Phân tích cung cầu lao động tại thành phố hồ chí minh - Pdf 39

Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

LỜI MỞ ĐẦU
Yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế đang đặt ra nhiệm vụ đổi mới chính sách kinh tế - xã hội, hoàn
thiện hệ thống thị trường, trong đó có thị trường lao động, tạo ra cơ sở
thuận lợi cho sự vận hành hiệu quả nền kinh tế.
Cải cách kinh tế nhiều năm qua đã đem lại những thay đổi toàn
diện sâu sắc, có tính đột phá liên quan đến phát triển nguồn nhân lực,
đảm bảo việc làm và không ngừng nâng cao thu nhập, mức sống cho
người lao động. Thị trường lao động được công nhận về mặt hợp pháp
và đang trong quá trình hình thành, phát triển, sức lao động trở thành
một loại hàng hóa. Người lao động được tự do tìm việc làm và người
sức dụng lao động được quyền thuê mướn lao động. Thị trường lao
động nước ta đang từng bước có mối quan hệ hội nhập với thị trường
lao động khu vực, quốc tế, tạo them khả năng tăng cầu lao động và
năng cao thu nhập của người lao động.
Trong xu thế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi thị
trường lao động ở Việt Nam phát triển linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng,
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thế nhưng, do mới hình
thành và phát triển chưa đồng bộ, nên thị trường lao động Việt Nam
đang bộc lộ nhiều yếu điểm lẫn mâu thuẫn, trong đó nghiêm trọng
nhất là mất cân bằng giữa cung và cầu, năng suất lao động thấp.
Trong khi chúng ta dư thừa sức lao động ở nông thôn thì ở lĩnh vực
phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ trung cao cấp lại thiếu hụt
lao động trầm trọng.
Thị trường lao động thành phố Hồ Chí Minh hiện nay cũng phát
triển theo các quy luật mới của nền kinh tế thị trường nhiều thành
phần, hội nhập khu vực và quốc tế: Thị trường lao động thành phố Hồ
Chí Minh hiện nay có nhiều biến động về chênh lệch cung - cầu, số
lao động không ổn định việc làm, mất việc làm, tái bố trí lại việc làm

một vấn đề thực sự cần thiết phải có những giải pháp hiệu quả và thiết
thực để giải quyết. Và thực trạng ấy cũng chính là thực trạng mà
thành phố Hồ Chi Minh hiện đang mắc phải. Do đó, việc nắm vững và
điều tiết thị trường cung – cầu lao động tại thành phố Hồ Chí Minh
trong thời gian tới một cách hiệu quả là hết sức khó khăn. Vì vậy, cần
thiết phải có sự phối hợp hoạt động và giải quyết của những cơ quan,
đơn vị chuyên trách và những bộ phận có liên quan. Tuy nhiên, việc


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp khắc phục tình trạng này
ở thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua dường như chưa hiệu
quả và thiết thực với thực tế. Vì thế mà em quyết định chọn đề tài:
“Phân tích cung cầu lao động tại thành phố Hồ Chí Minh” để
phân tích và đưa ra giải pháp cho vấn đề cung cầu lao động thành phố
Hồ Chí Minh.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích hiểu và nắm
được quy luật cung - cầu lao động và những cơ hội thách thức về vấn
đề lao động tại thành phố, biết được sự tham gia và hoạt động của các
đơn vị liên quan góp phần vào việc giải quyết vấn đề này tại thành
phố Hồ Chí Minh hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tình hình cung cầu lao động tại thành phố
Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu: trên toàn địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
trong năm 2010.
4. Số liệu
Số liệu từ sở Lao Động Thương Binh - Xã Hội thành phố Hồ Chí

