HỒ SƠ
THAM DỰ CHƯƠNG TRÌNH “TRI THỨC TRẺ VÌ GIÁO DỤC”
GIAI ĐOẠN 2016 – 2020
Họ và tên tác giả: NGUYỄN VIỆT NAM
Tên đề tài: “PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ HÀI
LÒNG KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CỦA HỌC SINH Ở TRƯỜNG
THPT TÂN YÊN SỐ 1”
(Factors affecting the level of pipuls satisfaction with the result of learning
chemistry in Tan Yen No.1 high school).
Đơn vị công tác: Trường THPT Tân Yên số 1 (Huyện Tân Yên – Tỉnh Bắc Giang)
Điện thoại tác giả: 0917762628 hoặc 0982379023
Địa chỉ: trường THPT Tân Yên số 1 – Huyện Tân Yên – Tỉnh Bắc Giang
Ngày, tháng, năm tạo ra sản phẩm: tháng 2 năm 2015
1
MỤC LỤC
PHẦN I. MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 3
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................... 3
2. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu .................................................................................... 3
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu ................................................................................... 4
4. Giả thuyết khoa học..................................................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................ 4
PHẦN II. NỘI DUNG ........................................................................................................ 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .......................................................... 5
1. Tổng quan vấn đề ..................................................................................................... 5
2. Một số mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả học tập của học
sinh/sinh viên [8] .......................................................................................................... 5
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo khẳng định quan điểm: “Phát triển
giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển
mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiế n thức sang phát triển toàn diện năng
lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục
nhà trường kế t hơ ̣p với giáo dục gia đình và giáo du ̣c xã hội. Như vậy, chủ trương của
Đảng cũng như chiến lược phát triển giáo dục khẳng định phải nâng cao chất lượng
giáo dục, trong đó có giáo dục phổ thông – bước khởi đầu cho các bước đào tạo nhân
lực tiếp theo cho đất nước.
Bộ môn Hoá học là một trong những môn khoa học tự nhiên giảng dạy trong
nhà trường, môn khoa học vừa mang tính trừu tượng vừa mang tính thực nghiệm. Đối
tượng hoá học nghiên cứu là các chất, các hạt vi mô không quan sát được bằng mắt
thường. Các cơ chế hoá học cũng được diễn ra ở kích thước vi mô nhưng là những
kiến thức cơ bản cần truyền đạt cho học sinh. Trong những năm qua các thày cô
giảng dạy bộ môn Hóa học đã có nhiều cố gắng trong hoạt động giảng dạy nhằm đưa
đến cho các em những bài học bổ ích nhất, giúp các em có nhiều hiểu biết về tự
nhiên, thực tế cuộc sống liên quan đến hóa học, đặc biệt với học sinh 12 các em sẽ
phải tham gia các cuộc thi mang tính quốc gia như kỳ thi tốt nghiệp THPT, thi vào
các trường Đại học và Cao đẳng. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều em học sinh
chưa thực sự ham thích môn Hóa học, học vẫn mang tính đối phó, học không có động
cơ rõ ràng, không có mục tiêu, không có định hướng.
Từ thực tế giảng dạy nhiều năm qua tại trường THPT Tân Yên số 1, tiếp xúc học
sinh và điều tra khảo sát thông qua nhiều kênh, để làm rõ hơn vấn đề mức độ hài lòng
kết quả học tập môn Hóa học ở trường phổ thông theo các nhân tố khảo sát, tôi thực
hiện đề tài “Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng kết quả học tập
môn Hóa học của học sinh ở THPT Tân Yên số 1”
nhất, quan trọng nhất đến thái độ học tập cũng như kết quả học tập của học sinh đối
với môn Hóa học, từ đó có biện pháp, phương pháp phù hợp hơn trong hoạt động dạy
và học môn hóa học.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: sử dụng phiếu điều tra bảng hỏi
- Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm thống kê SPSS
(Statistical Package for the Social Sciences) để xử lý số liệu thống kê.
Nghiên cứu sơ bộ thực hiện bằng bảng hỏi với 15 học sinh để điều chỉnh
cách sử dụng thuật ngữ thang đo. Nghiên cứu chính thức được thực hiện thông
qua phát phiếu hỏi, thang đo giá trị 4 mức, với kích thước mẫu 168 học sinh để
đánh giá thang đo cũng như kiểm định mô hình lý thuyết và các giả thuyết.
Thang đo được kiểm định bằng phương pháp phân tích hệ số tin cậy
Cronbach alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis).
Mô hình lý thuyết được xây dựng theo phân tích hồi quy đa biến của phần mềm
SPSS 16.0.
