VĂN MẪU 11: CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ – NGUYỄN TUÂN
QUAN NIỆM VỀ CÁI ĐẸP TRONG VANG BÓNG MỘT THỜI CỦA
NGUYỄN TUÂN
BÀI LÀM:
Nhà văn Nguyễn Đình Thi nhận xét: “Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm cái
đẹp và cái thật”. Có thể nói trong suốt cuộc đời, bằng ngòi bút điêu luyện của mình,
Nguyễn Tuân đã làm cho cái đẹp thăng hoa. Vang bóng một thời – tập truyện ngắn đặc
sắc của Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chính là một chặng quan trọng trong
hành trình đi tìm cái đẹp của nhà văn. Muốn hiểu được quan niệm về cái đẹp của nhà văn
rất phức tạp này, thiết nghĩ phải quay về thời đại Nguyễn Tuân sống trước Cách mạng
tháng Tám.
Ở thời kì này, xã hội Việt Nam có sự phân hóa rõ rệt. Không phải ai cũng may
mắn tìm thấy con đường đi đến với Cách mạng như một bộ phận tri thức lúc bấy giờ. Các
nhà văn – chiến sĩ như Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Trần Huy Liệu, Sóng Hồng… đã tiếp thu
được tư tưởng của giai cấp công nhân, coi thơ văn trước hết là vũ khí chiến đấu, là
phương tiện để tuyên truyền, vận động cách mạng, quan niệm về cái đẹp của các nhà văn
– chiến sĩ này gắn liền với tư tưởng cải tạo xã hội. Trong khi đó, đại bộ phận tầng lớp văn
nghệ sĩ (trong đó có Nguyễn Tuân), mặc dù có tinh thần dân tộc song không có điều kiện
để tiếp thu tư tưởng cách mạng, chẳng biết làm gì hơn là viết văn, viết báo. Đối với
những văn nghệ sĩ này, viết văn là một cách để họ thể hiện thái độ của mình.
Qua những trang văn, Nguyễn Tuân lên tiếng phản đối cái xã hội “Ối a ba phèng”
lúc đó hoặc thực hiện chủ trương xê dịch, giang hồ. Đó cũng là cách quay lưng lại với xã
hội, là cách phản ứng trước những sự tấm thường, xô bồ, hỗn độn của đời sống. Có điều
những trang văn, những chuyến xê dịch giang hồ ấy, ngoài chuyện để quay lưng lại với
xã hội, tự bản thân chúng còn làm thỏa mãn một nhu cầu có tính chất tối thượng của nhà
văn: đi tìm cái đẹp. Nguyễn Tuân luôn khao khát đi tìm “cái đẹp và cái thực” song trong
thời đại mà Nguyễn Tuân sống, cái đẹp chân chính thật không dễ tìm chút nào, nói như
của đời mình ấy đã có lúc phải ngồi bán đi lũ ấm đất của mình, lũ ấm đất “ngày trước giá
có chồng ngay cọc bạc nén cho trông thấy, chưa chắc cụ đã bán cho một chiếc”. Ẩn sau
cái cười “hề hề” của ông cụ khi tiết lộ cái mẹo nhỏ là bán thân ấm rồi mới bán đến nắp
ấm, ta thấy cả mỗi một nỗi lòng xót xa, đứt ruột!
Chén trà trong sương sớm lại còn miêu tả tỉ mỉ hơn cái thú uống trà của lớp người
xưa cũ ấy. Cụ Ấm trong truyện có thói quen uống trà từ rất sớm, từ lúc “trời còn tối đất”.
Không khí của những buổi uống trà sớm ấy thật đặc biệt. Nổi bật lên trên khung cảnh tĩnh
lặng và tinh khiết của buổi sớm là hình ảnh cụ Ấm “Sau màn khói, ẩn hiện một ông già
chống nạnh ngồi bên gối xếp, cặp mắt liêu xiêu như một nhà sư nhập định, vẻ nghiêm
trang lặng thinh của ông già muốn làm ngừng cả khói trắng hiếu động đang trôi trong
không khí gian nhà gạch…”. Cùng với ông cụ Ấm, hình ảnh cái hỏa lò hiện ra thật sống
động dưới ngòi bút miêu tả của Nguyễn Tuân: “Hòn than tầu lép bép nổ, nghe rất vui
tai… Những hòn than cháy đều, màu đỏ ửng, có những tia lửa xanh lè vờn ở chung
quanh. Không khí mỗi lúc dao động càng nâng cao thêm những ngọn lửa xanh nhấp nhô.