hóa. Trong quá trình trao đổi đó, theo nghĩa thông thường thì “ thị
trường là nơi mua bán hàng hóa, là nơi gặp gỡ để tiến hành mua bán
giữa người bán và người mua”. (Giáo trình thị trường lao động, 2008,
tr 9)
Trong hệ thống thị trường (thị trường hàng hóa, thị trường lao
động, thị trường vốn, thị trường đất đai...) thì thị trường lao động là
bật nhất, bởi vì: Lao động là nhu cầu của con người; là nguồn gốc tạo
ra phần lớn của cải vật chất trong xã hội; là nhân tố quyết định tới sự
hoạt động và phát triển của các loại thị trường.
Theo Adam Smith “Thị trường lao động là nơi diễn ra sự trao đổi
hàng hóa sức lao động (hoặc dịch vụ lao động) giữa một bên sử dụng
lao động và một bên là người lao động ”.
Theo tiến sỹ Leo Maglen “Thị trường lao động là một hệ thống
trao đổi giữa những người có việc làm hoặc người đang tìm việc làm
với những người đang sử dụng lao động hoặc đang tìm kiếm lao động
để sử dụng (cầu lao động)”
Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) “Thị trường lao động là thị
trường trong đó các dịch vụ lao động được mua bán thông qua một
quá trình thỏa thuận để xác định mức độ có việc làm của lao động,
cũng như mức độ tiền cộng”
Từ đó có thể nêu lên một định nghĩa khái quát về thị trường lao
động như sau: “Thị trường lao động là nơi ngưới có nhu cầu tìm việc
làm và người có nhu cầu sử dụng lao động trao đổi với nhau, mua bán
dịch vụ lao động thông qua các hình thức giá cả (tiền công, tiền
lương) và các điều kiện thỏa thuận khác (thời gian làm việc, điều kiện
lao động, bảo hiểm xã hội…) trên cơ sở một hợp đồng lao động bằng
văn bản hoặc bằng miệng, hoặc thông qua các dạng hợp đồng hay
thỏa thuận khác”.(Giáo trình thị trường lao động, 2008, tr 14)



lực lượng lao động; tỷ lệ tham gia của lực lượng lao động vào thị
trường lao động; tình trạng tự nhiên của người lao động; các phẩm
chất cá nhân về học vấn, trình độ tay nghề, trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ của người lao động, và một số các chỉ số khác.
1.3. Cầu lao động
Cầu về lao động là số lượng lao động được thuê mướn trên thị
trường lao động. Hay nói cách khác, cầu lao động là toàn bộ cầu về
sức lao động của một nền kinh tế (hoặc của một ngành, địa phương,
doanh nghiệp…) ở một thời kỳ nhất đinh, bao gồm cả mặt số lượng,


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

chất lượng, cơ cấu và thường được xác định thông qua chỉ tiêu việc
làm. (Giáo trình thị trường lao động, 2008, tr 76)
Nhu cầu về cầu lao động thể hiện qua khả năng thuê mướn lao
động trên thị trường lao động. Xét từ giác độ số lượng, trong điều kiện
năng suất lao động không biến đổi, cầu về lao động xã hội tỷ lệ thuận
với quy mô và tốc độ sản xuất. Nếu quy mô sản xuất không đổi, cầu
về lao động tỷ lệ nghịch với năng xuất lao động. Còn xét từ giác độ
chất lượng, việc nâng cao năng suất lao động, mở rộng quy mô, tiền
vốn, tri thức…của doanh nghiệp càng ngày càng đòi hỏi nâng cao cầu
về chất lượng lao động. Trong đó, các chỉ số quan trọng nhất thể hiện
chất lượng lao động là: trình độ tinh thông nghề nghiệp, mức độ phù
hợp của nghề nghiệp được đào tạo với công việc được giao, kỷ luật
lao động…
1.4. Quan hệ cung cầu lao động
Việc nghiên cứu thị trường lao động bắt đầu và kêt thúc bằng sự
phân tích cung cầu lao động và mối quan hệ giữa chúng. Những kết
quả của hoạt động thị trường lao động liên quan chặt chẽ đến điều