6. Những đóng góp mới của đề tài
- Đưa ra cho các cấp quản lý (BGH, Tổ chuyên môn) một cách khái quát về
tình học tập bộ môn Hóa học của học sinh ở trường THPT Tân Yên số 1.
- Đưa ra hàm mục tiêu là Sự hài lòng về kết quả học tập bộ môn Hóa học theo
các nhân tố.
4
PHẦN II. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Tổng quan vấn đề
yếu tố động lực học tập và giáo trình, nội dung môn học có tác động mạnh nhất. Tác
giả Trần Linh Phong (2011) “nghiên cứu ảnh hưởng của phương pháp học tập đến kết
quả học tập của sinh viên trường Đại học trà Vinh” [6] phần lớn sinh viên 61,70%
vẫn học như phương pháp truyền thống, học thuộc lòng, ghi chép bài, do vậy kết quả
thường không cao so với các bạn học linh hoạt, biết trao đổi bài với bạn, với giảng
5
viên; “Tìm hiểu sự mất tập trung trong học tập của sinh viên” của sinh viên Nguyễn
Hồng Minh, Trần Thị Thanh (QH 2008 – S) [5] chỉ ra nguyên nhân chủ quan gồm 4
yếu tố: thiếu phương pháp, kĩ năng học; thiếu ý thức học tập; thiếu động cơ, thấy
buồn chán trong học tập và các nguyên nhân khác như thiếu ngủ, stress, mệt mỏi …
2. Một số mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả học tập của
học sinh/sinh viên [8]
2.1. Mô hình ứng dụng của Bratti và Staffolani
Theo Bratti và Staffolani (2002), kết quả học tập của sinh viên chủ yếu được
xác định bởi thái độ học tập của sinh viên bởi vì sự phân bổ thời gian cho việc học
tùy thuộc vào quyết định của họ. Họ có thể quyết định thời gian tối ưu dành cho
việc tự học và học ở lớp. Gọi Gi là kết quả học tập của sinh viên, phụ thuộc
vào thời gian dành cho việc tự học (Si), thời gian học ở lớp (ai) và năng lực của
người đó (ei): Gi = G(si , ai )ei
Mô hình Bratti và Staffolani đưa ra mối quan hệ giữa đặc điểm của sinh viên
(thời gian tự học Si, thời gian học ở lớp ai, năng lực của người đó ei) với kết quả
học tập (Gi). Nó cho thấy ở mức độ hữu dụng nhất định, kết quả học tập của
sinh viên tùy thuộc vào thời gian tự học, thời gian học ở lớp và năng lực của
sinh viên. Theo phương pháp này, giáo dục vừa là sự tiêu dùng vừa là sự đầu tư
tốt.
Trong mô hình Bratt và Staffolani, đặc điểm của sinh viên đóng vai trò là yếu
tố duy nhất có mối quan hệ trực tiếp đến kết quả học tập của sinh viên. Đây là
ưu điểm của mô hình bởi vì nó nhấn mạnh vai trò quan trọng của yếu tố tự học,
hình tốt để áp dụng cụ thể vào đối tượng học sinh trung học phổ thông.
3. Một số lý thuyết và giả thuyết
3.1. Động cơ, thái độ học tập [13]
Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục
đích tự giác, là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi
và những dạng hoạt động nhất định. Để hình thành hoạt động học cần:
- Hình thành động cơ học tập
- Hình thành mục đích học tập
- Hình thành các hành động học tập
Khi con người có nhu cầu học tập, xác định được mục tiêu cần đạt thì xuất hiện
động cơ học tập. Động cơ học tập được thể hiện ở đối tượng của hoạt động học, tức là
những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo … mà giáo dục đem lại.
Có nhiều cách phân loại động cơ học tập của học sinh: Theo L.I. Bozovik,
A.K.Dusaviski… động cơ học tập của trẻ được phân thành hai loại: động cơ học tập
mang tính xã hội và động cơ mang tính nhận thức. Phát triển quan điểm trên,
A.K.Marcova và V.A.Kruteski cho rằng ngoài hai động cơ trên còn có loại thứ ba:
Động cơ sáng tạo hay động cơ nhận thức mang tính xã hội – đó là mức phát triển cao
nhất của động cơ học tập.
Trong đề tài này chúng ta tìm hiểu động cơ học tập của học sinh dưới góc độ
của tâm lý học hoạt động và động cơ học tập được phân thành hai loại:
Loại thứ nhất: Động cơ hoàn thiện tri thức là mong muốn khao khát chiếm
lĩnh, mở rộng tri thức, say mê với việc học tập…, bản thân tri thức và phương pháp
dành tri thức có sức hấp dẫn, lôi cuốn học sinh. Người có động cơ này luôn nỗ lực ý
chí, khắc phục trở ngại từ bên ngoài để đạt nguyện vọng bên trong.