Hòn lửa rất ngon lành, trở nên một khối đỏ tươi và trong suốt như thỏi vàng thổi chảy”.
Cách uống trà của ông cụ quả là rất cầu kì, có thể nói đã giống như một thứ lễ nghi. Chưa
bao giờ ông cụ dám cẩu thả trong cái “thú chơi thanh đạm” này mà đã để vào đấy bao
nhiêu công phu, bởi vì theo cụ “trong ấm trà pha ngon, người ta chịu nhận thấy một chút
mùi thơ và một tị triết lí và tâm lí”. Hỏa lò, những ấm trà, và nước pha trà thơm lành
đọng trong lá sen. tất cả sự cầu kì và công phu ấy dường như đã được đền đáp vì xung
quanh ấm trà là những người tao nhã, cùng “một thanh khí” với nhau.
Đối với gia đình cụ Ấm, việc uống trà còn gắn liền với việc bình văn, ngâm thơ
buổi sớm. Giọng ngâm “trong và dài” của người con trưởng cụ Ấm vang lên trong không
khí tĩnh lặng, trong lành của buổi sớm mai thực đã gợi ra nét văn hóa của một thời. Việc
uống trà, bình văn, ngâm thơ buổi sớm, theo cụ Ấm còn là một cách “vận động thần khí
kì diệu nhất của một người sống bằng cuộc đời tâm tưởng bên trong. Mỗi buổi ngâm như
thế là đủ tiết hết ra ngoài những cái nặng nề trong thân thể và để đón lấy khí lành đầu
tiên của trời đất” … Với Chén trà trong sương sớm, Nguyễn Tuân đã giúp ta hiểu thêm
Những viên kẹo nhân đá ướp hương hoa, chén rượu tăm, và “Tiếng ngâm thơ quyến rũ
đến cả tâm hồn” trong cái êm ấm của buổi chiều xuân… tất cả đã nói lên rất nhiều trân
trọng của nhà văn trước thú vui nhã đạm này. Phải là người có vốn sống phong phú, có
sự hiểu biết sâu sắc và yêu mến biết bao nhiêu những phong tục tập quán cổ truyền của
dân tộc mới có thể viết được những trang văn tinh tế đượm tấm lòng trìu mến như thế.
Nguyễn Tuân còn đặc biệt thích thú trước tục thả thơ, đánh thơ. Chính vì vậy,
trong Vang bóng một thời, ông đã dành cả hai truyện ngắn cho đề tài này. Cũng như các
truyện ngắn khác trong tác phẩm, hai truyện ngắn Thả thơ; Đánh thơ - nói như giáo sư
Hoàng Như Mai – đã tạo cho ta những “khoái cảm thẩm mĩ đặc biệt” bởi vì nhà văn “đã
dạy cho ta nghệ thuật sống để tận hưởng ý vị tinh túy, sâu sắc của cuộc sống”. Đây là hai
truyện ngắn tiêu biểu đã đề cao, làm sống lại một thú chơi tao nhã đã đang dần bị mai
một trong hiện tại. Rất nhiều người có lẽ đã phải cảm ơn Nguyễn Tuân vì qua những
truyện ngắn như thế này, họ đã biết được, hiểu được thú tiêu khiển cổ xưa mang đậm chất
bác học, tài hoa và dân tộc của cha ông. Hãy chú ý lắng nghe lời giải thích của cô Tú –
con cụ nghè Móm, về hai chữ “Thả thơ” cho lũ học trò nhỏ tuổi để có thể hình dung thứ
công việc vừa công phu lại vừa thú vị này: “Thầy sẽ viết vào mảnh giấy trắng một câu
thơ bảy chữ mà chỉ có sáu chữ thôi. Còn một chữ thì bỏ trống và thay vào đấy một cái
khuyên tròn. Cái khuyên tròn thay chữ đó thường gọi là chữ vòng…”
Đánh thơ được tác giả gọi là “Một cuộc đỏ đen rất trí thức” trong truyện gắn liền
với đôi vợ chồng lãng tử: ông Phó Sứ và Mộng Liên. Cuộc đánh thơ với tiếng đàn, giọng
hát đã thu hút nhiều hạng người. Có những người đến không chỉ vì tiền mà là vì yêu thích
văn chương. Đối với họ - những ông Hậu bổ, Thông phán tỉnh, Kinh lịch – được hay thua
“cũng đều lấy làm thích cả”. Họ đến với cuộc thả thơ đôi khi chỉ là để được nghe những
tiếng ngâm thơ trên làn nước lạnh, những “thanh âm nghe trong trẻo, du dương và thái
bình như tiếng vang của một hội tao đàn nào”. Thả thơ đã đưa lại cho họ những phút giây
hứng thú đặc biệt: “Mỗi lúc ngâm lên, cái hay của câu thơ đã làm cho bọn mình lạnh hết
cả người”. Thế nhưng đến với cuộc thả thơ còn có cả những hạng người khác nữa.