- Cả nước hiện có 47,25 triệu lao động có việc làm; tỷ lệ lao
động làm việc trong các ngành nông – lâm – ngư nghiệp, công nghiệp
– xây dựng và thương mại – dịch vụ lần lượt là 47,7%; 21,5% và
30,8%. Người lao động làm việc trong kinh tế gia đình không hưởng
lương (người làm việc trong các nông trại, hoặc công việc sản xuất
kinh doanh của gia đình mà không được trả lương) chiếm tỉ lệ cao
nhất (42%), những người làm công ăn lương chiếm gần 23% tổng số
người có việc làm.
2.1.2. Cầu lao động
- Hiện nay, cả nước có trên 4,145 triệu cơ sở kinh tế, hành
chính, sự nghiệp, thu hút gần 17 triệu lao động vào làm việc, trong đó
có gần 3,935 triệu cơ sở thuộc khu vực sản xuất kinh doanh, chiếm tỷ
trọng 94,9%. Số doanh nghiệp hiện đăng ký kinh doanh có 300 nghìn
(trong đó có trên 200 nghìn doanh nghiệp hiện đang hoạt động). So
với năm 2002, số lượng cơ sở tăng nhanh ở tất cả các loại hình, ngành
kinh tế, trong đó tăng nhiều nhất là ở các ngành, lĩnh vực như: kinh
doanh bất động sản tăng 426,2%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt,
nước nóng tăng 343%, thông tin truyền thông tăng 318,6%; hoạt động
tài chính và ngân hàng, bảo hiểm tăng 248,9%. Hàng năm các doanh
nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh thu hút thêm lao động vào làm việc
từ 1,2 đến 1,5 triệu người.
- Cả nước có khoảng 219 khu công nghiệp được thành lập, phân
bố trên 54 tỉnh/thành phố, trong đó có 118 khu công nghiệp đã đi vào
hoạt động (chủ yếu ở các thành phố lớn), 101 khu công nghiệp đang
xây dựng cơ bản. Các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp thu
hút trên 1 triệu lao động.


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí


bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ biển Đông 50 km theo đường
chim bay. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, thành phố
Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ,
đường thủy và đường không trở thành một đầu mối giao thông quan
trọng của Việt Nam và Đông Nam Á.Vào năm 2007, thành phố đón
khoảng 3 triệu khách du lịch quốc tế, tức 70% lượng khách vào Việt


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

Nam. Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, thành phố
Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất.
Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt
Nam. Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số của Việt Nam
nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công
nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Vào năm 2005, thành phố Hồ Chí
Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi
lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc. Năm 2008, thu nhập bình
quân đầu người ở thành phố đạt 2.534 USD/năm, cao hơn nhiều so
với trung bình cả nước, 1024 USD/năm.
Nền kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ
khai mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến
du lịch, tài chính... Cơ cấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước
chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ
trọng cao nhất: 51,1%. Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm
47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%.
Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp
thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó
có 452 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ

Từ kết quả quá trình khảo sát liên tục về cung – cầu tại 18 lần
tham gia sàn giao dịch, ngày hội việc làm trên địa bàn thành phố, các
nguồn thông tin của các trung tâm giới thiệu việc làm, trường dạy
nghề và các kênh thông tin của doanh nghiệp về tuyển dụng lao động
trong năm 2010. Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị
trường lao động thành phố Hồ Chí Minh đã tổng hợp cơ sở dữ liệu
của 18.036 doanh nghiệp với nhu cầu tuyển dụng 231.764 lượt tuyển
dụng, 84.151 lượt người tìm việc làm và khảo sát tại các sàn giao dịch
việc làm 12.717 người tìm việc. Có thể nhận định, phân tích tổng
quan về thị trường lao động thành phố năm 2010 như sau:
2.3.1. Đặc Điểm Cung – Cầu Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm 2010:
Tình hình chung thị trường lao động thành phố năm 2010 diễn
ra nhiều biến động về chênh lệch cung – cầu và với xu hướng phát
triển tốt hơn năm 2009. Quý I năm 2010, thị trường lao động diễn ra
mất cân bằng giữa nhu cầu tuyển dụng theo cơ cấu trình độ chuyên
môn và ngành nghề, trong những tháng này nhu cầu lao động phổ
thông rất lớn; chiếm 71,16% so với tổng nhu cầu chỗ làm việc trống,
trong khi đó nhu cầu lao động có trình độ cao đẳng – đại học trở lên
chỉ chiếm 30%. Các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao trong quý
này chủ yếu là những ngành nghề thâm dụng lao động như Nhựa Bao bì, Dệt may – Giày da, Chế biến, Dịch vụ - Phục vụ, Vệ sinh
công nghiệp, Mộc - Mỹ nghệ
Thời điểm quý II năm 2010, từ những tác động chính sách quản
lý nhà nước và chính sách sử dụng nhân lực của doanh nghiệp, đặc
biệt việc cải tiến quy trình sản xuất, tăng năng suất lao động, ổn định
sản xuất – kinh doanh; nâng cao tiền lương – thu nhập; chăm lo đời
sống cho lao động được cải thiện tích cực; thị trường lao động phát
triển xu hướng tương đối cân bằng cung – cầu lao động, hạn chế sự