Loại thứ hai: Động cơ quan hệ xã hội là học sinh học bởi sự lôi cuốn hấp dẫn
của các yếu tố khác như: đáp ứng mong đợi của cha mẹ, cần có bằng cấp vì lợi ích
7
tương lai, lòng hiếu danh hay sự khâm phục của bạn bè, … đây là những mối quan hệ
thân.
Thao tác tư duy thể hiện ở các khía cạnh sau:
Nghe giảng và ghi bài đầy đủ theo cách hiểu của mình: Ghi chép theo cách
hiểu của mình nghĩa là học sinh phải biết sắp xếp và cấu trúc lại những thông tin
nhận được thì mới có khả năng hiểu sâu, nhớ lâu. Ở trên lớp, khi nghe giảng, học
sinh cần tạo thói quen ghi chép bài đầy đủ theo cách hiểu của mình, điều này làm
cho học sinh phải tập trung chú ý đến nội dung bài giảng mà còn thể hiện tính chủ
8
động và biết cách tư duy.
Tóm tắt và tìm ra ý chính khi học: Trong quá trình lĩnh hội một hệ thống tri
thức nào đó, con người tạo ra một nếp suy nghĩ logic và có được những kỹ năng trí
tuệ. Những kỹ năng này ngày càng được hoàn thiện hơn và trở thành một tiền đề
bên trong cần thiết cho việc tiếp thu một hệ thống tri thức khác ở trình độ cao
hơn. H ọc sinh phải biết phân tích, tổng hợp nhằm khám phá ra nội dung cơ bản
và đặc điểm bản chất của đối tượng.
Vận dụng các kiến thức đã học để hoàn thành các nhiệm vụ học tập, rèn kỹ
năng thực hành, thí nghiệm: Học sinh chỉ có thể thực sự lĩnh hội tri thức khi học
sinh có thể phân tích, khái quát tài liệu và rút ra những kết luận cần thiết, chuyển
nhận thức từ hiện tượng sang bản chất. Tri thức và tư duy gắn bó như sản phẩm đi
đôi với quá trình, tri thức được bộc lộ và phát triển trong tư duy. Dựa vào cái đã biết
và nhờ tư duy học sinh phán đoán ra tri thức mới mà biểu hiện rõ nhất qua hành
động so sánh vấn đề đã học với kinh nghiệm bản thân để tìm ra cái mới, tìm
hiểu ý nghĩa của môn học với cuộc sống hàng ngày, rèn luyện các bài tập, thực
hành để làm rõ nội dung bài học…
Hoạt động học tương tác: Sự tương tác giữa giáo viên và học sinh, giữa học sinh
với nhau là điều kiện cần thiết để hiểu sâu sắc vấn đề bài học. Bằng những tương
tác có tổ chức, học sinh sẽ học được cách tự phát biểu, cách lắng nghe, tiếp thu ý
kiến của người khác, đồng thời vẫn thể hiện được quan điểm riêng của mình.
thày, phương pháp học của trò, giúp học sinh tiến bộ và đạt được mục tiêu giáo dục
[8].
Theo Từ điển Tiếng Việt, kiểm tra được hiểu là: Xem xét tình hình thực tế để
đánh giá, nhận xét. Như vậy, việc kiểm tra sẽ cung cấp những dữ kiện, những thông
tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá học sinh. Một số nhà nghiên cứu cho rằng:
“Kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động giáo viên sử dụng để thu thập
thông tin về biểu hiện kiến thức, kỹ năng và thái độ học tập của học sinh trong học
tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá”; Kiểm tra được hiểu theo
nghĩa rộng như là theo dõi quá trình học tập và cũng có thể được hiểu theo nghĩa hẹp
như là công cụ kiểm tra hoặc một bài kiểm tra trong các kỳ thi”; “Việc kiểm tra cung
cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá”.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Đánh giá được hiểu là nhận định giá trị”. “Đánh giá
là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng
hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giáo dục,
làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo nhằm
phát huy kết quả, sửa chữa thiếu sót”.
Đánh giá gồm có 3 khâu chính là: Thu thập thông tin, xử lí thông tin và ra
quyết định. Đánh giá là một quá trình bắt đầu khi chúng ta định ra một mục tiêu phải
theo đuổi và kết thúc khi đưa ra quyết định liên quan đến mục tiêu đó, đồng thời cũng
lại mở đầu cho một chu trình giáo dục tiếp theo. Đánh giḠthực hiện đồng thời 2
chức năng: vừa là nguồn thông tin phản hồi về quá trình dạy học, vừa góp phần điều
chỉnh hoạt động này. Chuẩn đánh giá là căn cứ quan trọng để thực hiện việc đánh giá,
chuẩn được hiểu là yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt được trong việc xem xét chất
lượng sản phẩm.
