỹ lưỡng quy trình tín dụng của Ngân hàng hay kẽ hở
của luật pháp để đạt được mục đích vay tiền và lẩn trốn. Với việc ngày càng
một điều quan trọng. Việc có những sản phẩm mới, tiên phong sẽ thỏa mãn
được những khách hàng hiện có đồng thời thu hút thêm những khách hàng
mới từ đó hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch đề ra về tăng trưởng dư
nợ, tăng trưởng về số lượng khách hàng, tăng trưởng về lợi nhuận cho Ngân
hàng đồng thời xây dựng cải thiện, nâng cao được hình ảnh tốt đẹp trong ánh
mắt của khách hàng.
• Chất lượng của công tác thẩm định tín dụng
- Khi đến Ngân hàng để xin được cấp tín dụng, khách hàng thường phải
mang đến một bộ hồ sơ về dự án mà họ sẽ tiến hành thực hiện. Thẩm định dự
án giúp Ngân hàng xem xét một cách toàn diện các mặt của dự án để xác định
tính khả thi của dự án trên cơ sở đó sẽ quyết định khách hàng này có đủ điều
kiện để được cấp tín dụng hay không. Cũng thông qua công tác thẩm định,
21
Ngân hàng với những kinh nghiệm vốn có của mình có thể tư vấn, giúp đỡ
cho chủ đầu tư sửa đổi những điểm không hợp lý trong dự án để dự án có tính
khả thi hơn tạo mối quan hệ tốt với khách hàng.
- Thẩm định là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính toán
phức tạp. Do công việc này là cơ sở để quyết định có cấp tín dụng hay không
cho nên chất lượng của công tác này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt
động tín dụng. Nếu chất lượng của công tác thẩm định không cao tức là nhân
viên tín dụng không xác định thực chất dự án có hiệu quả hay không thì
những khoản tín dụng mà Ngân hàng đã cấp sẽ gặp những rắc rối trong việc
thu hồi các món nợ của mình. Chính vì vậy công tác thẩm định đòi hỏi các
nhân viên thẩm định có trình độ cao và sự kết hợp một cách có hiệu quả giữa
các phòng ban trong Ngân hàng
• Chất lượng của đội ngũ nhân sự
Yếu tố mang tính quyết định đến việc nâng cao hay suy giảm chất lượng
tín dụng lại chính là nguồn nhân lực của Ngân hàng vì suy cho cùng quyết
cũng như mở rộng thị phần Ngân hàng thì việc doanh số về huy động nói
chung là nhiệm vụ quan trọng. Nguồn vốn dồi dào đồng nghĩa với việc Ngân
hàng sẽ chủ động về vốn cho vay đối với khách hàng, đối với các Ngân hàng
khác qua đó thu lợi cho Ngân hàng.
• Doanh số cho vay
Doanh số cho vay là một trong những chỉ tiêu kế hoạch hàng năm của
các Ngân hàng thương mại, với việc nâng cao doanh số cho vay góp phần
tăng trưởng lợi nhuận tín dụng cho Ngân hàng.
• Cơ cấu dư nợ
Việc phân loại dư nợ theo thành phần kinh tế và ngành nghề kinh doanh
nhằm mục đích đánh giá hiệu quả chất lượng hoạt động tín dụng, liệu đây có
phải những thành phần kinh tế hay ngành nghề kinh doanh phù hợp với chiến
lược, mục tiêu, chính sách cho vay của Ngân hàng thương mại, đồng thời tại
thời điểm cho vay những thành phần kinh tế và ngành nghề kinh doanh hiện
có thực sự hoạt động hiệu quả.
23
• Phân loại theo thành phần kinh tế
- Cá thể, hộ kinh doanh, hợp tác xã, doanh nghiệp nhà nước, doânh
nghiệp tư nhân và các thành phần khác
- Phân loại theo ngành nghề kinh doanh như: Thương mại, Nông lâm
nghiệp, Sản xuất chế biến, xây dựng, Dịch vụ cá nhân và cộng đồng,
Kho bãi, Tư vấn kinh doanh bất động sản, Khách sạn nhà hàng...
• Nợ quá hạn và nợ xấu
Nợ quá hạn là những khoản cho vay đến hạn mà khách hàng không trả
được số tiền trong hợp đồng tín dụng và tiền lãi của số tiền đó và không được
Ngân hàng gia hạn. Số tiền này Ngân hàng chuyển thành nợ quá hạn và áp
dụng lãi suất quá hạn đối với những khoản nợ này (cao hơn lãi suất thông
thường). Đây là những khoản nợ có độ rủi ro cao và Ngân hàng có khả năng