Thực hiện chương trình việc làm thành phố, trong 11 tháng đã tổ
chức giới thiệu và giải quyết việc làm được 271.061 lao động
100,39% kế hoạch, trong đó 120.641 chỗ làm việc mới. Ước năm
2010 giải quyết việc làm được trên 275.000 lao động.


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

Hình 2.1. Những ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng nhiều
nhất năm 2010
Trong tổng số người được giải quyết việc làm, tại các khu chế
xuất – công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút lao động trong
năm 2010 trên 30.000 lao động, trong đó Dệt may 71.827 lao động
(28%), Da giày 47.126 lao động (18,66%) , Điện – điện tử 44.200 lao
động (10%), Cơ khí 20.535 lao động (9%), Dịch vụ 6.088 lao động
(9%), Bao bì 6.126 lao động (8.5%), Chế biến thực phẩm 8.856 lao
động (8%), Nhựa 12.847 lao động (8%), Hóa chất 5.820 lao động
(5%), Thủ công mỹ nghệ 12.513 lao động (1.5%), Khác 16.630 lao
động (9%).
Bảng 2.1 Cơ cấu sử dụng lao động về trình độ tại KCX-KCN
Trình độ học vấn

Năm 2010 (%)

Tiểu học

4,97%

THCS


trong 06 tháng đầu năm 2010 là thời điểm kinh tế phục hồi phát triển
sau thời gian doanh nghiệp cắt giảm nhiều lao động trong năm 2009,
cũng là thời điểm vào dịp Lễ, Tết do đó sau Tết nhu cầu của các
doanh nghiệp tập trung nhiều vào nguồn lao động phổ thông cho các
hoạt động sản xuất, dịch vụ thời vụ rất lớn đặc biệt những ngành nghề
như Dệt may – Giày da (12,08%), Nhựa – Bao bì (19,49%) và đa số là
tuyển lao động phổ thông. Đồng thời các nhóm ngành nghề Marketing
- Nhân viên Kinh doanh (7,81%), Điện tử - viễn thông (7,90%), Dịch
vụ - Phục vụ (7,74%), Cơ khí – Luyện kim (4,45%), Bán hàng
(4,69%), Giao thông – Vận tải – Thủy lợi (3,82%) là các nhóm ngành
nghề cần nhiều lao động có trình độ và tay nghề. Vì vậy sự thiếu hụt
lao động phổ thông đã diễn ra ở quý I. Mặt khác, nguồn lao động phổ
thông phần lớn từ các địa phương khác đến, nguồn lao động phổ
thông của thành phố phụ thuộc lớn vào lực lượng lao động này, sau
những ngày lễ tết họ thường ở lại quê rất lâu và một số ở lại luôn cho
nên tình trạng thiếu hụt lao động vẫn tiếp tục diễn ra ở tháng đầu của
quý II. Cùng với thực tế chung thị trường lao động 06 tháng đầu năm,
vấn đề tiền lương, thu nhập của người lao động tại các doanh nghiệp,
nhất là các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực gia công, sản xuất thấp hơn
nhiều so với nhu cầu cuộc sống của người lao động; dẫn đến sự thiếu
hụt lao động khá căng thẳng, tạo ra sự dịch chuyển lao động; thiếu hụt
cao hơn các năm trước
Trong 06 tháng cuối năm thị trường lao động thay đổi với chiều
hướng tích cực, các doanh nghiệp thiếu lao động phổ thông đã cải
thiện chính sách tổ chức sản xuất kinh doanh, tiền lương và nhiều
chính sách phúc lợi vì vậy nhu cầu lao động phổ thông giảm dần thay
vào đó là nhu cầu về nguồn lao động có tay nghề và có trình độ cao.
Những ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao vẫn là những ngành
nghề của 06 tháng đầu năm nhưng với yêu cầu về tay nghề và trình độ
chuyên môn cao hơn.