Việc đánh giá phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây:
Đảm bảo tính khách quan, chính xác: Phản ánh chính xác kết quả như nó tồn
tại trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu đề ra, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của
người đánh giá.
10
vững chắc về mặt tinh thần khi gặp khó khăn, vấp ngã, giúp các em khắc phục trở
ngại, cảm thấy mình không đơn độc. Từ đó sẽ giúp các em có suy nghĩ, hành động
đúng và có trách nhiệm hơn trong học tập.
Theo Sherri Wilson, quản lý cấp cao thuộc Hiệp hội Phụ huynh và Giáo viên
(National Parent Teacher Association - PTA) đã trích dẫn một báo cáo từ Trung tâm
Thống kê Giáo dục Quốc gia Mỹ (NCES) khảo sát trên cùng 25.000 học sinh khi các
em theo học lớp 8, lặp lại ở lớp 10 và 12. Sự phản hồi của học sinh cùng kết quả từ
các cuộc khảo sát đối với phụ huynh và nhà trường, kèm những dữ liệu học tập cho
11
thấy sự quan tâm của cha mẹ đối với việc học hành của các em sẽ giúp điểm trung
bình của các em được cải thiện [11].
Giả thuyết H4: có mối tương tương quan thuận giữa sự quan tâm của thày
cô, gia đình đến mức độ hài lòng kết quả học tập của học sinh.
3.5. Các mối quan hệ xã hội khác, ảnh hưởng của mạng xã hội, internet đến học
sinh
Việt Nam chính thức hòa mạng internet vào tháng 11/1997, sự phát triển của
mạng internet rất nhanh. Theo Ths. Hoàng Thị Thu Hà “Vài nét ảnh hưởng của
internet đến văn hóa đại chúng” tính đến tháng 8/2011 có 34,58% dân số Việt Nam
sử dụng internet; trong nghiên cứu mẫu điều tra 252 học sinh tại Hà Nội vào tháng
5/2011 có tới 96% học sinh có mạng internet ở nhà, 66,7% học sinh sử dụng hầu như
hằng ngày, 27,8% sử dụng vài lần mỗi tuần. Điều đặc biệt là mức độ sử dụng internet
cao hơn hẳn so với phát thanh, truyền hình, nhất là báo giấy.
Theo báo cáo về tình hình Internet tại khu vực Đông Nam Á tính đến cuối
tháng 7/2013 của hãng nghiên cứu thị trường comScore, với 16,1 triệu người dùng
Internet hàng tháng, Việt Nam là quốc gia có dân số trực tuyến lớn nhất tại khu vực
ASEAN. Việt Nam và Thái Lan là 2 quốc gia có lượng người dùng Internet ở độ tuổi
trẻ nhất khu vực, với 42% người sử dụng Internet tại Việt Nam ở độ tuổi 15-24, và ở
Thái Lan tỷ lệ tương ứng là 45% [14].
n = kích cỡ mẫu được tính
z = 1,96 khi lấy mức độ tin cậy 95%
p = 0,5 ước tính phần trăm trong tập hợp.
q = (1-p)
e = sai số, lấy sai số 5% (e = 0,05)
thay vào công thức tính được giá trị nguyên cỡ mẫu là n = 138.
Trong thực tế nghiên cứu, lấy mẫu ngẫu nhiên mỗi lớp 12 học sinh trong tổng
14 lớp làm phiếu khảo sát và có tính đến tỷ lệ về giới trong mỗi lớp, tổng số học sinh
tham gia làm phiếu khảo sát là 12 x 14 = 168. Như vậy, số lượng mẫu 168 thỏa mãn
lượng mẫu nghiên cứu.
3. Mô tả mẫu
Với 168 phiếu hỏi phát ra cho học sinh khối 12 theo phương pháp chọn mẫu
ngẫu nhiên, thu về 168 phiếu, đã loại ra 35 phiếu không hợp lệ do trả lời không trung
thực, trả lời một số ý không chuẩn và để trống nhiều phần. Số lượng mẫu cuối cùng
cần xử lý là 133.
4. Qui trình nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo hai bước, bước một là nghiên cứu sơ bộ bằng
định tính, bước hai là nghiên cứu chính thức bằng định lượng.