Nguyễn Tuân đã không dè dặt mỉa mai, châm biếm hạng người “dốt cay dốt đắng”, đã
độ của mình. Đó là thái độ bất mãn sâu sắc trước hiện thực. Có lúc, thái độ ấy thể hiện
trong suy nghĩ chua chát của một ông cụ Kép (Hương Cuội): “Nhưng nghĩ mình chỉ là
một anh nhà nho sống vào giữa buổi Tây Tàu nhố nhăng làm lạc mất cả quan niệm cũ,
làm tiêu mất nhiều giá trị tinh thần…” Con người cho mình là “kẻ chọn nhầm thế kỷ” này
chính vì vậy đã chọn việc uống rượu, chơi hoa làm một thứ công việc mang lại niềm vui
cho mình trong buổi xế chiều của cuộc đời. Cũng có khi nhà văn lại mượn lời cô Tú (Thả
thơ) để nói lên tâm sự bực dọc, chua chát của mình: "Ở đời ăn nhau may rủi, chữ nghĩa
tài hoa mà làm gì"... Đó còn là thái độ nhớ tiếc những giá trị văn hóa tinh thần của một
thời: "Từ Mậu Ngọ trở về sau, sẽ ở một thời khác, chữ Hán chỉ còn là một thứ xa xỉ phẩm
trong cõi học vấn của một lớp người. Từ sau khoa này, cái lều, cái chõng chỉ còn là
những vật cổ tích mỗi khi nhắc nhỏm lại gợi lại một chút nhớ tiếc trong lòng một đám
người mệt mỏi còn sống thêm một ngày là cảng chỉ thêm bỡ ngỡ với phong vận mới"
(Báo oán)
Quay lưng lại với xã hội đương thời nhưng rõ ràng Nguyễn Tuân đã không quay
lưng lại với những phong tục, truyền thống tốt đẹp vốn có của dân tộc,. Ông say sưa nói
về việc thả thơ, đánh thơ, uống trà, làm đèn trung thu với một thái độ ca ngợi và nuối
tiếc. Đọc những trang văn Nguyễn Tuân viết về những thú chơi tao nhã, về những phong
tục đáng yêu đáng quý của dân tộc mới thấy được tinh thần yêu nước thầm kín, sự gắn
bó, vốn hiểu biết sâu rộng về cuộc sống của ông.
2. Quan niệm cái đẹp gắn liền với chất tài hoa tài tử.
Trong các sáng tác trước và cả sau cách mạng Tháng Tám, Nguyễn Tuân thường
chú ý đến chất tài hoa tài tử khi miêu tả và thể hiện con người. Với Nguyễn Tuân, cái đẹp
thường đi đôi, gắn bó với cái tài, với chất nghệ sỹ, điều này cũng thống nhất với nét tài
hoa, nghệ sỹ trong con người ông.
Trong Vang bóng một thời, Nguyễn Tuân tỏ lòng mến mộ, yêu quý những con
người tài hoa mà thất thế hay những lãng tử giang hồ. Ở những nhân vậy này, nhà văn
chẳng những khai thác khía cạnh tài hoa tài tử mà còn chú ý cả những điểm khác người,
thậm chí đến mức lập dị, cầu kỳ của họ. Truyện Đánh thơ nói về một đôi vợ chồng lãng
chỉ thích đi hội Đạp Thanh để làm thơ tức cảnh, lên núi hái lá thuốc, ngắm trăng trên đỉnh
Sài Sơn hoặc ẩn mình đối với nhân vật này. Phải chăng đó là sự gặp gỡ, là hiện thân của
chất tài tử, của chủ nghĩa xê dịch trong Nguyễn Tuân?