dụng và làm việc của doanh nghiệp (chưa toàn diện về kỹ năng
chuyên môn, kỹ năng nghề, kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý, ngoại
ngữ).
Mặt khác những ngành nghề thường xuyên thiếu lao động kể cả
lao động phổ thông như Điện tử - Viễn thông, Cơ khí - Luyện kim,
Giao thông - Vận tải - Thủy lợi, Dệt - May - Giày da, Nhựa - Bao bì,
Mộc - Mỹ nghệ - Trang trí nội thất.
Những vấn đề trên cho thấy thị trường lao động vẫn tiếp tục mất
cân đối giữa đào tạo và việc làm đặc biệt là kỹ năng nghề.
Năm 2010 là thời điểm diễn ra sự dịch chuyển lao động khá lớn
(trên 30%), phần lớn lao động có nhu cầu tìm việc tại các sàn giao
dịch việc làm, các phương tiện truyền thông, mạng việc làm, các trung
tâm giới thiệu việc làm là những lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật và có tay nghề,trên 50% người tìm việc làm có kinh nghiệm từ 1
năm trở lên và mức lương mong muốn trên 5 triệu đồng/tháng, vì vậy
tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa những người tìm việc làm có trình
độ chuyên môn. Đối với lao động phổ thông, sơ cấp nghề nhu cầu tìm
việc làm cũng mong muốn mức lương trên 02 triệu/tháng – 03
triệu/tháng trở lên, trong khi nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông,
sơ cấp tuy có tăng hơn so với quý I ở mức bình quân chung 1,5 triệu –
1,8 triệu và đa số vẫn ở mức lương dưới 02 triệu/tháng. Vấn đề nổi bật
của thị trường lao động là sự lựa chọn của người lao động về việc đi
lại, cư trú trong quá trình làm việc, đặc biệt đối với người từ các tỉnh
thành phố khác đến.


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

Hình 2.4 Những ngành nghề có chỉ số cung cao nhất năm

khí, Mộc – Mỹ nghệ, Trang trí nội thất, xây dựng, Chế biến thực
phẩm, Bán hàng, Nhân viên kinh doanh, Dịch vụ và phục vụ, Tư vấn Bảo hiểm, sẽ thiếu nguồn lao động phổ thông nhất là vào quý I năm
2011. Đến quý II trở đi có thể ổn định hơn nhưng vẫn chưa đáp ứng
đủ với nhu cầu chung của thị trường lao động. Mặt khác lao động có
tay nghề cũng mất cân đối nguyên nhân chính vẫn do cơ cấu đào tạo
về số lượng, chất lượng còn hạn chế và sự chênh lệch tiền lương – thu
nhập giữa các ngành nghề, các khu vực kinh tế chưa khắc phục được
toàn diện
Một số ngành nghề nguồn cung nhân lực tiếp tục tăng nhanh so
nguồn cầu nhân lực trong năm 2011 như Quản lý điều hành, Kế toán,
Hành chánh văn phòng, Kho bãi - Vật tư - Xuất nhập khẩu, Tin học,
Quản trị kinh doanh, sẽ là những ngành mất cân đối về chất lượng
nhân lực trong năm 2011
Trong tổng số nhu cầu tuyển dụng của thành phố, nhu cầu tuyển
dụng của KCX - CN năm 2011 trên 30.000 lao động. Với xu thế
chuyển dịch cơ cấu đầu tư, chú trọng các ngành nghề có hàm lượng
chất xám, kỹ thuật công nghệ cao, gia tăng các ngành dịch vụ, hạn chế
ngành nghề thâm dụng lao động. Dự kiến nhu cầu lao động theo một
số ngành nghề như sau:
Bảng 2.2: Dự kiếm nhu cầu lao động theo ngành nghế năm
2011
STT

Ngành nghề

Tỷ lệ (%)