- Nghiên cứu sơ bộ định tính thông qua phương pháp phỏng vấn với 15 học sinh
và phát bảng hỏi thăm dò cho 15 học sinh lớp 12A6. Nghiên cứu này dùng để đánh
giá cách sử dụng thuật ngữ trong bảng câu hỏi để điều chỉnh một số thuật ngữ cho
thích hợp trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng chính thức.
- Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp định lượng thông
qua bảng hỏi. Kích thước mẫu của nghiên cứu này là 168 học sinh, đánh giá thang đo
bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA và thông qua hệ số tin cậy
Cronbach alpha. Xây dựng mô hình lý thuyết sự phụ thuộc mức độ hài lòng kết quả
học tập môn Hóa học theo các nhân tố xác định được từ các bước trên.
5. Phân tích số liệu
Sau khi thu được dữ liệu thông qua bảng hỏi, tiến hành phân tích kết quả bằng
phần mềm thống kê SPSS (Statistical Package for the Social Sciences).
(%)
(Tổng %)
Valid Em học môn Hóa học là bắt buộc phải học vì có trong chương trình
8
6.0
6.0
Em học môn Hóa học có cũng được, không có môn học cũng được
6
4.5
10.5
53
39.8
50.4
66
49.6
với bạn điều này cho thấy gần một nửa số học sinh thụ động trong học tập môn Hóa
học; sự thụ động này rõ hơn trong thảo luận vấn đề học tập với giáo viên bộ môn.
Tranh biện với thày cô: Con số thường xuyên và rất thường xuyên tham gia thảo
luận, tranh luận vấn đề học tập với thày cô giáo chỉ là 15,1%, con số rất khiêm tốn;
trong khi đó 67,7% trả lời là thi thoảng mới tranh luận với thày cô, từ đó có thể thấy
học sinh còn e dè, tâm lý e ngại trong thảo luận với thày cô.
Tham gia thực hành môn học: Một trong các hoạt động chủ đạo của môn Hóa học
là hoạt động thực hành, tham gia thí nghiệm, với câu hỏi này thì có đến 20,3% trả lời là
không bao giờ, 51,9% trả lời là thi thoảng; thường xuyên và rất thường xuyên chiếm
27,8%. Như vậy, chỉ một bộ phận học sinh là chăm chỉ làm thí nghiệm, phần lớn còn lại
quan sát bạn làm.
Biểu đồ 3
Em nghe thày cô giảng và ghi chép đầy đủ: Chỉ có 4,5% trả lời là ngồi trong lớp
em không nghe giảng và không ghi chép bài đầy đủ điều đó cho thấy đại đa số học
sinh ngồi học nghiêm túc, ghi chép bài đầy đủ, có ý thức học tập.
Tính chuyên cần của học sinh còn thể hiện ở việc chuẩn bị bài trước khi đến
lớp, học và làm bài tập trước khi đến lớp với tỷ lệ 14,3% rất thường xuyên, 64,7% là
thường xuyên; còn lại 21,1% là chưa chăm chỉ, ít khi chuẩn bị bài trước khi đến lớp
chiếm đến 1/4 số học sinh được hỏi.
15
3.2. Tự học của học sinh
Trong thi và kiểm tra hiện nay đang áp dụng hình thức trắc nghiệm khách
quan, đề thi và kiểm tra có nhiều câu nhiều dạng, nhiều nội dung, để làm bài tốt thì
yêu cầu bắt buộc học sinh phải đọc nhiều, hiểu rộng nên vấn đề tham khảo và tự lực
học tập đặt lên hàng đầu. Với lần lượt 39,8% và 12,8% trả lời là thường xuyên và rất
thường xuyên tự phân dạng bài tập hóa học cho thấy học sinh tương đối chủ động
(Phần trăm) (%)
Valid Percent
Cumulative Percent (Tổng %)
< 10%
29
21.8
21.8
21.8
15%
26
19.5
19.5
41.4
25%
27
100.0
Total
Với câu hỏi “Do môn Hóa thi Cao đẳng, Đại học và kiểm tra trên lớp theo hình
thức trắc nghiệm, nên em thấy nhiều bạn trong lớp trở lên lười học, ỷ lại các bạn khá
giỏi chiếm khoảng bao nhiêu phần trăm” thể hiện bảng 2.
16
Câu trả lời không hội tụ phản ánh sự phân hóa trong học sinh, có thể học sinh
trả lời chưa trung thực. Nhìn chung, tính trung bình là 1/4 trong số học sinh được hỏi
cho là có từ 25 % trở lên học sinh ỷ lại vào các bạn khá giỏi, lười học. Số lượng học
sinh ỷ lại các bạn khá giỏi khi kiểm tra nhiều hơn với các lớp được coi là đầu dưới
hay các lớp có rất ít học sinh thi các khối thi có môn Hóa học.