Nói đến chất tài hoa tải tử, không thể không nhắc đến Huấn Cao trong truyện ngắn
Chữ người tử tù. Con người tài hoa ấy chẳng những có tài bẻ khóa, vượt ngục mà con có
tài "viết chữ rất nhanh và đẹp" nổi tiếng cả tỉnh Sơn. Bao nhiêu người trong đó có viên
quản ngục đã từng ao ước "có được chữ của Huấn Cao mà treo là một báu vật trên đời".
Thế nhưng không dễ gì xin được chữ của ông. Con người ấy đã từng nói với viên quản
ngục "Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết câu đối bao giờ.
Đời ta cũng mới viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân
của ta thôi". Xây dựng hình tượng Huấn Cao, nhà văn đã làm nổi bật lên một nhân cách
cao vời vợi. "Con ngưởi này vừa là một nghệ sỹ tài hoa vừa là một trang anh hùng dung
liệt mặc dù chí lớn không thành nhưng bao giờ tư thế cũng hiên ngang bất khuất" (Trần
Hữu Tá). Đọc truyện người ta dễ dàng nhận ra thái độ thán phục của Nguyễn Tuân trước
trang anh hùng dũng liệt này. Nhân cách, khí phách của Huấn cao thể hiện trong cái vẻ
lạnh lùng “thúc mạnh thành gông xuống đất đánh huỳnh một cái” mà không thèm để ý
đến những lời dọa nạt của mấy tên lính áp tải, trong thái độ thản nhiên trước cái chết sắp
cận kề, trong những lời nói thể hiện quan niệm sống coi thường bạc vàng, quyền thế của
ông. Nhung nhân cách của Huấn Cao còn được thể hiện trong việc ông nhận ra sở thích
cao quý của viên quản ngục. Chính vì thế, cảnh cho chữ phi thường mới diễn ra trong
chốn ngục tù: “Đêm hôm ấy, lúc trại giam tỉnh Sơn chỉ còn vẳng có tiếng mõ trên trạm
canh, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, đã bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm
ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián”. Trong cảnh tượng lạ lùng
này, viên quản ngục – người nắm quyền uy, thì “Khúm núm”, tay “run run” bưng chậu
mực. Còn Huấn Cao, tên tử tù sắp bị chém đầu thì ung dung, đĩnh đạc biết bao! Không
nghĩ gì đến cái chết đang đón đợi mình, Huấn Cao chỉ chú ý đến mùi thơm của chậu mực,
màu tinh khiết của bức lụa trắng và cuối cùng là lời khuyên viên quản ngục hãy thay đổi
chỗ ở để khỏi “Nhem nhuốc mất cái đời lương thiện”. Ở truyện ngắn này, quan niệm của
rụng xuống”. Vào những lúc nhộn nhạo quá đông tử tù, việc chém đầu người sẽ được
tiến hành theo một cách còn “tài tình” hơn và tất nhiên cũng rùng rợn hơn. Người ta sẽ
“Chẻ đôi cây tre đực dài ra, cặp vào cổ từ tù xếp hàng và nối đuôi quỳ hướng về một
chiều. Đại để cũng giống như là cái lối cắp gắp chả chim mà nướng ấy”. Rồi đao phủ sẽ
cầm gươm mà róc ngang như người ta “róc mắt mía”…
Trong truyện ngắn Ném bút chì, Nguyễn Tuân nói tới cái tài ném lưỡi mai chết
người của Phó Kình, của Lý Văn trong một đảng cướp. Chỉ với “cây bút chì”– lưỡi mai
thô sơ mà y (Phó Kình) đã dám “chấp cả một ấp người”. Tài ném lưỡi mai của hạng
người này có thể nói đã được miêu tả như một thứ nghệ thuật: “Phó Kình cuộn mấy vòng
dây thừng dài đến mấy sải vào cánh tay trái, bàn tay trái y nắm chắc cổ cán mai, bàn tay
phải y giữ vững dốc nhọn mai… Bỗng sau một tiếng phập, thân trên cây chuối đã gúc
xuống mặt đất, kêu đánh roạt.” Còn đây là những dòng miêu tả tài “ném bút chì” của Lý
Văn: “Tiếng lưỡi mai ở tay Lý Văn phóng ra kêu đánh vút. Một tiếng gà oang oác. Cả
bọn chạy ra luống khoai, giơ cao con gà gãy mất hai chân. Vết thương gọn gàng vừa
đúng quãng đầu gối và gặp giò chưa lìa hẳn, vẫn còn sinh vào đùi bởi lần da hoen máu.”