01

Điện, điện tử

06

Công nghệ thông tin

5%

07

Mộc, Bao bì

4%

08

Hóa, Dược

3%

09

Khác

15%
Tổng cộng

100.000

Bảng 2.3: Xu hướng nhu cầu ngành nghề năm 2011
Ngành thu hút nhiều lao động



Công nghệ ô tô, xe máy

1,78

Quản lý điều hành

1,35

Tài chính - Ngân hàng

1,51

Đầu tư - Bất động sản - Chứng khoán

1,60

Kế toán - Kiểm toán

3,28

Marketing - Nhân viên Kinh doanh

11,07

Bán hàng

5,24



Đồ họa - In ấn - Xuất bản

1,70

Giao thông - Vận tải - Thủy lợi

3,83

Dầu khí - Địa chất

0,51

Môi trường - Xử lý chất thải

1,30

Kho bãi – Vật tư - Xuất nhập khẩu

1,74

Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản

1,75

Y tế - Chăm sóc sức khỏe

1,96

Dược - Công nghệ sinh học



Cơ cấu
nhu cầu
(%)

Số chỗ làm
việc (người)

16,31

43.221


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

Bán hàng
02 Dệt may – Giày da - Nhựa – bao bì

14,50

38.425

03

Dịch vụ - Phục vụ - Du lịch – Khách
sạn, Nhà hàng

11,74

31.111


14.760

08

Xây dựng – Kiến trúc – Mộc – Mỹ
nghệ

5,06

13.409

09

Hóa – Hóa chất – Dược, Công nghệ
sinh học

4,53

12.005

10

Quản lý điều hành – Nhân sự - Hành
chánh văn phòng

3,35

8.877


Năm 2010, nguồn cung nhân lực cũng diễn biến những nghịch
lý, khi nguồn lao động phổ thông thiếu thì nguồn lao động có trình độ
từ trung cấp, cao đẳng, đại học trong một số ngành nghề lại chưa đáp
ứng số lượng, chất lượng so với nguồn cầu như: Quản lý điều hành,
Tin học, Kế toán, Quản lý nhân sự - Hành chánh văn phòng, Tài chính
- Ngân hàng, Kho bãi - Vật tư - Xuất nhập khẩu. Do đó vẫn có hiện
tượng thừa lao động có trình độ nhưng chưa đáp ứng yêu cầu tuyển
dụng và làm việc của doanh nghiệp (chưa toàn diện về kỹ năng
chuyên môn, kỹ năng nghề, kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý, ngoại
ngữ).
Mặt khác những ngành nghề thường xuyên thiếu lao động kể cả lao
động phổ thông như Điện tử - Viễn thông, Cơ khí - Luyện kim, Giao
thông - Vận tải - Thủy lợi, Dệt - May - Giày da, Nhựa - Bao bì, Mộc Mỹ nghệ - Trang trí nội thất.
Những vấn đề trên cho thấy thị trường lao động vẫn tiếp tục mất
cân đối giữa đào tạo và việc làm đặc biệt là kỹ năng nghề.
2.4.2.2. Về cầu lao động:
- Phân bố doanh nghiệp, cơ sở sản xuất không đều giữa các
vùng, chủ yếu tập trung ở những khu đô thị lớn, mật độ dân số đông:
- Số doanh nghiệp có quy mô nhỏ là chủ yếu, phân tán và trình
độ kỹ thuật công nghệ thấp .
- Nhiều ngành có khả năng tạo ra giá trị sản xuất cao nhưng tỉ lệ
lao động lại ít như Điện – điện tử 44.200 lao động (10%), Cơ khí
20.535 lao động (9%), Dịch vụ 6.088 lao động (9%), Bao bì 6.126 lao
động (8.5%), Chế biến thực phẩm 8.856 lao động (8%), Nhựa 12.847
lao động (8%), Hóa chất 5.820 lao động (5%), Thủ công mỹ nghệ
12.513 lao động (1.5%).
2.4.2.3. Cân đối cung – cầu lao động
Nhìn tổng thể thị trường lao động TP Hồ Chí Minh vẫn là một
thị trường dư thừa lao động và phát triển không đồng đều; đặc biệt
quan hệ cung – cầu lao động giữa các vùng, khu vực, ngành nghề kinh