5. Quan hệ giữa giáo viên, cha mẹ và học sinh
Sự quan tâm của giáo viên đến học sinh có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập,
các em thấy mình được quan tâm, giúp đỡ và quan hệ giữa thày cô và học trò bớt
khoảng cách, gần gũi hơn, thân thiện hơn; với tỷ lệ 33,8% và 12,8% lần lượt trả lời
thày cô thường xuyên và rất thường xuyên quan tâm đến học sinh, vẫn còn tỷ lệ
không nhỏ 47,4% thày cô ít quan tâm đến việc học của các em.
Nhưng các em lại đánh giá các thày cô có thái độ nghiêm túc khi lắng nghe ý
kiến của các em, vui vẻ dễ gần với tổng tỷ lệ đánh giá là 85,0%, trong đó 47,4% là
thường xuyên và 37,6% là rất thường xuyên thày cô lắng nghe ý kiến của học sinh,
vui vẻ dễ gần.
Đối với các bậc phụ huynh thì mối quan tâm dành cho con cái của họ là 44,4%
và 25,6% lần lượt là thường xuyên và rất thường xuyên hỏi han, quan tâm đến học
hành của con cái, nhưng vẫn còn nhiều bậc phụ huynh chưa dành thời gian nhiều cho
con với tỷ lệ 26,3% và 3,8 % học sinh được hỏi là cha mẹ ít khi và không bao giờ hỏi
đến việc học của con cái họ.
8. Tự nhận về cách học, kết quả và mức độ hài lòng kết quả môn Hóa học
Biểu đồ 4
Kết quả thu được cho thấy học sinh phần nhiều vẫn còn chưa chăm chiếm đến
57,9%, tuy nhiên kết quả thu được là trung bình hoặc khá cho đối tượng này là
48,9%, điều đó cho thấy việc kiểm tra chỉ theo hình thức trắc nghiệm vẫn còn mặt
hạn chế, mặt hạn chế này về khách quan là số lượng học sinh trong lớp đông, ngồi rất
gần nhau, khó kiểm soát; về chủ quan còn do chất lượng đề kiểm tra, số lượng đề
trong mỗi lần kiểm tra vẫn còn những hạn chế nhất định; chủ quan của giáo viên còn
nới ná đối với học sinh cuối cấp.
Trong bảng hỏi về mức độ hài lòng kết quả học tập môn Hóa học, kết quả biểu
đồ 4 có đến 66,9% học sinh chưa hài lòng về kết quả học tập của mình; Số học sinh
rất hài lòng chiếm khiêm tốn 2,3%, hài lòng là 24,8%.
18
Chương 4 PHÂN TÍCH NHÂN TỐ - PHƯƠNG TRÌNH HỒI QUI ĐA BIẾN
1. Mô hình sử dụng
Sử dụng mô hình hồi qui đa biến trong phần mềm SPSS 16.0 để xử lý số liệu
đầu vào qua các nhân tố sau khi phân tích EFA, với giả thuyết mô hình như sau:
Nhóm 1: Động cơ, thái độ học tập
Nhóm 2: Phương pháp học tập
Nhóm 3: Kiểm tra, đánh giá và thi theo
hình thức trắc nghiệm
Mức độ hài lòng kết
phục vụ mục đích nghiên cứu. Các biến còn lại đưa vào phần mềm chạy kiểm định
thang đo Cronbach’s Alpha thu được kết quả
Bảng 3. Reliability Statistics
Cronbach's Alpha
N of Items
.740
31
Và bảng dự đoán hệ số alpha khi bỏ đi một vài yếu tố:
Bảng 4. Item-Total Statistics
Cronbach's
Scale Mean if
Item Deleted
Scale Variance if Corrected ItemItem Deleted
Total Correlation
Alpha if Item
Deleted
Thông tin chung
76.0000
64.530
-.120
.730
74.9699
58.151
.480
.721
75.6090
58.073
.526
.719
75.0902
58.674
.372
.726
74.7068
60.345
60.657
.270
.733
75.2406
59.881
.305
.730
Em nghe thày cô giảng và ghi chép đầy đủ
74.0827
60.986
.253
.734
Em tham gia phát biểu, xây dựng bài trên lớp
74.9624
58.597
56.043
.535
.714
75.0301
55.757
.508
.715
Trao đổi, thảo luận với bạn để giải quyết vấn đề
học tập nào đó
Trao đổi, thảo luận với thày cô để giải quyết vấn
đề học tập nào đó
Thày cô hỏi han, quan tâm đến việc học của các
em
Cha mẹ quan tâm, hỏi, kiểm tra việc học của em
Thày cô dạy theo đúng SGK, dễ hiểu, dễ vận
dụng làm bài tập, có vận dụng liên hệ thực tế,
giải thích và mở rộng kiến thức
Thày cô nhiệt tình giảng dạy, sáng tạo, tìm tòi
cái mới trong giảng dạy, tạo không khí hứng thú
học tập, gắn lý thuyết với thực hành
Thày cô lắng nghe ý kiến của học sinh, có thái
độ vui vẻ, dễ gần
61.533
.176
.737
75.3308
64.087
-.066
.749
74.6917
66.442
-.200
.783
75.6692
62.435
.040
.748
.256
.733
Tự nhận về cách học và kết quả thu được
75.2331
58.938
.384
.726
Mức độ hài lòng về kết quả học môn Hóa học
75.3910
59.407
.449
.725
được phải hỏi bạn đáp án
Em học, chuẩn bị kiến thức cho kiểm tra, thi cử
Đề thi, kiểm tra Hóa học có nhiều câu, nhiều
dạng, nhiều nội dung, em làm bài không tốt?