Lý Văn còn hứa hẹn với đồng bọn về một thứ “tài nghệ” mới: “ Để hôm nào rảnh anh sẽ
dạy cho các chú tập đánh cái lối đòn bơi chèo bằng gỗ cau. Đánh đến đòn hỗn chiến thì
đầu người cứ rụng như sung”.
Đọc những truyện ngắn loại này, nhiều người có cảm giác giọng văn của Nguyễn
Tuân lạnh lùng, tàn nhẫn làm sao! Tả cảnh chém đầu người giữa pháp trường mà giọng
văn cứ lạnh lùng, tình táo như không. Thực ra cần phải hiểu quan niệm của Nguyễn Tuân
khi miêu tả hiện thực. Phải chắng, với quan niệm “Viết văn không khuynh hướng”,
Nguyễn Tuân chỉ chú ý ngợi ca những cái đẹp mang tính hình thức chứ không mang tính
tư tưởng ? Sự phiến diện trong quan niệm về cái đẹp của Nguyễn Tuân ở giai đoạn trước
Cách mạng tháng Tám là một hạn chế lớn. Đọc Vang bóng một thời hay Tóc chị Hoài,
Chiếc lư đồng mắt cua…, dễ thấy nhiều khi Nguyễn Tuân tách rời ra khỏi cái đẹp có ích,
đề cao cái đẹp một cách thuần túy. Trong Tóc chị Hoài, Nguyên Tuân cũng đã từng tuyệt
đối hóa cái đẹp của hình thức khi miêu tả mái tóc người con gái. Ngay cả trong Chùa đàn
coi là đậm chất duy mỹ như Chém treo ngành vẫn có thể khơi gợi nơi người đọc một sự
căm thù sâu sắc đối với bè lũ thực dân và tay sai của chíng. Chẳng phải là Nguyễn Tuân
đã thể hiện một cách kín đáo thái độ của mình qua đoạn văn miêu tả cơn lốc xoáy kỳ lạ
giữa pháp trường làm hất tung chiếc mũ trên đều quan Công Sứ đó sao? Như vậy, với
quan niệm cái đẹp mang tính duy mỹ nói trên, Nguyễn Tuân đã có nhiều khi tự mâu
thuẫn với chính mình hay nói như nhà văn Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Tuân đã “tự lừa
dối mình trong những ngày tháng tuyệt vọng”. Nguyễn Tuân phức tạp cũng chính là ở
điểm này
4. Nghệ thuật tả cảnh và một hệ thống ngôn từ độc đáo.
Quan niệm về cái đẹp như trên đã quy định nghệ thuật tả cảnh và hệ thống ngôn từ
trong Vang bóng một thời. Có thế thấy rõ trong tác phẩm không hiện diện những cảnh
tượng huyên náo, rực rỡ màu sắc. Cảnh vật được miêu tả trong tác phẩm không ít thì
nhiều đều gợi về một thời xa vắng và như một nhà phê bình đã viết, nó kéo con người ta
trở về với quá khứ.