- Chuyển dịch cơ cấu lao động chậm: Mặc dù trong những năm
qua đã giảm được tỷ trọng lao động trong nông nghiệp và tăng tỷ
trọng lao động trong công nghiệp và thương mại nhưng tốc độ chuyển
dịch còn chậm, chưa tương xứng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Lao động vừa thiếu vừa thừa: Thiếu những ứng viên thích hợp
cho những vị trí quan trọng dù nguồn nhân lực có nhu cầu tìm việc
làm lúc nào cũng thừa, còn nhiều người phải thất nghiệp luôn tìm
kiếm việc làm hoặc mất việc làm do ngành nghề thu hẹp, doanh
nghiệp giải thể, chuyển sang hoạt động sản xuất – kinh doanh khác.
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật còn thấp. Tỷ lệ lực lượng lao
động trong khu công nghiệp – khu chế xuất TP Hồ Chí Minh có trình
độ từ trung học nghề đến đại học chỉ chiếm chưa tới 30%,…


Ket-noi.com kho tài liệu miễn phí

- Tác phong, kỹ năng lao động còn bất cập. Đa số lao động của
Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp, do vậy chưa có sự chuyển đổi tác
phong lao động nông nghiệp sang công nghiệp, chưa được trang bị
kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, trách nhiệm trong công
việc. Đồng thời, người lao động xuất thân từ nông thôn thường có tâm
lý làng xã lớn, bị ràng buộc nhiều bởi lệ làng, phong tục tập quán nên
ảnh hưởng không nhỏ đến kỷ luật, tác phong lao động. Điều này được
thể hiện rõ nhất tại thời điểm sau Tết nguyên đán, hàng loạt người lao
động không quay trở lại làm việc theo đúng quy định.
- Tâm lý người lao động: Do điều kiện xã hội phát triển, việc
làm phong phú, có nhiều điều kiện tiếp cận và lựa chọn nên người lao
động kén việc, tư tưởng tìm việc làm không đúng. Bên cạnh đó, không
ít tâm lý người lao động “đứng núi này trông núi nọ” làm cho sự biến
động lao động ở các công ty lớn. Do vậy dẫn đến hiện tượng các

Trong khi đó, tỉ lệ lao động từ độ tuổi trẻ bước vào lực lượng lao động
ngày cảng giảm, do vậy tạo ra sự thiếu hụt lao động trẻ, đặc biệt là lao
động phổ thông. Lực lượng lao động trong khu công nghiệp, khu chế
xuất ở thành phố Hồ Chí Minh có tuổi trung bình từ 18 - 25 tuổi, lao
động ngoại tỉnh chiếm trên 60%.
- Áp dụng chính sách tiền lương, thu nhập trong các doanh
nghiệp cứng nhắc và chưa phản ánh đúng thực tế của thị trường lao
động:
- Cung cấp thông tin về thị trường lao động cho các nhà đầu tư,
nhà đào tạo, người lao động hiện đang là khâu yếu và thiếu, khiến cho
các nhà đầu tư, nhà đào tạo lớn trong và ngoài nước rất khó khăn
trong việc lựa chọn ra quyết định đầu tư, cũng như điều hành phát
triển sản xuất.
- Các doanh nghiệp tăng cường sử dụng lao động không thường
xuyên: nhân lực sẽ luôn được đào tạo và tuyển mới để thay thế các vị
trí không còn phù hợp; yêu cầu chính là nguồn nhân lực năng động và
đã qua đào tạo.
- Đối với người lao động sự cạnh tranh chỗ làm việc gay gắt hơn,
công bằng hơn và trong môi trường mở rộng toàn xã hội. yêu cầu
người lao động phải tự đào tạo nghề và các kỹ năng để thích nghi với
công việc.
- Vấn đề quan tâm nhất của người lao động đặc biệt lực lượng
sinh viên, học sinh là năng lực về ngoại ngữ, khả năng hợp tác, khả
năng làm việc trong môi trường đa văn hóa và tác phong làm việc
công nghiệp.
- Hạn chế về công tác quản lý nguồn nhân lực và thành phố vẫn
chưa tổ chức được hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị
trường lao động một cách chính xác. Chính từ việc chưa thực hiện tốt
công tác dự báo cụ thể về số lượng ngành nghề, trình độ, kỹ năng của
lực lượng lao động và chưa thực hiện được việc thống kê, phân tích


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status