Do môn Hóa thi Cao đẳng, Đại học và kiểm tra
trên lớp theo hình thức trắc nghiệm, nên em
trong thống kê sử dụng phân tích KMO và Barlet, kết quả thu được theo bảng 6:
Bảng 6. KMO and Bartlett's Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.
Bartlett's Test of Sphericity
Approx. Chi-Square
.781
790.098
Df
190
Sig.
.000
21
Kết quả phân tích cho thấy trị số KMO là 0,781 phù hợp cho phân tích nhân tố
với tập dữ liệu khảo sát (giá trị thông thường KMO > 0,75) với 21 biến thỏa mãn đưa
vào mô hình phân tích.
Ngoài ra, giá trị kiểm định Bartlett’s test với giả thuyết là (H0) là “các biến
không tương quan với nhau” bằng 790,098 với mức ý nghĩa thống kê dưới 1%, kết
quả đó đã bác bỏ giả thuyết trên đồng nghĩa với việc các biến có tương quan với nhau
và việc áp dụng phân tích nhân tố là thích hợp.
Bảng 7. Total Variance Explained (Khả năng giải thích tổng thể của các biến)
Initial Eigenvalues
%
1
5.184
25.921
25.921
5.184
25.921
25.921
3.774
18.870
18.870
2
1.864
9.320
35.240
37.771
4
1.335
6.676
49.475
1.335
6.676
49.475
1.615
8.074
45.846
5
1.242
6.211
55.686
60.007
7
1.031
5.154
66.509
1.031
5.154
66.509
1.300
6.502
66.509
8
.889
4.445
70.954
84.551
13
.574
2.870
87.421
14
.532
2.660
90.081
15
.483
2.413
92.494
16
.375
.231
1.156
100.000
Extraction Method: Principal Component Analysis.
Trong bảng 7, với các nhân tố có giá trị Eigenvalue > 1 được giữ lại ta thu
được 7 nhân tố và khả năng giải thích được đối với giả thuyết của mô hình là
66,509%, phần trăm giải thích còn lại do nhiều yếu tố khác tạo ra.
22
Thực hiện xoay nhân tố ma trận ta có kết quả trong bảng 8 như sau:
Bảng 8. Rotated Component Matrixa (Ma trận xoay nhân tố)
Component (Nhân tố)
Các biến (yếu tố) độc lập
F1
Tham khảo tài liệu khác liên quan đến môn Hóa học
.762
Cảm nhận khi học môn Hóa học
.685
Cách em học, chuẩn bị kiến thức cho kiểm tra, thi cử
Trao đổi, thảo luận với thày cô để giải quyết vấn đề học
F2
.568
.557
.811
.768
Thày cô nhiệt tình giảng dạy, sáng tạo, tìm tòi cái mới
trong giảng dạy, tạo không khí hứng thú học tập, gắn lý
.649
thuyết với thực hành
Em tham gia phát biểu, xây dựng bài trên lớp
Em tự mình làm thí nghiệm thực hành, quan sát tranh
ảnh, thí nghiệm trong SGK hoặc trên bảng
.757
.744
Cha mẹ quan tâm, hỏi, kiểm tra việc học của em
.804
F1: Tính tự giác, tích cực chủ động trong học tập và sự hứng thú học môn Hóa
học của học sinh;
F2: Sự thân thiện, công tâm và tâm huyết với nghề của thày cô;
F3: Học lý thuyết gắn với thực hành;
F4: Sự quan tâm của Gia đình và Thày cô đến học sinh;
F5: Sự chuyên cần học tập môn Hóa học;
F6: Động cơ học tập môn Hóa học;
F7: Sự ảnh hưởng của công nghệ hiện đại (điện thoại di động, mạng
internet…);
Các nhóm yếu tố trong mô hình đề xuất tương ứng với các nhân tố thu được là:
Nhóm 1: Động cơ, thái độ học tập (F6)
Nhóm 2: Phương pháp học tập (F1, F3, F5)
Nhóm 3: Kiểm tra, đánh giá và thi theo hình thức trắc nghiệm (F2)