Đọc truyện, dễ nhận thấy một gam màu nhạt và ảm đạm bao trùm khắp trong tập
truyện. Nhà văn Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: “Cái vang của thời đã qua, cái bóng của
thời đã qua, mà ngày nay người ta tưởng còn văng vẳng, và thấp thoáng đó là tất cả cái
thê lương nó khởi đầu những mẫu chuyện cổ thời”. Gam màu nhạt và ảm đạm này phù
hợp một cách kỳ lạ với khung cảnh những buổi chiều u ám: “Mỗi buổi chiều mặt trời lặn,
mất con chim không tổ mỏi cánh định tìm vào vườn chuối âm u này để ngủ. Những thân
chuối cao vút và tàu lá chuối trống trải không đủ là nơi làm tổ, loài chim kêu mấy tiếng
thưa thớt rồi lại bay qua ngọn thành. Vào tiết mưa dầm, những trận mưa ngâu đổ lên
vườn chuối một khú nhạc suông nghe buồn thỉu buồn thiu”. Đến gần cuối truyện, không
khí ảm đạm u ám ấy còn được pha thêm màu sắc dữ dội gây cảm giác bức bối, nặng nề
báo hiệu chết chóc, đau buồn: “Trời chiều có một vẻ dữ dội. Mặt đất thời sáng hơn là
nền trời. Nền trời vẫn những đám mây tím đỏ vẽ đủ mọi hình thù quái lạ. Những bức
tranh mây chói màu thẫm hạ thấp thêm và đè nặng xuống pháp trường oi bức và sang
gắt”. Chẳng cứ gì buổi chiều, ngay cả một buổi trưa hè cũng được tả với sự buồn vắng,
hương hoa huệ trắng, hương hoa tinh khiết bao bọc lấy những con bạc nhiều khi đến với
cuộc đánh thơ chỉ vì niềm yêu mến văn chương: “Hoa huệ mềm mại cuộn cong đầu cánh
trắng lại như những râu rồng và gặp tiết đêm, gặp sức nóng của nến cháy, của người thở
mạnh, cáng hết sức nhả mùi hương. Không khí đều là huệ hết cả, có người rít mạnh mồi
thuốc lào, đã lầm rằng thuốc của mình là ướp ủ bằng hoa huệ” (Đánh thơ). Trong truyện
Ngôi mả cũ, hình ảnh giàn bầu nậm với những “trái bầu nậm còn tương dưới lỗ giàn là
một cái bình rượu tạc bằng khối ngọc bích đều sắc, nhẵn và bong” được miêu tả thật ấn
tượng nhờ vào những lien tưởng phong phú và tinh tế của nhà văn: “Cậu Chiêu đang hấp
háy mắt ngửng đầu ngắm những quả bầu nậm buông thong xuống ngang mặt. Cái áo vải
trắng cậu Chiêu đã biến thành một áo lụa màu xanh của người công tử phong lưu đa
tình. Đấy là cái màu dịu mắt của chất ngọc bích, đấy là cái thứ áo xanh của ông quan Tư
mã đất Giang Châu dung lau nước mắt khi thương đến một người con hát giữa một
khoang thuyền trống trải trôi trong đám lau sậy ven sông. Hoặc vì đó là màu xanh của
những cánh đồng lúa non ngút ngàn của những xứ không bao giờ có nạn binh lửa”…
Lại có những cảnh nửa thực nửa ảo gây nên một cảm giác siêu thoát, đượm màu
Phật giáo: “Bọn người xin nước vái chào nhà sư. Trên con đường đất cát khô, nước
tròng trành theo bước chân mau của tên lão bộc đánh rỏ xuống mặt đường những hình
ngôi sao ẩm ướt và thẫm màu. Những hình ngôi sao ẩm ướt nối nhau trên một quãng
đường dài ngoằn ngoèo như lối đi của loài rắn. Ví buổi trưa hè này là một đêm có bóng
trăng dài lạnh lung và ví cổng chà Đồi Mai là một cửa non đào thì những giọt sao kia có
đủ cái thi vị một cuộc đánh dấu con đường về của khách tục trở lại trần sau khi chia tay
cùng chúa động”.
Có thể nói cảnh và người trong tập truyện đều là cảnh và người của dĩ vãng - thứ
dĩ vãng đã một thời vang bóng. Với cách miêu tả này, tác phẩm tạo nên một không khí
buồn mà thanh sạch khác hẳn với những xô bồ trong cuộc sống hiện tại…
Bây giờ, ta hạy nói tới hệ thống ngôn từ độc đáo của tác phẩm. Bài viết này không
có tham vọng bàn tới những vấn đề lớn trong phong cách nghệ thuật của “Thầy bút
Nguyễn Tuân” mà chỉ muốn đề cập đến nét độc đáo trong ngôn từ mà nhà văn sử dụng ở