Nhóm 4. Các mối quan hệ (Quan hệ giữa thày cô và học sinh; Quan hệ cha mẹ và học
sinh; Quan hệ học sinh và học sinh) (F2, F4)
Nhóm 5: Ảnh hưởng môi trường xã hội, mạng internet, mạng xã hội (facebook…)
(F7)
Phương trình xác định các nhân tố:
F1 = 0,762 x Tham khảo tài liệu khác liên quan đến môn Hóa học + 0,735 x
Cảm nhận khi học môn Hóa học + 0,685 x Tự phân dạng các bài tập, giải bài tập theo
chuyên đề hóa học + 0,669 x Trao đổi, thảo luận với bạn để giải quyết vấn đề học tập
nào đó + 0,604 x Cách em học, chuẩn bị kiến thức cho kiểm tra, thi cử + 0,597 x Tự
nhận về cách học và kết quả thu được + 0,568 x Trao đổi, thảo luận với thày cô để
giải quyết vấn đề học tập nào đó + 0,557 x Tâm lý tham gia học tập môn Hóa.
F2 = 0,811 x Thày cô lắng nghe ý kiến của học sinh, có thái độ vui vẻ, dễ gần
+ 0,768 x Thày cô công bằng, nghiêm túc trong kiểm tra đánh giá + 0,649 x Thày cô
nhiệt tình giảng dạy, sáng tạo, tìm tòi cái mới trong giảng dạy, tạo không khí hứng
thú học tập, gắn lý thuyết với thực hành.
trẻ. Có sự quan tâm của gia đình sẽ là động lực, là chỗ dựa của các em trong sự phát
triển về tâm sinh lý của tuổi mới lớn.
Đối với nhân tố thứ 5 (F5): Sự chuyên cần học tập môn Hóa học) yếu tố có
trọng số cao hơn là học sinh nghe thày cô giảng và ghi chép đầy đủ, đây là căn cứ, là
cơ sở để học sinh hiểu bài, có thể học và làm bài tập Hóa học.
Đối với nhân tố thứ 6 (F6): Động cơ học tập môn Hóa học) là yếu tố độc lập,
có tính quyết định đến kết quả học tập của học sinh và sự hài lòng về kết quả môn
Hóa học. Học sinh có động cơ học tập đúng sẽ có được định hướng đúng, tìm ra được
phương pháp hiệu quả, phù hợp với bản thân học sinh đó; trong đó, động cơ học tập
loại 1 (Em học môn Hóa học để mở rộng và hoàn thiện tri thức của mình) được đề
cao hơn là động cơ loại 2 (Em học môn Hóa học để đáp ứng mong đợi của cha mẹ,
nhu cầu bản thân để thi ĐH, cần có bằng cấp vì lợi ích tương lai).
Đối với nhân tố thứ 7 (F7): Sự ảnh hưởng của công nghệ hiện đại (điện thoại di
động, mạng internet…)) yếu tố có trọng số cao hơn chính là việc học sinh sử dụng
điện thoại di động (trọng số 0,848), hơn hẳn trọng số 0,708 của yếu tố học sinh bị ảnh
hưởng bởi các thông tin trên mạng internet. Vấn đề học sinh sử dụng điện thoại cũng
đã được bàn luận, đề cập nhiều trong đời sống, nhất là học sinh sử dụng điện thoại
vào các mục đích giải trí, vào mạng xã hội, chat, gian lận trong thi cử hơn là phục vụ
học tập.
Phương trình hồi qui cho mô hình dự đoán theo các nhân tố sau phân tích EFA:
Y = α + β1. F1 + β2. F2 + β3. F3 + β4 . F4 + β5. F5 + β6. F6 + β7 . F7
(với Y = Sự hài lòng kết quả học tập môn Hóa học)
4. Xác định mô hình lý thuyết (phương trình hồi quy tuyến tính đa biến)
Kết quả chạy hồi qui tuyến tính đa biến bằng SPSS, sử dụng phương pháp hồi
qui Stepwise selection (đưa vào các nhân tố và loại trừ dần theo điều kiện cho trước)
thu được kết quả bảng 9:
25